Nhận xét lâm sàng và hình ảnh xquang răng mọc ngầm tại bệnh viện răng hàm mặt trung ương từ năm 2011-2012

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI ……***…… NGUYỄN HOÀNG YẾN NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ XQUANG RĂNG NGẦM TẠI VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG TỪ 2011 – 2012 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA Khóa 2007 – 2013 Hà Nội - 2013 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI ……***…… NGUYỄN HOÀNG YẾN NHËN XÐT §ÆC §IÓM L¢M SµNG Vµ XQUANG R¡NG NGÇM T¹I VIÖN R¡NG HµM MÆT TRUNG ¦¥NG Tõ 2011 – 2012 Chuyên ngành: Răng hàm mặt KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA Khóa 2007 – 2013 Người hướng dẫn khoa học Th.S Nghiêm Chi Phương Hà Nội - 2013 ĐẶT VẤN ĐỀ 3 Răng mọc ngầm là răng không mọc một phần hoặc hoàn toàn, do răng khác, xương hay mô mềm ngăn cản sự mọc lên của răng đó. Tuỳ theo tư thế giải phẫu của răng mà có các kiểu ngầm (theo Ủy ban phẫu thuật miệng của Mỹ 1971) [18] Răng mọc ngầm là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến sức khỏe răng miệng và thẩm mỹ của mỗi cá nhân. Răng mọc ngầm đôi khi còn là nguyên nhân của nhiều bệnh cảnh lâm sàng nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh. Răng mọc ngầm gây biến chứng như thế nào? Mức độ trầm trọng ra sao? Thường ở lứa tuổi nào? Tỉ lệ giữa hai giới như thế nào? Cũng như cần phát hiện nó vào thời điểm nào, bằng cách nào biểu hiện lâm sàng ra sao để các nhà lâm sàng có những biện pháp can thiệp kịp thời phòng tránh các biến chứng và đảm bảo thẩm mỹ cho bệnh nhân. Đó là vấn đề mà nhiều nha sĩ trong nước và trên thế giới quan tâm. Ở trong nước, tài liệu viết về vấn đề này còn hạn chế. Mới chỉ có một số tài liệu như: Thông báo một trường hợp 3 răng vĩnh viễn mọc ngầm của bác sĩ Mạc Cẩm Thúy [10] hay một số vấn đề về nguyên nhân, biến chứng, phân loại các loại răng mọc ngầm, mọc lệch và mọc lạc chỗ của bác sĩ Nguyễn Lâm [12]. Các tài liệu liên quan như: Các loại răng thừa ngầm [8], Răng mọc thừa ngầm ở đường giữa xương hàm trên [23] ,Răng mọc ngầm có gây tiêu chân răng bên cạnh không? Theo Nitzan D, có 7,5% có ảnh hưởng tiêu chân răng trong 199 trường hợp mà chủ yếu ở tuổi 21-30 [26] Theo Shang Hai Kou Qiang Yi Xue [ cần thiết phải chụp phim Xquang để xác định vị trí và phẫu thuật đối với răng thừa mọc ngầm. Ở Đại học Bernin (Nigieria) thấy răng thừa ngầm hàm trên gặp tỉ lệ cao nhất với 12 lần (66,67%) [28] Ở Đại học Jordan theo dõi 152 trường hợp có 90% răng thừa xảy ra ở hàm trên phía trước, 92,8% ở vùng răng cửa giữa [27] 4 Xuất phát từ sự ảnh hưởng của răng mọc ngầm tới sức khỏe răng miệng, thẩm mỹ và sự cần thiết về chẩn đoán lâm sàng và hình ảnh Xquang để có những biện pháp kịp thời tránh những biến chứng không mong muốn, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu biểu lâm sàng và hình ảnh Xquang của răng mọc ngầm với mục tiêu: Nhận xét lâm sàng và hình ảnh Xquang răng mọc ngầm tại bệnh viện Răng hàm mặt trung ương từ năm 2011-2012. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5 1.Giải phẫu- Sinh lý học 1.1. Cấu trúc xương 1.1.1. Xương hàm trên Xương hàm trên ở người bao gồm 2 xương, nối với nhau ở đường giữa, là xương trụ cột của tầng giữa mặt. Bao gồm thân xương và các mỏm xương, mỏm huyệt răng hai bên tạo nên cung huyệt răng, nơi …. chân răng gọi là xương ổ răng. Hình dạng xương ổ răng phụ thuộc vào kích thước, hình thể, vị trí của răng. Xương hàm trên liên quan đến các hốc: mũi, mắt, khoang miệng, thân xương có các lỗ cho mạch máu và thần kinh đi qua. Ví dụ: lỗ dưới ổ mắt cho thần kinh dưới ổ mắt đi qua, lỗ khẩu cái trước có động mạch khẩu cái và thần kinh bướm khẩu cái đi qua [1] Mỏm xương ổ răng liên tục với phần xương còn lại, phần xương ngang mức với chóp răng là xương nền. Thông thường, các răng hàm trên nằm trên cung răng hàm trên 1.1.2. Xương hàm dưới Xương hàm dưới có 2 phần: - Thân xương: cong hình móng ngựa, có hai mặt và hai bờ. Mặt ngoài có lồi cằm ở giữa, hai bên có đường chéo và lỗ cằm để mạch máu và thần kinh cằm đi qua. Mặt trong ở giữa có 4 gai cằm: 2 gai trên có cơ cằm lưỡi bám, 2 gai dưới có cơ cằm móng bám Bờ trên có nhiều lỗ huyệt ổ răng dưới Bờ dưới có hai hố cơ nhị thân ở giữa và nơi liên tiếp của cành lên với thân xương hàm có một rãnh nhỏ cho động mạch mặt đi qua. - Cành lên xương hàm dưới: hình vuông, có hai mặt, bốn bờ: + Mặt ngoài có gờ cho cơ cắn bám 6 + Mặt trong có lỗ răng dưới (lỗ hàm dưới) và thông với ống răng dưới để mạch và thần kinh răng dưới đi qua, phía trước lỗ có gai Spix là một mảnh xương hình tam giác + Bờ trên lõm là khuyết hàm dưới (hõm Sigma), phía trước khuyết hàm là mỏm vẹt, sau khuyết là mỏm lồi cầu gồm có chỏm lồi cầu và cổ lồi cầu. Chỏm lồi cầu hình bầu dục, dẹt theo chiều trước sau. + Bờ dưới tiếp với thân xương hàm + Bờ sau dày liên quan với tuyến nước bọt mang tai + Bờ trước lõm 1.2. Thần kinh chi phối 1.2.1. Dây thần kinh hàm trên Dây thần kinh hàm trên là nhánh giữa của dây thần kinh sinh ba, là dây hoàn toàn cảm giác. Từ hạch Gasser, dây thần kinh hàm trên thoát ra khỏi nền sọ ở lỗ tròn lớn, đi tới mặt trên của hố chân bướm hàm, ở đó dây đi ngang ra ngoài để tới đầu rãnh dưới ổ mắt, dậy lại bẻ gập một lần nữa để chui vào rãnh. Trước khi chui vào rãnh, thần kinh hàm trên tách ra các nhánh: dây răng sau, dây răng giữa, dây răng trước. Các dây thần kinh răng đều nối với nhau để tạo thành đám rối răng, từ đám rối răng cho các nhánh đi vào răng , xương. 1.2.2. Dây thần kinh hàm dưới Dây thần kinh hàm dưới là một dây thần kinh vừa cảm giác, vừa vận động và có cả sợi tiết dịch. Từ hạch Gasser, thần kinh thoát ra khỏi sọ ở lỗ bầu dục. Khi đi cách lỗ bầu dục không đầy một centimet thì chia làm hai nhánh tận: thân trước và thân sau Dây thần kinh răng dưới là nhánh tận tách ra từ thân sau của dây thần kinh răng dưới. Dây thần kinh răng dưới chạy giữa hai cơ chân bướm nằm áp sát ngay vào mặt ngoài của cân liên cơ chạy tới gai Spix thì cùng động mạch chui vào ống răng dưới. Khi chạy trong ống răng dưới, nó cho những nhánh thần kinh đi vào răng hàm dưới. Khi thoát ra khỏi lỗ cằm, nó 7 chia làm hai nhánh tận: dây nanh và dây cằm. Dây nanh cho những nhánh vào răng cửa và răng nanh, dây cằm phân phối cho da cằm và niêm mạc môi dưới. 1.3. Hệ mạch chi phối 1.3.1. Hàm trên Cấp máu cho hàm trên là nhánh của động mạch hàm trong, tách