Nhận xét tình trạng bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 63 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Bé y tÕ Trêng ®¹i häc y hµ Néi ------------ Cao thÞ hoµng yÕn NhËn xÐt t×nh tr¹ng bÖnh quanh r¨ng ë bÖnh nh©n t©m thÇn ph©n liÖt t¹i bÖnh viÖn t©m thÇn trung ¬ng LuËn v¨n th¹c sü Y HäC hµ néi – 2012 2 Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Bé y tÕ Trêng ®¹i häc y hµ Néi ------------ Cao thÞ hoµng yÕn NhËn xÐt t×nh tr¹ng bÖnh quanh r¨ng ë bÖnh nh©n t©m thÇn ph©n liÖt t¹i bÖnh viÖn t©m thÇn trung ¬ng Chuyªn ngµnh : R¨ng Hµm MÆt M· sè : 60.72.28 LuËn v¨n th¹c sü Y HäC Ngêi híng dÉn khoa häc: PGS.TS. §ç Quang Trung ] hµ néi - 2012 3 LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm chỉ bảo, giúp đỡ tận tình, sự động viên khích lệ của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, các cơ quan và gia đình. - Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS. Đỗ Quang Trung, người thầy đã giúp cho tôi có niềm say mê học tập, phấn đấu vươn lên, đã hướng dẫn tận tình, động viên tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình nghiên cứu. - Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trương Mạnh Dũng, PGS.TS. Nguyễn Kim Việt, PGS. TS. Trịnh Đình Hải, TS. Nguyễn Mạnh Hà, TS. Trịnh Thị Thái Hà, TS. Tống Minh Sơn, là những người thầy đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này. - Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương, Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã cho phép tôi được học tập và nghiên cứu thành công luận văn này. Đặc biệt tôi vô cùng cảm ơn bố, mẹ, chồng, con và các anh chị em tôi đã hết lòng giúp đỡ về tinh thần, chia sẻ mọi khó khăn giúp tôi đạt được thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học. Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn. Hà Nội, tháng 11 năm 2012 BS. Cao Thị Hoàng Yến 4 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Hà Nội, tháng 11 năm 2012 BS. Cao Thị Hoàng Yến 5 CÁC CHỮ VIẾT TẮT CI- S: Calculus index- Simplified- Chỉ số cao răng đơn giản. CPITN: Community Periodontal Index of Treatment NeedsChỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng. CS: Cộng sự. DI-S: Debris Index- Simplified- Chỉ số cặn bám đơn giản. GI: Gingival Index- Chỉ số lợi. OHI-S: Oral Hygiene Index- Simplified- Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản. SKRM: Sức khỏe răng miệng. TTPL: Tâm thần phân liệt. THCS: Trung học cơ sở. THPT: Trung học phổ thông. VQR: Viêm quanh răng. VSRM: Vệ sinh răng miệng. WHO: World Health Organization- Tổ chức y tế thế giới. 6 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh quanh răng là một trong hai bệnh vùng răng miệng mà theo WHO là hiểm họa thứ ba của loài người sau các bệnh ung thư và tim mạch [31]. Theo điều tra của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì bệnh vùng quanh răng gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt với hơn 70% số người trưởng thành ở các nước mắc bệnh này và không có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh giữa những nước phát triển và nước đang phát triển. Bệnh lý vùng quanh răng rất phức tạp và bao gồm hai tổn thương chính: Tổn thương viêm và tổn thương thoái hóa. Giai đoạn đầu, quá trình viêm gây hôi miệng, chảy máu lợi khi đánh răng hoặc chảy máu tự nhiên, dần dần răng di lệch, thưa ra, tụt lợi, hở cổ chân răng gây ê buốt. Giai đoạn nặng, tổ chức quanh răng bị phá hủy nhiều làm răng lung lay, sức nhai kém và cuối cùng gây mất răng, ảnh hưởng nhiều tới thẩm mỹ và phát âm của bệnh nhân. Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh khá phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới, Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2002), tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần phân liệt chiếm khoảng 0,48 - 0,69% dân số và mỗi năm cứ 10000 người dân từ 12 đến 60 tuổi có một người mắc tâm thần phân liệt [17], [44]. Tại Việt Nam, theo Trần Văn Cường (2002) tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt chiếm khoảng 0,3 - 1% dân số [2]. Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng có xu hướng tiến triển mạn tính, làm suy giảm nặng nề các chức năng tâm thần, mất đi khả năng lao động và làm tan rã nhân cách của người bệnh dẫn đến sa sút trí tuệ. Bệnh nguyên, bệnh sinh của bệnh cho đến nay vẫn chưa được hiểu biết rõ ràng. Những biểu hiện của bệnh gồm các triệu chứng rối loạn về tư duy, hành vi, nhận thức, cảm xúc, tri giác...Triệu chứng đặc trưng của bệnh là tính bị động , bị chi phối trong các biểu hiện loạn thần như hoang tưởng, ảo giác và 7 một số các triệu chứng âm tính... mà hậu quả của nó là khó khăn trong việc giao tiếp với mọi người xung quanh, sự tan rã sâu sắc nhân cách và suy giảm nhận thức của người bệnh, làm họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. [15], [27]. Bệnh răng miệng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thường phức tạp hơn vì những rối loạn tâm thần khiến họ thay đổi hành vi, không quan tâm đến sức khỏe nói chung và răng miệng nói riêng, cũng như hình thành thói quen xấu trong vệ sinh răng miệng hoặc không vệ sinh răng miệng. Ngoài ra, liệu pháp điều trị như việc dùng các loại thuốc chống động kinh,.. trong một thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ và thời gian mắc bệnh răng miệng [70]. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt có tỷ lệ bệnh viêm quanh răng cao hơn, vệ sinh răng miệng kém hơn và bị khô miệng thường xuyên hơn so với những người khác [39] [64]. Hiện nay ở nước ta những công trình nghiên cứu bệnh quanh răng trên bệnh nhân tâm thần còn rất ít. Để có số liệu cho các hoạt động chăm sóc răng miệng cho đối tượng này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét tình trạng bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương”, với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương. 2. Đánh giá nhu cầu điều trị bệnh quanh răng ở các đối tượng trên. Trên cơ sở kết quả thu được đề xuất các biện pháp thích hợp cho việc chăm sóc răng miệng cho các bệnh nhân tâm thần phân liệt. 8 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. BỆNH QUANH RĂNG Viêm quanh răng là bệnh có từ lâu đời, qua các nghiên cứu trên sọ cổ thấy bệnh đã có từ 3.000 năm trước công nguyên. Từ cuối thế kỷ 19 nhiều công trình nghiên cứu về bệnh này đã được tiến hành và ngày càng có những bước tiến quan trọng ở nhiều lĩnh vực: dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, các phương pháp chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh. Về dịch tễ học: VQR đã được nghiên cứu một cách hệ thống bắt đầu từ những năm 40 của thế kỷ trước: Masshall (1944) điều tra ở Ấn độ, Shwor và MosFler (1950) điều tra ở Ý [31]. Những cố gắng của các nhà lâm sàng cho thấy giá trị của dịch tễ học trong việc tìm hiểu bệnh và đi đến kết luận rằng: VQR là 1 bệnh rất phổ biến, tỷ lệ bệnh tăng dần theo tuổi và nếu giữ vệ sinh răng miệng tốt thì tỷ lệ bệnh giảm nhiều. 