Nhận thức về giá trị sống của học sinh trung học phổ thông hà nội hiện nay - thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN - QUẬN TÂY HỒ  ĐỀ TÀI DỰ THI KHOA HỌC, KĨ THUẬT DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CẤP THÀNH PHỐ LẦN THỨ 4 ( NĂM HỌC 2014 - 2015) Tên đề tài: NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ SỐNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Khoa học xã hội hành vi Lĩnh vực: NGƯỜI CỐ VẤN KHOA HỌC: TÁC GIẢ: - PGS - TS Nguyễn Minh Khải 1. Trần Minh Quang - Lớp 11 Toán 2. Ngô Minh Ngọc - Trường THPT Chu Văn An - Chức vụ: Phó Giám đốc - Đơn vị : Học viện Chính trị quân sự - Bộ quốc phòng NGƯỜI HƯỚNG DẪN: -Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hà -Đơn vị : THPT Chu Văn An Hà Nội, tháng 12 năm 2014 MỤC LỤC Trang PHẦN I : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……………………………………… 3 PHẦN II : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………… 3 PHẦN III : CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VỀ GIÁ TRỊ SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY……………………………………………………………………… 5 1.1 Khái niệm giá trị sống………………………………………………… 5 1.2.Khái niệm Kỹ năng sống……………………………………………… 8 1.3 Mối quan hệ giữa giá trị sống và kỹ năng sống ……………………… 8 1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị sống của học sinh THPT………. 9 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ SỐNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY……… 10 2.1 Hiểu biết về giá trị sống, kỹ năng sống qua nêu định nghĩa…………….10 2.2. Hiểu và phân biệt biểu hiện của giá trị sống và kỹ năng sống………… 14 CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY . 20 3.1.Biện pháp nâng cao nhận thức về giá trị sống cho học sinh THPT …… 20 3.2 Mối quan hệ của các biện pháp……………………………………….. 25 3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp…………. 25 3.4. Đề xuất một số chương trình hành động( Thực hiện tại trường THPT Chu Văn An) …………………………………………………………………… 29 KẾT LUẬN ………………………………………………………………. 29 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………….. 2 30 PHẦN I. Lý do chọn đề tài Một là, xuất phát từ vị trí vai trò của giá trị sống trong việc hoàn thiện phát triển nhân cách học sinh THPT hiện nay. Giá trị sống là những nguyên tắc hướng dẫn giúp ta chọn đường đi đúng, do vậy trong bất kì xã hội nào nó luôn là một yêu cầu và đòi hỏi tất yếu khách quan của xã hội, của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu mỗi cá nhân giải quyết hợp lý những giá trị sống phù hợp với giá trị của dân tộc, của thời đại thì sẽ tạo ra sự đồng thuận trong hành động của cá nhân với dân tộc và khi ấy mỗi người là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, góp phần tích cực vào sự phát triển xã hội. Có thể khẳng định giá trị sống vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển nhân cách. Hai là, xuất phát từ thực trạng nhận thức về giá trị sống của học sinh THPT hiện nay. Học sinh ngày càng có nhiều khoảng trống về giá trị sống, thiếu kĩ năng sống. Trong nhà trường phổ thông một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên học sinh hiện nay chưa được định hướng đúng đắn về các giá trị sống của bản thân, không xác định được vai trò trách nhiệm của mình đến gia đình, xã hội, và cuộc sống bản thân. Nhiều thanh niên, học sinh có những biểu hiện hành vi, đạo đức xa rời lối sống, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc. Tình trạng bạo lực, lạm dụng, sống buông thả, ứng xử thiếu văn hóa, thiếu tôn trọng người khác cũng như thiếu ý thức bảo vệ môi sinh ngày càng đáng báo động …nguyên nhân chính cũng từ sự thiếu hụt các giá trị sống của học sinh.. Ba là, xuất phát từ các hoạt động phong trào của Đoàn thanh niên trường THPT Chu Văn An - Hà Nội Bốn là, chưa có công trình nào của học sinh nghiên cứu về nhận thức Giá trị sống của học sinh THPT. Nhóm tác giả lựa chọn và nghiên cứu một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhằm phần nào đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp nâng cao nhận thức về giá trị sống, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh THPT. Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Nhận thức về Giá trị sống của học sinh THP Hà Nội hiện nay - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu khoa học. PHẦN II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu * Những nghiên cứu ở nước ngoài 3 Cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” (2010) của DIANE TILLMAN, phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: “Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết”. Ủy ban Giáo dục quốc tế thế kỉ XXI (Viết tắt là ICDE) xuất bản cuốn sách “Tôi tin tôi có thể làm được” Nội dung chính đề cập đến “Học cách làm người, Học cách ứng xử” Những nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, nhân cách con người với những giá trị sống căn bản và nền tảng đạo đức cốt lõi được xem là vấn đề quan trọng, luôn được các nhà giáo dục trên thế giới đặc biệt quan tâm. * Những nghiên cứu ở Việt Nam Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Trong giáo trình Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông (2013), tác giả đã triển khai nghiên cứu tổng quan về giá trị sống, kỹ năng sống, các phương pháp tiếp cận giá trị sống, kỹ năng sống trong giáo dục ở nhà trường phổ thông, đồng thời đề xuất một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông… Những nghiên cứu ở trong nước cho thấy, nhân cách con người Việt Nam với những giá trị sống truyền thống và tiếp thu những giá trị đương đại được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm từ xa xưa, luôn được bồi đắp suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Tính sáng tạo, tính mới của đề tài: Trong những năm qua, giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống trong nhà trường đã được một số tác giả quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên còn có rất ít những công trình quan tâm giải quyết vấn đề giáo dục giá trị sống ở một bậc học cụ thể, trên một địa bàn cụ thể. Các công trình nghiên cứu, các chương trình giáo dục thường tập trung vào nâng cao kỹ năng sống của học sinh. Đó chỉ là phần ngọn. Trong khi, giá trị sống là nền tảng, là gốc rễ của mọi hành vi ứng xử, hình thành nhân cách của học sinh. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có học sinh nào tham gia nghiên cứu cụ thể quan niệm nhận thức về giá trị sống của học sinh THPT. Do đó việc khảo sát thực trạng học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ làm sáng tỏ phần nào về ưu điểm, hạn chế trong nhận thức, hành động của 4 học sinh THPT Hà Nội về giá trị sống và qua đó đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức về giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay. Do vậy, chúng tôi chọn đề tài trên, là một nội dung mới trong nghiên cứu về lĩnh vực Khoa học xã hội hành vi. PHẦN III. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ GIÁ TRỊ SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 1.1 Khái niệm giá trị sống Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết thì: “Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn xã hội nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích” [13, tr.1462] Theo Từ điển Tiếng Việt thì giá trị là “cái mà người ta dùng làm cơ sở để xem xét một vật có lợi ích tới mức nào đối với con người” [12, tr. 354] Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Phạm trù giá trị sống được tạo nên bởi kĩ năng sống thành thạo trên nền tảng quan điểm sống đúng đắn. Đất nước nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được hệ giá trị bản thân đúng đắn và hợp thời, thì đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống giáo dục và nền giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu với thời đại” Có thể hiểu: Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Giá trị sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Giá trị sống là cái gốc, định hướng thúc đẩy cá nhân có thái độ, suy nghĩ, cảm xúc và hành động. Kĩ năng sống là hành vi biểu hiện, cách thức hành động của mỗi cá nhân. Cụ thể là chất lượng các mối quan hệ, tình trạng sức khỏe, trạng thái tâm trí, sử sụng thời gian, sử dụng các kĩ năng. 5 Có thể khái quát qua sơ đồ sau: Bên cạnh các giá trị mang tính bản sắc, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng miền, có những giá trị mang tính nhân loại, có nghĩa là không phân biệt màu da, quốc tịch, vị trí địa lý… mọi con người đều cùng hướng về những giá trị đó. Hơn nữa, sử dụng những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo sẽ giảm được sự phức tạp trong quá trình định chuẩn và tránh được những hậu quả khôn lường do chọn phải những thang giá trị lạc hậu làm chuẩn cho xã hội. Năm 1995, một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên hơn 100 nước, và các nhà nghiên đã đưa ra kết quả với 12 giá trị được đề cập sau đây: *Giá trị Hòa bình * Giá trị Tôn trọng *Giá trị Yêu thương 6 *Giá trị Khoan dung * Giá trị Trung thực *Giá trị Khiêm tốn *Giá trị Hợp tác *Giá trị Hạnh phúc *Giá trị