ra từ động mạch cảnh ngoài ở gần cực trên của tuyến mang tai ở sâu. Động mạch hàm trong cho nhánh tận là động mạch bướm khẩu cái Động mạch khẩu cái trên là nhánh tách ra từ động mạch hàm trong. Động mạch này từ lỗ khẩu cái sau đi ra trước, song song với các huyệt răng, cách bờ này khoảng 1cm, đi trong lớp sâu của tổ chức sợi, sau đó liên tiếp với động mạch mũi khẩu cái 1.3.2. Hàm dưới Cấp máu cho hàm dưới là nhánh động mạch răng dưới phát sinh từ động mạch hàm trong khi động mạch này vòng quanh bờ dưới cơ chân bướm ngoài. Động mạch răng dưới cùng thần kinh răng dưới đi vào lỗ răng dưới ở cạnh gai Spix. Động mạch này phân nhánh cho vùng hàm dưới. 1.4 Chức năng của xương hàm trên Xương hàm trên là xương trụ cột của tầng mặt giữa, tham gia hộp âm nhờ xoang hàm trên. Mỏm xương ổ răng là nơi neo giữ răng trong xương ổ răng, hấp thu và phân phối lực nhai được tạo ra bởi các răng trong quá trình: ăn, nhai, nói, nuốt [6] 1.5. Vùng vòm miệng Giới hạn ở phía trước và hai bên bởi cung răng trên, phía sau bởi bờ tự do của màn hầu gồm hàm ếch cứng được tạo nên bởi 2/3 phía trước bởi mỏm khẩu cái xương hàm trên và 1/3 sau bởi mảnh ngang xương khẩu cái. Hàm ếch mềm tạo bởi cơ màn hầu. Từ hốc miệng đến hốc mũi, hàm ếch gồm những lớp: 8 - Niêm mạc hàm ếch: lớp này dầy, chắc, dính với màng xương bởi cấu trúc sợi, bên trong có các động mạch và thần kinh khẩu cái - Lớp xương, sợi và cơ: xương khẩu cái, cân khẩu cái và cơ của màn hầu - Lớp niêm mạc sàn hốc mũi 1.6. Vùng lợi răng và tiền đình miệng Sống hàm được lợi bao phủ, lớp này khi đến gần đáy ngách lợi má hay môi thì ở dưới lớp niêm mạc có thêm ít tổ chức lỏng lẻo và dày lên khi tới ngách lợi môi – má. Lớp niêm mạc khi tới ngách lợi môi hay má thì quặt ngược trở lại thành niêm mạc môi hay má. Mặt trong sống hàm niêm mạc lợi liên tiếp với niêm mạc hàm ếch ở hàm trên. Tiền đình là khoảng giữa môi má và hàm răng. Niêm mạc phủ mặt tiền đình lật từ môi, má lên lợi để tạo nên hai rãnh trên và dưới, ở giữa rãnh có nếp niêm mạc chia rãnh thành đôi gọi là phanh môi. 2. Quá trình hình thành và phát triển bộ răng vĩnh viễn Trong khi các chân răng sữa được nằm hoàn toàn trong xương ổ răng đã phát triển thì không phải lúc nào cũng thấy mầm răng vĩnh viễn thay thế nằm trong xương ổ răng mà lại nằm trong phần xương nền của xương hàm trên. Như vậy, chỉ có phần xương hàm của các răng đang hoạt động chức năng mới thuộc xương ổ răng (Broclie A G 1942, Baume L T 1953) [8] . Các mầm răng thay thế không có xương ổ chính danh bao quanh chúng bắt đầu mọc sau khi sự hình thành thân răng kết thúc. Vào thời điểm này, xương ổ chính danh và chân răng sữa cũng bắt đầu tiêu. Điều gì sẽ xảy ra với mầm răng thay thế nếu giai đoạn này có tổn thương hay viêm nhiễm mãn tính? Ngay sau khi răng sữa rụng, các răng thay thế đang trong quá trình mọc sẽ di chuyển vào chỗ trống, khi đó, xương hàm có sự hình thành xương mới để thay thế cho các khối xương bị tiêu tạo ổ xương mới. Phần 9 xương nâng đỡ ổ xương chính danh có kích thước, hình dạng phù hợp với răng thay thế. Do đó, giai đoạn này có bất kỳ sự sang chấn tại chỗ hay viêm nhiễm tại chỗ nào cũng có thể là nguyên nhân làm cho răng mọc