1.1.1. Cơ chế sinh bệnh quanh răng Từ lâu người ta đã nhận thấy các ảnh hưởng qua lại phức tạp của yếu tố toàn thân, tại chỗ cũng như ngoại cảnh đối với sự hình thành và phát triển của bệnh quanh răng. Trong những năm 1960 đa số các giả thuyết cho rằng VQR là do nguyên nhân toàn thân và yếu tố tại chỗ (tại chỗ là vi khuẩn và sang chấn khớp cắn). Vai trò của vi khuẩn với các men của nó là mắt xích đầu tiên trong quá trình phá hủy tổ chức quanh răng: Green (1960), Ramfjord (1961) và Loe (1965) đã chứng minh ảnh hưởng của mảng bám răng tới viêm lợi [22]. Rosling (1976) cũng kết luận: nếu kiểm soát được mảng bám răng và vệ sinh răng tốt bệnh sẽ ổn định, xương ổ răng bị tổn thương sẽ được phục hồi [8]. 9 Ngày nay người ta nhấn mạnh vai trò của vi khuẩn trong mảng bám răng và sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể, đây là hai yếu tố chính khởi phát bệnh quanh răng. Ngoài ra người ta còn thấy yếu tố làm bệnh nặng thêm như sang chấn khớp cắn hoặc những bệnh toàn thân khác trong một số hội chứng [22]. Các yếu tố toàn thân liên quan tới VQR: bệnh đái tháo đường, xơ gan, bệnh nội tiết, bệnh tim mạch và cả những điều kiện khác như hình thể, vị trí răng, bất bình thường của cung răng, những sai sót trong điều trị trong đó bệnh đái tháo đường có liên quan rất mật thiết đến bệnh VQR. 1.1.1.1. Mảng bám răng (MBR) - Cấu tạo: MBR bản chất là vi khuẩn, trung bình 1mm 3 có 108 vi khuẩn gồm 200 loại khác nhau có loại đã biết nhưng có loại chưa biết. Mảng bám hoàn chỉnh sau 14-21 ngày có khả năng gây bệnh. - Những loại vi khuẩn liên quan tới các thể bệnh viêm lợi và VQR: + Bacteroides Intermedius + Actinobacillus Actinomycetemcomitans + Capnocytophage + B. gingivalis - Chất gian khuẩn là chất tựa để vi khuẩn sống và phát triển bao gồm: axít hữu cơ, đường và các protein. - Theo vị trí người ta chia mảng bám răng thành hai loại: trên lợi và dưới lợi:  MBR trên lợi: lúc đầu mới hình thành mảng bám trên lợi có ít vi khuẩn chỉ có nhiều tế bào bong ra của niêm mạc miệng, đầu tiên là 90% cầu khuẩn gram (+), 10% là cầu khuẩn gram (-), dần dần tỷ lệ này thay đổi. Sau 13 tuần, tỷ lệ trực khuẩn và cầu khuẩn gram (-) bằng các loại gram (+), tỷ lệ vi khuẩn yếm khí và trực khuẩn gram (-) tăng. 10  MBR dưới lợi: là mảng bám hình thành ở dưới lợi. Theo một số tác giả: khi lợi phù nề do viêm, nó phủ một phần MBR để trở thành MBR dưới lợi, nó phát triển độc lập với sự tham gia của dịch rỉ viêm, làm thức ăn cho vi khuẩn phát triển, vi khuẩn yếm khí ngày càng tăng, đánh răng lúc này không còn kết quả. Tuy chưa biết hết các loại vi khuẩn nhưng người ta cũng đã thấy trong VQR có nhiều vi khuẩn gram (-) và một số vi khuẩn đặc biệt gây bệnh. - MBR và vai trò của nó trong bệnh sinh quanh răng: MBR thực chất là màng vi khuẩn gây hại vùng quanh răng bởi hai cơ chế tác động: + Tác động trực tiếp: các sản phẩm chuyển hoá trong quá trình sống của vi khuẩn là các men và nội độc tố. Men làm mềm yếu sợi keo, phân hủy tế bào, làm bong rách biểu mô dính dẫn đến viêm. Nội độc tố kích thích tiết Prostaglandine làm tiêu xương. + Tác động gián tiếp: vi khuẩn và chất gian khuẩn đóng vai trò kháng nguyên, gây bệnh bằng cơ chế miễn dịch tại chỗ. Vi khuẩn và chất gian khuẩn kích thích tổ chức huy động hệ thống miễn dịch. Sản phẩm từ Lymphocyte và những yếu tố