Trách nhiệm * Giá trị Giản dị *Giá trị Tự do *Giá trị Đoàn kết Những giá trị sống trên đây là những giá trị tinh thần không đề cập đến giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khoẻ... và chủ yếu hướng vào các bình diện: - Những giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân (khoan dung, khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc) - Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng đồng... (tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm) - Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung (hoà bình, tự do ...) Những giá trị trên là giá trị phổ quát nhất, tuy nhiên, mỗi một lứa tuổi ở mỗi quốc gia, dân tộc lại có những giá trị sống khác nhau. Ở tuổi vị thành niên (9 – 10 tuổi đến 17 – 18 tuổi) là giai đoạn quan trọng nhất trong sự hình thành, phát triển nhân cách. Những giá trị sống được tiếp nhận và hình thành ở lứa tuổi này quyết định thiên hướng nghề nghiệp và cuộc sống tương lai của họ. Nhà trường cần giúp cho học sinh phát triển hệ giá trị của từng người. Những giá trị sống cần thiết không thể thiếu đối với học sinh trung học phổ thông là: - Ham học hỏi - Trung thực - Giàu tình yêu thương - Biết quan tâm đến người khác - Cần cù, siêng năng - Chủ động, tự tin - Chấp nhận thử thách, sẵn sàng vượt mọi khó khăn - Khoan dung, biết nhận lỗi và biết tha thứ - Yêu Tổ quốc và lịch sử dân tộc - Yêu hòa bình - Tôn trọng bạn bè - Sống có kỷ luật 7 - Đoàn kết - Khiêm tốn - Giản dị - Cần kiệm - Dũng cảm…. Những giá trị trên chỉ là những giá trị cơ bản nhất. Những học sinh càng có nhiều những giá trị sống thì sẽ phát triển và hoàn thiện phẩm chất, nhân cách, đạt được kết quả cao trong học tập và rèn luyện. Ngược lại, những học sinh thiếu hụt những giá trị sống cơ bản sẽ có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, sống buông thả, ứng xử thiếu văn hóa, vi phạm kỷ luật, có những hành vi bao lực, thậm chí vi phạm pháp luật gây ra những hậu quả đáng tiếc. Những vấn đề trên đặt ra cho các nhà trường nhiệm vụ cấp thiết phải coi trọng đúng mức giáo dục giá trị sống, góp phần nuôi dưỡng cho học sinh những giá trị sống tích cực, giúp cho các em trải nghiệm thực tiễn, phát triển toàn diện nhân cách người học. Giá trị sống có tính khách quan tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của mỗi người, cuốn hút con người, làm con người sống, tồn tại, phát triển với tư cách là chủ thể tích cực của tự nhiên, xã hội, của sự phát triển nhân cách. Giá trị sống không phải là chuẩn mực, giá trị do con người tự đặt ra, mà là do yêu cầu khách quan của cuộc sống quy định các giá trị, giá trị sống ở các thời kỳ lịch sử khác nhau. Giá trị sống có ý nghĩa và vai trò quan trọng tạo ra động lực thúc đẩy con người phát triển: tạo ra động cơ cho hành động, hành vi; thúc đẩy ham muốn hướng đến chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân với cộng đồng, với tự nhiên ... 1.2.Khái niệm Kỹ năng sống KNS chính là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói một cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. 1.3 Mối quan hệ giữa giá trị sống và kỹ năng sống Nếu con người không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù cho được học nhiều kỹ năng đến đâu, chúng ta sẽ không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi cho bản thân và cho xã hội. Không có nền tảng giá trị sống, chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản 8 thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay. Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá nhân. Giá trị sống giúp chúng ta cân bằng lại những mục tiêu vật chất. Những giá trị sống tích cực giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những biến động của cuộc đời, có thể sẽ không dễ dàng gì nhưng ta vẫn vượt qua được. Các kỹ năng sống trọng yếu là các kỹ năng cá nhân hay xã hội giúp học sinh truyền đạt những điều họ biết (Kiến thức), những gì họ suy nghĩ hay cảm nhận (Thái độ) và những gì họ tin (Giá trị) trở thành khả năng thực tiễn về những gì cần làm và làm như thế nào. Học sinh phải đối mặt với rất nhiều thử thách. Bằng việc nâng cao nhận thức và đưa các thành tố trọng yếu của KNS vào cuộc sống của học sinh phổ thông, sẽ giúp nâng cao năng lực để có được sự lựa chọn lành mạnh hơn, có được sự kháng cự tốt hơn với những áp lực tiêu cực và kích thích những thay đổi tích cực trong cuộc sống . Chính vì vậy trước khi hình thành KNS nào đó, học sinh cần cảm nhận rõ ràng về các giá trị sống và sự lựa chọn của mình đối với các giá trị. Có thể hiểu kỹ năng sống là