ngầm Sự tiêu xương ở răng sữa và hình thành xương ổ chính danh ở răng thay thế nó phù hợp cả về không gian và thời gian, bất kỳ sự can thiệp nào không phù hợp đều có thể gây rối loạn mọc răng và gây nên răng mọc ngầm Thời gian hình thành và phát triển bộ răng vĩnh viễn từ khi sinh ra đến khi 16 tuổi, đây là một khoảng thời gian rất dài, do vậy những tổn thương có thể xảy ra, ngăn cản sự hình thành men, ngà và trực tiếp hay gián tiếp tạo nên những rối loạn khác nhau. Cho nên những khiếm khuyết về quá trình hình thành và phát triển răng có thể gây nên tình trạng răng mọc ngầm. 2.1. Những rối loạn phát triển răng 2.1.1 Bất thường về số lượng Những bất thường về số lượng phải kể đến răng thừa ở vùng cửa hàm trên rất hay gặp, ví dụ như răng kẹ ở giữa. Cũng có thể thấy thiếu răng một phần như thiếu răng cửa bên, thiếu răng nanh,.. 2.1.2. Bất thường về cấu trúc Những thiểu sản men răng ở răng vĩnh viễn có thể do chấn thương làm sai khớp ở bộ răng sữa, ảnh hưởng đến sự tạo men ở răng thay thế. Cũng có thể nguyên nhân là do viêm nhiễm, bệnh toàn thân hay do hóa chất. 2.1.3. Bất thường về hình thái Có nguồn gốc do quá trình phát triển như: răng sinh đôi, răng dị dạng thân, răng trong răng, chân răng cong bất thường, … 3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến răng mọc ngầm 10 3.1.Nguyên nhân do chính răng đó (theo Kolf) [19] - Có nang thân răng - Răng là một u răng - Là một răng thừa - Sang chấn làm di lệch mầm răng - Chân răng cong vẹo 3.2. Nguyên nhân tại chỗ và vùng lân cận Theo Berger và cộng sự [19], những yếu tố sau là những nguyên nhân gây nên răng mọc ngầm: - Răng sữa tồn tại quá thời hạn - Do sự phân bố các răng không đều trên cung hàm - Sự bền vững của xương hàm cản trở răng muốn mọc - Nhiễm trùng kéo dài ở vùng lân cận răng mọc - Màng niêm mạc phủ trên răng quá dầy - Ở những xương hàm kém phát triển - Nhiễm trùng xương hàm ở các bệnh viêm nhiễm trẻ em Ngoài ra, nhận thấy dị dạng hình thể thân răng và chân răng cũng là nguyên nhân khiến răng không mọc lên được trên cung hàm. 3.3. Nguyên nhân toàn thân - Di truyền - Chủng tộc - Các bệnh: còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu, lao, giang mai bẩm sinh, … 4. Bệnh lý liên quan do răng mọc ngầm 4.1. Lệch lạc răng Nhiều trường hợp bệnh nhân đến khám vì lệch lạc răng, nhất là vùng răng cửa hàm trên. Hay do sự rối loạn thay răng sữa và mọc răng vĩnh viễn mà răng sữa đã quá tuổi thay vẫn tồn tại trên cung hàm hoặc thiếu răng 11 vĩnh viễn. Chỉ khi chụp phim Xquang vùng hàm mặt mới phát hiện ra răng mọc ngầm. Như vậy, yêu cầu cần đặt ra là với những dấu hiệu lâm sàng cần theo dõi chặt chẽ với bác sĩ RHM để có sự phát hiện sớm mà can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng xảy ra. Những nghiên cứu thống kê về tỉ lệ răng mọc ngầm, loại răng mọc ngầm, vị trí răng mọc ngầm, tuổi, giới, những biến chứng do răng mọc ngầm gây ra cũng như mức độ lệch lạc của răng thường do răng ngầm gây ra là những điều rất quan trọng mà bác sĩ RHM cần quan tâm [12] 4.2. Răng mọc ngầm gây tiêu chân răng bên cạnh 26] Vấn đề tiêu chân răng từ ngoài vào do răng mọc ngầm ở bên cạnh gây ra đã được nghiên cứu bằng Xquang với 199 