hoạt hóa đại thực bào làm phá hủy tổ chức quanh răng [8]. Những vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích làm khởi động hoạt hóa những cơ chế miễn dịch (Miễn dịch dịch thể, miễn dịch qua trung gian tế bào), hoặc ức chế phòng vệ của túc chủ. Trong tác động gián tiếp hệ thống miễn dịch tế bào đóng vai trò liên quan trực tiếp đến phản ứng viêm vùng quanh răng và phản ứng viêm được biết rõ nhất bằng tỷ lệ protein C phản ứng tăng cao trong huyết thanh [40] 1.1.1.2. Cao răng Hình thành từ quá trình vô cơ hóa MBR hoặc do sự lắng cặn muối canxi trên bề mặt răng, cổ răng. Là tác nhân gây hại sau MBR, theo vị trí bám có hai loại cao răng: trên lợi và dưới lợi. 11 - Cao răng trên lợi: có màu vàng hoặc nâu xám, thường có ở những răng cạnh lỗ tuyến nước bọt, mặt ngoài răng 6-7 hàm trên, mặt trong nhóm răng cửa và răng 6 hàm dưới. - Cao răng dưới lợi: nhìn rõ khi lợi bong ra khỏi cổ răng, màu xám, bám chắc vào răng, có thể nhìn thấy qua lợi, ánh sáng đèn và phim sau ổ răng. 1.1.1.3. Vi khuẩn trong mảng bám răng Vai trò gây bệnh của vi khuẩn trong mảng bám răng đã được chứng minh từ những công trình gây viêm thực nghiệm của Loe (1965). Đây là nguyên nhân chủ yếu gặp hầu hết trong các bệnh quanh răng. Qua nhiều năm nghiên cứu các quần thể khác nhau trên thế giới thấy rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa MBR (hay mảng bám vi khuẩn) với tỷ lệ bệnh quanh răng và mức độ trầm trọng của bệnh. Cho đến nay bệnh viêm lợi và VQR phải được coi như là những bệnh nhiễm khuẩn (Page và Schroeder 1992), trong đó mỗi bệnh được đặc trưng bởi sự chiếm ưu thế của một hay nhiều vi khuẩn đặc hiệu: - VQR cấp ở người trẻ: + Actinobacillus Actinomycetemcomitans (Slots và cộng sự 1976) + Bacteroides Gingivalis (Tanner và cộng sự 1979) + Eikenella Corrodens (Mandel 1984) - VQR tiến triển nhanh: + Bacteroides Gingivalis + Bacteroides Fusiforme + Spirochete (Tanner và cộng sự 1979) - VQR ở người lớn thể nặng: Actinobacillus Actinomyces Temcomitans, Bacteroides Gingivalis, Bacteroides Intermedius (Slots 1976). - Viêm lợi loét hoại tử: Treponema, Bacteroides Intermedius, Fusobacterium, Selenomonate (Locsche và cộng sự 1980) 1.1.1.4. Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể [23] 12 Tuy những vi khuẩn tác động tại chỗ nhưng theo sự khác nhau trong phản ứng của cá thể, có khi cùng một lượng mảng bám răng cũng sẽ gây ra những mức độ viêm khác nhau ở những cá thể khác nhau. Hiện nay sức đề kháng của vùng quanh răng chúng ta hiểu như là khả năng của tổ chức quanh răng chống lại sự phát sinh của MBR bao gồm: - Sự sắp xếp giải phẫu của vùng quanh răng là tối ưu nhất. - Phản ứng miễn dịch của vùng quanh răng là có tác dụng và có ý nghĩa nhất trong sự bảo vệ các phương tiện quanh răng chống MBR. Phản ứng miễn dịch bao gồm: đặc hiệu và không đặc hiệu [22]. 1.1.2. Phân loại bệnh viêm lợi và viêm quanh răng [21], [6] Phân loại bệnh quanh răng là cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị. Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả phân loại: năm 1884 Rhein đưa ra phân loại đầu tiên, sau này Hội răng miệng Quốc tế năm 1931 (F.D.I-Federation Dentaire International) và Hội nghiên cứu bệnh quanh răng được thành lập (ARPA-Association Pour Les Paradontopathies) và đã đưa ra phân loại bệnh quanh răng năm 1988, phân loại của viện hàn lâm bệnh quanh răng Mỹ AAP năm 1986 (American Academy of Periodontology). Hiện nay trên lâm sàng chủ yếu sử dụng phân loại bệnh quanh răng của WHO năm 1999: A. Bệnh ở lợi  Các bệnh viêm lợi do MBR: - Viêm lợi do MBR đơn thuần. - Viêm lợi do MBR phối hợp với các yếu tố toàn thân: Nội tiết, bệnh máu,.. - Viêm lợi do thuốc. - Viêm lợi do thiếu dinh dưỡng: thiếu Vitamin C,..  Các bệnh ở lợi không do MBR: 13 - Do vi khuẩn đặc hiệu: Neiseseria gonorrhe, Treponia pallidium,... - Do virus: herpes,.. - Do nấm: Candida,.. - Do di truyền: U lợi xơ dạng lông. -Do bệnh toàn thân biểu hiện ở lợi: dị ứng,.. - Do sang chấn. - Phản ứng kháng nguyên. B. VQR mạn tính: Khu trú, toàn bộ. C. VQR tiến triển nhanh: Khu trú, toàn bộ. D. VQR là biểu hiện của bệnh toàn thân: Bệnh máu, bệnh liên quan đến thay đổi gen. E. Hoại tử quanh răng: Viêm lợi loét hoại tử, viêm quanh răng loét hoại tử. F. Apxe quanh răng: Apxe lợi, apxe quanh răng. G. VQR phối hợp với tổn thương nội nha H. Dị dạng bẩm sinh hay mắc phải:  Yếu tố tại chỗ tăng MBR: Giải phẫu, chất hàn răng,..  Dị dạng niêm mạc: Giảm độ sâu ngách tiền đình, bất thường phanh môi, má,...  Biến dạng lợi- niêm mạc và bờ xương ổ răng: Thiếu chiều cao xương ổ răng, tăng sản lợi,...  Sang chấn khớp cắn. 1.1.3. Các chỉ số đánh giá tình trạng quanh răng [23] Cho tới nay để đánh giá và quản lý bệnh quanh răng, các chỉ số được sử dụng rộng rãi trên thế giới là [23]: - Chỉ số lợi GI (Gingival Index) 14 - Chỉ số quanh răng PI (Periodontal Index) - Chỉ số bệnh quanh răng PDI (Periodontal Disease Index) - Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng CPITN (Community Periodontal Index of Treatment Needs) - Chỉ số vệ sinh miệng đơn giản OHI-S (Oral Hygiene Index Simplified) - Chỉ số mảng bám răng PlI (Plaque index) - Chỉ số cao răng CI (Calculus index) 1.2. TÌNH TRẠNG BỆNH QUANH RĂNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM. 1.2.1.Trên thế giới  Tình trạng bệnh quanh răng trên thế giới. Những nghiên cứu từ xưa cho đến nay đều chỉ ra rằng bệnh răng miệng nói chung và bệnh quanh răng nói riêng có từ lâu đời và đến nay vẫn là bệnh phổ biến, có xu hướng lan rộng và tiến triển của bệnh rất phức tạp. Bệnh lưu hành rộng giữa các châu lục, các quốc gia, liên quan đến tuổi, giới, điều kiện kinh tế- xã hội, vùng địa lý… cho nên đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu dịch tễ học trên phạm vi toàn cầu. Người ta đã cố gắng tìm ra các chỉ số nhằm thống nhất hơn trong việc mô tả tình trạng của bệnh cũng như nhu cầu điều trị bệnh quanh răng cộng đồng. Trong những năm 1950 người ta có các biện pháp làm sáng tỏ nguyên nhân của bệnh quanh răng (Russel- 1956, Ramf ford. S. P- 1959) [71], những năm 1970 các nhà khoa học đã đánh giá giá trị của các phương pháp điều trị khác nhau để giải quyết vấn đề viêm quanh răng (Ramf ford và cộng sự - 1975, Ainamo. J và Ray. I- 1975, Rooling. B và cộng sự- 1976) [1], trên cơ sở sự kết hợp giữa hệ thống nhu cầu điều trị tổ chức quanh răng: PTNS của Johansen và cộng sự- 1973, sự phân chia hàm thành 6 vùng lục phân của O. Leary- 1967 [67], với sự ghi nhận phân đôi của Ainamo. J và Ainamo. A- 1978, chỉ số quanh răng cộng đồng về nhu cầu điều trị: CPITN đã ra đời. Sau những thảo luận mở rộng và kiểm tra, CPITN đã 15 được hoàn chỉnh và mô tả năm 1982 (Ainamo, Barmes. Beagrie và cộng sự) được WHO, FDI thông qua năm 1984, được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Mục đích và mục tiêu cho sức khỏe quanh răng đã được đề nghị- CPITN được