trường hợp trong đó có tiêu chân răng 15 trường hợp (chiếm 7,5%), vùng cổ răng ít bị ảnh hưởng nhất và tỉ lệ mắc cao nhất ở nhóm tuổi 21-30 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Tiêu tổ chức quanh răng đơn độc được tìm thấy ở 16 bệnh nhân khác trong đó có 5 bệnh nhân được kiểm tra trong 1 năm sau khi nhổ răng mọc ngầm. Trong giai đoạn đó, mô quanh răng bị tổn thương đã hồi phục hoàn toàn [6] 4.3. Nang thân răng Cơ chế bệnh sinh chưa rõ nhưng có giả thuyết cho rằng sức ép của túi quanh răng khi mọc răng với những răng ngầm làm áp suất trong lòng nang tăng dẫn tới khả năng thẩm thấu của dịch tạo thành túi dịch giữa túi quanh răng và thân răng, kết quả là nang thân răng được hình thành. Một giả thuyết khác cho răng nang xuất hiện do sự phát triển của dải biểu mô xung quanh răng của biểu mô men răng. Bình thường, khi răng mọc, dải biểu mô này tan ra và tự tiêu. Một số tác giả khác phát hiện thấy nang hình thành do ảnh hưởng của nhiễm trùng cuống răng các răng sữa phía trên do tác động của các tác nhân gây viêm. 12 Trên lâm sàng: thường gặp nhất là răng nanh ngầm hàm trên, rồi đến răng thừa ngầm giữa hai răng cửa giữa hàm trên. Hay gặp ở người trẻ 1020 tuổi. Tiến triển theo hai giai đoạn: trầm lặng và biểu lộ ra ngoài Trên phim Xquang: là hình ảnh một nang không cản quang liên quan đến thân răng của một răng vĩnh viễn hay răng ngầm[ 4] 4.4. Nang răng sừng hóa (OKC) Nang răng sừng hóa là một nang do răng tiến triển khá phổ biến, được hình thành từ biểu mô lá răng còn sót. OKC đòi hỏi một sự xem xét đặc biệt do đặc tính lâm sàng trầm trọng và khuynh hướng tái phát của nó. Khoảng 25 – 40% OKC có liên quan đến răng mọc ngầm, mọc kẹt. Trong trường hợp này những đặc điểm nổi bật trên Xquang giống những đặc điểm của nang do răng (Dentigenous cyst – DC). Xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất ở tuổi 50, ở nam bị nhiều hơn ở nữ Nang có thể phát triển thành một nang lớn trong xương hàm Nang phát triển lan ra xung quanh vào xoang hàm đôi với hàm trên Xquang: là khối cản quang hình tròn, ranh giới rõ với đường viền rõ. Trong một số trường hợp thành nang hình vỏ sò dễ nhầm với nang nhiều buồng. Nang răng sừng hóa có thể là hình ảnh nhiều buồng, hình ảnh này dễ nhầm với u men. Nang răng sừng hóa dạng nhiều buồng có xu hướng tái phát nhiều hơn dạng một buồng Bản chất cơ bản của nang răng sừng hóa và những lý do dẫn tới tỉ lệ tái phát cao của nó vẫn chưa được biết chắc chắn. Người ta tin rằng, hoạt động phát sinh của nang răng sừng hóa là một trong những nhân tố đóng vai trò đáng kể trong sự mở rộng của nang và có thể là trong sự tái phát nang Bằng phương pháp hóa mô miễn dịch của chất đánh dấu tăng sinh và các phản ứng phân hủy tế bào. Phương pháp Tunel đã dược dùng để xác 13 định liệu một răng mọc ngầm hoặc các dạng Xquang khác có làm thay đổi đặc tính lâm sàng và kết quả điều hay không? Khả năng tăng sinh và phân hủy tế bào được so sánh giữa các nang răng sừng hóa có liên quan hoặc không liên quan đến răng mọc ngầm. Kết quả cho thấy chính sự thất bại trong việc loại bỏ những biểu mô sót của lá răng những nang kèm theo và những phần lót lớp biểu mô chịu trách nhiệm lớn