xem ở mức độ quốc gia, sau hội nghị Hội nha khoa quốc tế (FDI) năm 1985, nó mang tính toàn cầu [81]. Trên thế giới nhiều nghiên cứu về dịch tễ học bệnh của vùng quanh răng được thực hiện. Người ta thấy tất cả những thương tổn của tổ chức quanh răng trong đó viêm lợi và viêm quanh răng mãn là những bệnh phổ biến nhất [84]. - Tình trạng viêm lợi: Được phát hiện những năm 1930, từ 40 năm sau đó các chỉ số đánh giá tình trạng lợi như SBI, GI ra đời, phát triển và đạt được những kết quả thống nhất hơn. Người ta chứng minh rằng, viêm lợi xuất hiện và lưu hành rất cao ở nhóm tuổi vị thành niên: Theo Muhleman và Mazor (1958) tuổi 13 ở Thụy điển bị viêm lợi là 93%, theo Rosenzwing (1960), tuổi 17 ở Ấn độ bị viêm lợi là 100% [57], ở Mỹ (1974) 6-7 tuổi viêm lợi 23% và 18-74 tuổi viêm lợi là 25% [83], ở Trung Quốc theo Bian Jin You ở vùng Yungcheng tỷ lệ viêm lợi là 99% (1986) và theo nghiên cứu của Yupin ở Changmai Thái Lan cho thấy 93% viêm lợi, chỉ có 0,7% người có lợi hoàn toàn khỏe mạnh ở lứa tuổi 35- 44. Viêm lợi tuy là bệnh phổ biến, nhưng mức độ viêm lợi cũng có sự thay đổi, bởi vì sự thay đổi này liên quan đến nhiều vấn đề như sự thay đổi hormon, sự mọc và thay răng, tuổi dậy thì, đặc biệt liên quan mật thiết đến tình trạng vệ sinh răng miệng. Nghiên cứu của Anerud và CS năm 1979-1983 ở nhóm tuổi vị thành niên nếu thực hiện các biện pháp dự phòng và điều trị QR tốt thì hơn 90% có răng lợi khỏe mạnh và duy trì suốt lứa tuổi này [33]. 16 Ngược lại những người không chải răng, hoặc không có chương trình chăm sóc RM nào cả thì tất cả các đối tượng nghiên cứu đều bị viêm lợi [57]. - Tình trạng viêm quanh răng: Người ta đã sử dụng nhiều cách đánh giá để nghiên cứu về dịch tễ học của viêm QR: Dựa trên sự tiêu xương đo được trên phim X quang (Marshall – Day và CS.1995), sự hiện diện của túi quanh răng (Greene – 1963, Russell – 1971 và đo lường sự mất bám dính của tổ chức quanh răng (Loe và CS-1978) để xác định bệnh [57]. Số liệu về tình trạng viêm quanh răng ở các lứa tuổi và ở các nước cũng khác nhau. Theo Brown và CS, 1981 ở Mỹ: 65% người ở lứa tuổi từ 19-65 có túi lợi sâu ≥ 3mm, 28% có túi lợi sâu 4-6mm và 8% có túi lợi sâu > 6mm. So với các châu lục trên thế giới, thì các nước Châu Á có tỷ lệ % người lành thấp (thông qua các cuộc điều tra ở một số nước và khu vực đại diện Châu Á: Bangladesh- 1982, Nhật Bản- 1984, Nêpan- 1984, Srilanka- 1984 và Hồng Kông-1984): 3%, trong khi các châu lục khác khả quan hơn, Châu Âu: 4,75% (thông qua điều tra tại : Phần Lan- 1984, Hungari- 1985, Italia- 1985, Hy lạp- 1985, Hà Lan- 1981, Bồ Đào Nha- 1984, Tây Ban Nha- 1985), Châu Úc: 11% (Australia- 1984. Tỷ lệ các nước Đông Nam Á có mức trung bình cộng là: 6% (qua điều tra tại Thái Lan- 1982 và Indonesia- 1984) [85]. Về nhu cầu điều trị: Nhờ có các chương trình tuyên truyền và hướng dẫn VSRM cộng đồng, một số nước đã có sự thay đổi về tỷ lệ viêm lợi và viêm quanh răng. Trong một nghiên cứu của Bian Jin You ở vùng Yuncheng (Trung Quốc) sau chiến dịch “Ngày cho hàm răng của bạn”- do họ phát động, thì tỷ lệ viêm lợi giảm xuống từ 99% (1990) còn 63% và tỷ lệ cao răng cũng giảm từ 85% xuống 43% (1996). Tuy nhiên, một số nước khu vực Đông Nam Á nhu cầu điều trị vẫn còn ở mức cao. Chẳng hạn như Thái Lan là một nước đẩy mạnh công tác chăm 17 sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng, nhưng qua kết quả điều tra toàn quốc, thì nhóm tuổi 35- 44 mới có hơn 1% lợi hoàn toàn khỏe mạnh, 58% có túi lợi nông và 11% có túi lợi sâu [78]. 1.2.2.Ở Việt Nam - Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu điều tra về bệnh quanh răng ở các lứa tuổi, các vùng địa lý,… với các phương pháp, mục tiêu và quy mô khác nhau. Tuy kết quả một vài công trình còn khác nhau do phương pháp đánh giá khác nhau, nhưng đều cho thấy các lứa tuổi đều mắc bệnh quanh răng, tăng dần theo tuổi và là nguyên nhân chủ yếu gây mất răng ở người lớn sau 35 tuổi. Trong công trình nghiên cứu của Vũ Xuân Uông, Lê Hoàng Hải và cộng sự ở lứa tuổi từ 6 đến 65 tuổi ở Cao Thành, Ứng Hòa, Hà Sơn Bình (1978) cho thấy bệnh quanh răng có tỷ lệ mắc cao ở lứa tuổi 45 đến 54 và cao nhất ở lứa tuổi 65 (51,47%), thấp nhất ở lứa tuổi từ 15-19 (1,44%). Theo số liệu điều tra lần này, có thể nói bệnh viêm quanh răng găp bệnh viêm quanh răng gặp nhiều ở người già và tỷ lệ mắc ở nam cao hơn nữ (18,62% và 17,92%) là không có sự khác biệt [25]. Những năm gần đây việc điều tra xác định bệnh quanh răng người ta đánh giá bằng các chỉ số trong đó chỉ số nhu cầu điều trị bệnh quanh răng cộng đồng CPITN đã được áp dụng tại Việt Nam. Theo kết quả điều tra cơ bản trong toàn quốc tiến hành từ năm 19811983 của Phân viện và Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương, Nguyễn Văn Cát và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở Miền Nam: 91,3% và Miền Bắc: 82,10% [30]. Theo số liệu kết quả cuộc điều tra cơ bản SKRM toàn quốc tiến hành năm 1990 ở các tỉnh đại diện (Phía Bắc, phía Nam, miền Trung, đồng bằng Châu Thổ, Trung du, miền Núi, Nông thôn và Thành thị) ở các nhóm tuổi (12, 18 15 và 35- 44) [31] thì tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao, đặc biệt là chỉ số viêm lợi và cao răng ở 3 nhóm tuổi đều trên 90%. Trong một điều tra riêng rẽ về bệnh quanh răng ở các tỉnh phía Nam Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh [1] tác giả Nguyễn Cẩn cho biết tỷ lệ người có cao răng rất cao, xuyên suốt các lứa tuổi, gần giống như các nước, đặc biệt là các nước thuộc thế giới thứ 3, viêm lợi luôn đi với cao răng, 1/3 viêm lợi sẽ tiến triển sang viêm quanh răng sau một thời gian, thường thì sau 35 tuổi. Báo cáo kết quả điều tra cơ bản SKRM các tỉnh phía Bắc năm 1995 được công bố [19] [25] cho thấy rõ ở 3 nhóm tuổi 12, 15, 35-44 tỷ lệ người có tổ chức quanh răng hoàn toàn lành mạnh rất thấp chưa quá 3%. Chương trình điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 do Việt Nam và Úc hợp tác đã cho kết quả > 90% người được khám bị bệnh viêm lợi và viêm quanh răng [32]. Theo tác giả Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải trong báo cáo điều tra SKRM toàn quốc năm 2001 thì tỷ lệ người có bệnh quanh răng rất cao ở mức 96,7% trong đó có 31,8% có túi lợi bệnh lý nông và sâu [24]. Những số liệu trên cho thấy tỷ lệ (%) người mắc bệnh quanh răng cao, mức độ bệnh nặng. Theo kết quả điều tra kiến thức, thái độ và hành động về phòng và điều trị bệnh quanh răng của nhân dân còn nhiều hạn chế chưa thích hợp và khoa học. Để đẩy mạnh hơn nữa công tác chăm sóc SKRM cộng đồng tránh sự tổn phí tiền của và công sức của nhà nước và nhân dân, nghành răng hàm mặt đã tiến hành các biện pháp dự phòng: + Giáo dục VSRM cộng đồng phù hợp với điều kiện kinh tế và nhận thức của nhân dân. + Hướng dẫn vệ sinh ăn uống cho dân hợp lý và cân bằng. + Huấn luyện VSRM đúng cách như: Sử dụng Fluor tăng cường sức đề kháng của men răng, diệt khuẩn làm vùng quanh răng sạch và răng chắc hơn, cách chải răng, dùng bàn chải kẽ, chải lưỡi,… 19 + Tiến hành điều trị viêm quanh răng không phẫu thuật: Lấy cao răng, làm nhẵn bề mặt cổ chân răng, điều chỉnh khớp cắn sang chấn, sửa hàm giả, răng hàn sai kỹ thuật,… 1.