hơn là sự tăng sinh hay phân hủy trong nang răng sừng hóa. Kết quả cũng chỉ ra rằng: khả năng tăng sinh và phân hủy tế bào trong nang răng sừng hóa có liên quan tới một răng ngầm, kẹt cao hơn trong nang thân răng [25] 4.5. Nhiễm trùng Nhiễm trùng là một biến chứng hay gặp nhất Nhiễm khuẩn có thể do vi khuẩn từ đường máu tới hoặc do nang răng tự vỡ vào miệng, vào xoang hay nang bị loét do răng đối diện, hoặc cũng có thể do chọc dò, ống tủy răng cạnh nang bị chết, u hạt bên cạnh viêm nhiễm. Giai đoạn cấp giống như một viêm tấy xương, viêm màng xương với phần mềm thâm nhiễm, đau nhức hoặc giống như một viêm tấy lan tỏa ở miệng với tình trạng nhiễm khuẩn dữ dội. Giai đoạn mạn tính: thường có lỗ rò ở ngách lợi hay hàm ếch [12] 4.6. Đau do răng ngầm Răng mọc ngầm trong xương hàm thường ít gây đau. Bệnh nhân thường phát hiện tình cờ qua chụp phim Xquang hoặc chỉ đến khám khi răng ngầm gây ra những biến chứng như: khối sưng hàm mặt, đau nhức răng, đau nhức khi há miệng hay ăn nhai, đau có thể nhẹ hoặc cấp tính, cơn đau gián đoạn hoặc liên tục hoặc theo chu kỳ, đau có thể giống đau dây thần kinh V. Có thể là đau tai, ù tai, mờ mắt, đau đầu kéo dài, ….bệnh nhân hay đi khám ở khoa thần kinh, TMH, mắt khi được hội chẩn phát hiện ra răng 14 ngầm. Chúng ta chỉ được quyền nghi ngờ nó có thể là nguyên nhân gây bệnh, nhiều trường hợp bệnh nhân khi được giải quyết răng ngầm thì các vấn đề trên cũng hết [12]. 4.7. Các biến chứng khác Răng mọc ngầm trong xương hàm cũng giống như một dị vật trong xương hàm, do tác động của quá trình ăn nhai và những sang chấn có thể gặp khó cử động xương hàm cũng như bệnh lý của răng viêm xoang, ù tai, đau tai, có trường hợp biểu hiện ở mắt :giảm thị lực, viêm màng bồ đào, ... [12] 5. Những phương pháp Xquang xác định răng mọc ngầm hàm trên thường dùng 5.1. Phim sau huyệt ổ răng [15] Chỉ định: - Chẩn đoán các thương tổn răng, quanh răng, chóp răng,.. - Kiểm tra kết quả sau điều trị: trám răng, điều trị tủy - Thăm khám trước và sau nhổ răng - Thăm khám trong cấy ghép răng (implant)… Ưu điểm: cho biết rõ chi tiết, tình trạng của một răng hay nhóm răng và vùng quanh chóp của nó Hạn chế: chỉ cho biết ở một diện hẹp, không đánh giá được xung quanh Kỹ thuật: Có hai kỹ thuật chụp phim sau huyệt ổ răng thông dụng: kỹ thuật song song và kỹ thuật phân giác. Tiến hành kỹ thuật - Đầu bệnh nhân thẳng hoặc nghiêng về bên cần chụp 15 - Tia X chính đi giữa bờ sau cành lên và cột sống theo một đường chéo từ sau ra trước trên mặt phẳng nằm ngang và hơi chéo từ dưới lên trên theo mặt phẳng thẳng đứng - Mặt phẳng phim áp sát vòm miệng, làm với mặt phẳng răng một góc nhọn, tia X chính đi vuông góc với đường phân giác của góc trên - Cỡ phim 3,8 x 4,1 hoặc 3,8 x 5,1 5.2. Phim cắn (Occlusal) - Nếu chụp theo phương pháp cổ điển, hướng tia chếch 45 độ so với phim thì gọi là phim Belot, phim này tương tự như phim cận chóp chụp theo phương pháp phân giác nhưng với kích thước phim lớn hơn, thăm khám được một vùng rộng hơn, và đảm bảo không thay đổi về mặt kích thước và hình thái của răng. -Nếu hướng tia chiếu thẳng trục so với phim thì gọi là tư thế Simpson: tư thế này ít dùng vì làm thay đổi kích thước