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT Các triệu chứng lâm sàng của bệnh TTPL vô cùng phong phú, phức tạp và luôn biến đổi trên các mặt hoạt động tâm thần. Đa số các tác giả đều thống nhất chia làm 2 nhóm triệu chứng chính đó là: các triệu chứng âm tính và các triệu chứng dương tính. Ngoài ra các nhóm triệu chứng: suy giảm nhận thức, triệu chứng trầm cảm ngày càng có một vai trò quan trọng trong lâm sàng của bệnh tâm thần phân liệt và được các tác giả quan tâm nghiên cứu [3], [[17], [73]. 1.3.1. Triệu chứng âm tính. Là các triệu chứng thể hiện sự tiêu hao, mất mát các hoạt động tâm thần sẵn có, mất tính toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâm thần. Triệu chứng âm tính được thể hiện bằng tính tự kỷ và giảm sút thế năng tâm thần [3], [17]. 1.3.1.1. Tính tự kỷ. Là hậu quả khi phát triển đến mức độ cao của tính thiếu hoà hợp, nổi bật là tính dị kỳ khó hiểu, khó thâm nhập. Người bệnh xa rời thực tại, cắt đứt với thế giới bên ngoài, quay vào thế giới nội tâm trong đó các quy luật tự nhiên và xã hội đều bị đảo lộn. Người bệnh nghĩ và làm những điều dị kỳ không ai hiểu được [17]. 1.3.1.2 Giảm sút thế năng tâm thần. Đó là giảm sự năng động, nhiệt tình trong mọi hoạt động tâm thần, cảm xúc ngày càng cùn mòn, khô lạnh, tư duy ngày càng nghèo nàn, ý chí suy đồi, hoạt động giảm dần và không thiết làm gì. Các triệu chứng âm tính thường tiến triển dần dần, âm ỉ làm tan rã nhân cách của người bệnh một cách sâu sắc [17]. 20 1.3.1.3. Các triệu chứng âm tính thường gặp. Các triệu chứng âm tính là khá phong phú song theo các tác giả: Kaplan H.I. và CS. (1994) thấy các triệu chứng âm tính thường gặp trong bệnh TTPL là [50]: * Các rối loạn tư duy: + Tư duy chậm chạp: khả năng suy nghĩ rất khó khăn, dòng ý tưởng rất chậm sau mỗi câu hỏi bệnh nhân phải suy nghĩ rất lâu mới trả lời được. + Tư duy ngắt quãng: khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng của bệnh nhân như bị cắt đứt làm cho bệnh nhân không nói được nữa. Mãi sau mới lại tiếp tục nói về một chủ đề khác. + Tư duy nghèo nàn: ngôn ngữ nghèo nàn cả về lượng từ và nội dung, giảm vốn từ, lượng từ khi nói. Giảm sút các ý tưởng diễn đạt, nội dung sơ sài, đơn điệu. * Các rối loạn cảm xúc: + Cảm xúc cùn mòn: biểu hiện đặc trưng bởi nét mặt khô khan, vô cảm. Nghèo nàn trong cử chỉ biểu lộ cảm xúc, trong giao tiếp không dùng lời như biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng mắt, âm điệu lời nói kém linh hoạt. + Cảm xúc không thích hợp: là trạng thái mất sự phù hợp giữa nội dung tư duy và biểu lộ cảm xúc như tin vui thì khóc, chuyện buồn lại cười. + Các biểu hiện khác của cảm xúc: lãnh đạm, thờ ơ, giảm hoặc mất ham muốn và hứng thú, thu rút xã hội. Người bệnh hoàn toàn không muốn tiếp xúc, xa lánh tất cả mọi người. Họ tách rời khỏi thế giới thực tại xung quanh, thu rút vào thế giới tự kỷ bên trong của riêng mình mà chỉ có bệnh nhân mới hiểu được. * Các rối loạn hoạt động có ý chí: + Thiếu ý chí, bị động và thiếu sáng kiến. Chậm chạp tâm lý vận động, hoạt động kém. Giảm hoặc mất khả năng tự chăm sóc bản thân và kém hoạt động xã hội.
- Xem thêm -