và hình thái răng, làm chồng hình của thân răng và chân răng Chỉ định : + Thăm khám về hình thái học của một vùng răng + Xác định vị trí của một răng (răng ngầm) + Thăm khám sau chấn thương răng của vùng răng nanh cửa + Phát hiện các tổn thương liên quan đến xương như nang răng, nang xương hàm, u xương,… + Phát hiện dị vật, sỏi cản quang tuyến nước bọt,… + Thăm khám bổ sung với một khe hở vòm miệng Kỹ thuật: + Thường chụp với thông số kỹ thuật là: 60KV, 15mA, 1,5giây + Với phim Belot: nguyên lý và các bước tiến hành tương tự như phim sau huyệt ổ răng chụp theo phương pháp phân giác nhưng với phim có kích thước lớn hơn 16 + Với tư thế Simpson: hướng tia vuông góc với mặt phẳng phim (mặt phẳng cắn) 5.3. Phim sọ mặt nghiêng -Mục đích: + Thăm khám khối XHT, xoang hàm trên + Xương chính mũi (với kỹ thuật chụp giảm thông số về cường độ và thời gian chụp) + Hốc mắt, xoang trán, xoang hàm trên + Nhóm răng cửa trước và vòm miệng - Kỹ thuật: + Bệnh nhân nằm hoặc ngồi, mặt phẳng cắn nằm ngang nếu bệnh nhân ngồi, mặt bên thăm khám áp vào phim sao cho mặt bệnh nhân hoàn toàn nghiêng (mặt phẳng dọc giữa song song với phim) + Tiêu chuẩn đạt yêu cầu về tư thế (nghiêng hoàn toàn) là hai hốc mắt, hai lồi cầu, xương hàm dưới hai bên phải chồng nhau và hố yên phải thật rõ nét + Tia trung tâm: khu trú vào hố yên. Điểm này được xác định từ trung điểm của đường nối lỗ tai – đuôi mắt lên phía trên khoảng 1,5 cm - Phương pháp téléradiographie: + Là tư thế sọ mặt nghiêng chuẩn theo phương pháp sọ mặt xa + Khoảng cách phim – tiêu điểm trên 2m => đảm bảo kích thước thật của vật thể + Khớp cắn trung tâm (các múi nhai chồng khít) + Môi để tự nhiên, không hở rộng hay mím chặt + Cường độ tia thích hợp để thấy rõ cả cấu trúc xương và mô mềm 5.4. Phim panorama Là phim toàn cảnh, sử dụng kỹ thuật paranomic. Khi chụp phim toàn cảnh, chùm tia phát ra qua một khe hẹp và hướng tia thay đổi liên tục cho phép ghi lại hình ảnh của một vật thể cong. Cassette phim và bóng trung 17 tâm quay hướng ngược chiều nhau trong khi bệnh nhân đứng hoặc ngồi ở một tư thế cố định. Qua một loạt các trung tâm quay (tùy theo từng nhà sản xuất), chùm tia X hướng về phía phim đang chuyển động để ghi lại một mặt phẳng đã lựa chọn trên cấu trúc giải phẫu răng. Trung tâm quay là trục mà bóng phát tia và cassette phim xoay quanh, nó là tiêu điểm chức năng của các hướng tia. Không giống như máy chụp phim thông thường – chùm tia phát ra đi qua một côn định vị hình tròn hoặc hình chữ nhật, ở đây chùm tia phát ra qua một khe hẹp theo chiều dọc và tập trung lại thành một dải hẹp. Chùm tia đi qua đầu bệnh nhân tới cassette phim cũng qua một khe hẹp theo chiều dọc trên bộ phận giữ cassette và chiếu vào phim đang chuyển động. Do sử dụng chùm tia qua một khe hẹp nên rất ít mô bị chiếu xạ khi tia X xuyên qua. Và kết quả hình ảnh thu được trên phim toàn cảnh là rất rõ nét , đó là hình ảnh của một lớp tổ chức cong bao gồm cả mô răng và mô nâng đỡ. Mục đích: - Thấy được sự mọc răng, các khoảng trống, sự phát triển xương và các cấu trúc nâng đỡ - Thấy được các đường gãy, răng mọc ngầm, các khối u - Tình trạng cấu trúc xương, mô quanh răng,.. Kỹ thuật: - Bệnh nhân có thể đứng hoặc ngồi tùy thuộc từng máy, răng cửa cắn đối đầu, lưỡi đặt vào vòm miệng - Kỹ thuật chụp tùy từng máy 18 5.5. Phim CT Scanner Chụp cắt lớp vi tính có thể được định nghĩa như một phương pháp đo tỉ trọng Xquang của các đơn vị thể tích của một lát cắt. Phương pháp này cho ra những hình ảnh lát cắt của cơ thể với sự phân tích tỉ trọng chính xác hơn gấp 100 lần so với trên hình ảnh Xquang thường qui. - Đánh giá chính xác vị trí răng mọc ngầm, răng thừa của bệnh nhân - Trong RHM, thường sử dụng hai lát cắt axial và coronal - Đây là cách hữu dụng giúp xác định răng thừa, răng ngầm và hướng mọc của chúng 5.6. Phim CT conebeam Đánh giá chính xác vị trí răng mọc ngầm, răng thừa của bệnh nhân Cho phép tái tạo hình ảnh theo 3 chiều không gian Không bị ảnh giả khi trong miệng có phục hình Chụp toàn cảnh, cắt lớp thân răng và đỉnh bằng máy kỹ thuật số rồi kết hợp với máy tính, hình ảnh chụp được truyền sang máy tính cá nhân nối mạng, có cài đặt phần mềm sử dụng mạng Đây là cách hữu dụng giúp xác định răng thừa, răng ngầm, số lượng, vị trí, liên quan của nó với các cấu trúc lân cận: chân răng, thần kinh,… Từ đó, bác sĩ có định hướng tốt hơn trong cách thức phẫu thuật. 19 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu 1.1. Địa điểm Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện RHM TƯ 1.2. Đối tượng nghiên cứu Là trẻ em và người trưởng thành ở lứa tuổi từ 6 tuổi trở lên gồm cả nam và nữ đến khám và điều trị tại bệnh viện RHM TƯ từ đầu năm 2011 đến cuối năm 2012 được xác định là có răng mọc ngầm (các răng vĩnh viễn và răng thừa) Răng mọc ngầm không phải là răng sữa Không phân biệt giới tính, địa lý, dân tộc 2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau đây: - Lập hồ sơ bệnh án (có mẫu kèm theo, chụp Xquang cho bệnh nhân) - Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh Xquang của bệnh nhân có răng mọc ngầm(được chẩn đoán xác định có răng mọc ngầm ) 2.1. Cỡ mẫu Là mẫu toàn bộ 2.2. Loại mẫu Mẫu được chọn là mẫu thuận tiện, không xác suất, đối tượng được chọn vào mẫu có chủ đích Mẫu được chia làm các nhóm theo tuổi (theo tổ chức Y tế thế giới):  Nhóm I : từ 6 – 18 tuổi  Nhóm II: từ 19-39 tuổi  Nhóm III: từ 40-59 tuổi 20  Nhóm IV: trên 60 tuổi 2.3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả, hồi cứu, tiến cứu bằng Xquang, thăm khám lâm sàng và so sánh biến đổi của các biến số của đối tượng nghiên cứu. Sau khi lập hồ sơ bệnh án, tiến hành thống kê, phân tích số liệu dựa trên phần mềm SPSS 11.5. Nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau: 2.3.1. Khám lâm sàng Phỏng vấn, khám răng miệng và sức khỏe toàn thân (bệnh án mẫu) Sử dụng bộ khám gồm : khay khám, gương, gắp, thám trâm theo chuẩn của tổ chức Y tế thế giới để phát hiện các biểu hiện như: - Lệch lạc do răng ngầm - Đau sau khi làm cầu răng - U nang do răng ngầm - Hoại tử tủy nhóm răng do u nang R ngầm - Khe thưa - Thiếu răng vĩnh viễn - Còn răng sữa 2.3.2.Chụp phim Xquang - Phim sau huyệt ổ răng - Phim cắn hàm trên và hàm dưới - Phim panorama - Phim CT Scanner (nếu có) - Phim CT conebeam(nếu có) 2.3.3. Chẩn đoán xác định: Răng mọc ngầm Loại răng số mấy, tên răng - Vị trí
- Xem thêm -