biểu hiện những giá trị sống trong hoạt động và giao tiếp hàng ngày và ngược lại với kỹ năng thể hiện giá trị bằng hành động sẽ cho kết quả tích cực và nó lại củng cố các giá trị Kỹ năng sống giúp người ta học tập, làm việc hiệu quả hơn; giao tiếp, ứng xử với mọi người thân thiện, vui vẻ, hợp tác thành công hơn, biết tự điều chỉnh bản thân làm việc tốt, tránh việc xấu... Giá trị sống là cái định hướng, thúc đẩy cá nhân hành động, kỹ năng sống giúp cá nhân hành động hiệu quả, tạo ra sự thống nhất, nhất quán giữa nhận thức và hành động, giữa động cơ và hành vi, giữa nội dung và hình thức 1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị sống của học sinh THPT 1.4.1. Ảnh hưởng hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước và địa phương thời kỳ hội nhập 1.4.2. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh trung học phổ thông 1.4.3. Ảnh hưởng của gia đình 1.4.4. Năng lực của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên 1.4.5. Nhận thức của giáo viên, học sinh và xã hội 9 Kết luận chương 1 Trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay, đòi hỏi phải coi trọng nhân tố con người, coi trọng cả đức- trí- thể - mỹ. Trong sự phát triển tâm lực - trí lực - thể lực thì tâm lực đóng vai trò nền tảng, bệ phóng cho sự phát triển của trí lực và thể lực và đảm bảo cho một sự phát triển bền vững. Từ cơ sở lí luận về giá trị sống, kĩ năng sống mối quan hệ giữa giá trị sống và kĩ năng sống, những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị sống của học sinh THPT, có thể thấy học sinh trung học phổ thông cần chú trọng, quan tâm nhận thức về giá trị sống, kỹ năng sống là hết sức cần thiết và cấp bách, nâng cao nhận thức giá trị sống, kỹ năng sống là một nhiệm vụ thiết yếu trong tu dưỡng và rèn luyện của học sinh, nhằm trở thành những con người có đủ phẩm chất, nhân cách, năng lực và trí tuệ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ SỐNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY Để thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng nhận thức về giá trị sống của học sinh THPT Hà Nội hiện nay, nhóm tác giả đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi 200 học sinh phổ thông nhận thức về giá trị sống. Cụ thể như sau: Bảng 2.1. Đối tượng khảo sát thực trạng TT Đối tượng khảo sát Số lượng 1 Học sinh trường THPT Chu Văn An 80 2 Học sinh trường THPT Phan Đình Phùng 60 3 Học sinh trường THPT Tiến Thịnh 60 Tổng 200 Kết quả điều tra khảo sát như sau: 2.1 Hiểu biết về giá trị sống, kỹ năng sống qua nêu định nghĩa 2.1.1 Mức độ hiểu biết của HS về những giá trị sống 10 Bảng 2.2. Mức độ hiểu biết của HS về những giá trị sống Đánh giá mức độ hiểu biết của HS ( 100 học sinh) 1 Các giá trị truyền thống 4 4.0 Hiểu chưa sâu sắc SL Tỷ lệ 84 84 2 3 4 5 Giá trị hòa bình Giá trị tôn trọng Giá trị yêu thương Giá trị khoan dung 12 30 16 4 6 Giá trị trung thực 14 12 30 16 4.0 14 68 62 78 64 82 68 62 78 64 82 20 8 6 32 4 7 Giá trị khiêm tốn 20 20 66 14 8 Giá trị hợp tác 0 9 Giá trị hạnh phúc 12 0 12 54 76 66 14 54 76 46 12 46 12 10 Giá trị trách nhiệm 10 10 62 62 28 28 11 Giá trị giản dị 16 16 62 64 20 20 12 Giá trị tự do 10 10 70 70 20 20 13 Giá trị đoàn kết 12 12 78 78 10 10 TT Giá trị sống Hiểu sâu sắc SL Tỷ lệ Chưa hiểu hết SL Tỷ lệ 12 12 20 8.0 6.0 32 4.0 Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ HS được hỏi tự đánh giá có hiểu biết sâu sắc về các giá trị sống đạt tỷ lệ không cao, giá trị tôn trọng được đánh giá là hiểu sâu sắc đạt tỷ lệ cao nhất (30%), đặc biệt ở giá trị hợp tác có 46% tự đánh giá là chưa hiểu hết, các giá trị trách nhiệm, giá trị giản dị, giá trị khoan dung, giá trị hòa bình, giá trị tự do, đều có tỷ lệ tự đánh giá chưa hiểu hết là trên 20%. Như vậy có thể khẳng định, trình độ nhận thức về giá trị sống của HS chưa tốt, đa số chưa hiểu sâu sắc về giá trị sống. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả trên, từ nhà trường, gia đình, xã hội chưa chú trọng công tác giáo dục giá trị sống. Học sinh chưa quan tâm đến giá trị sống, chưa trang bị đủ kiến thức cơ bản về các giá trị sống. Vì vậy, đa số học sinh chưa hiểu hết hoặc hiểu chưa sâu sắc về các giá trị truyền thống cũng như các giá trị phổ quát của nhân loại. 11 2.1.2.Nhận thức của học sinh về giá trị sống, kỹ năng sống Bảng 2.3. Nhận thức của học sinh về giá trị sống, kỹ năng sống( 100 hs) Trình bày theo ý hiểu Số lượng Tỷ lệ (%) Kỹ năng sống là sự biểu hiện những giá trị sống trong hoạt động và giao tiếp hàng ngày 83 83 Không trình bày được hoặc trình bày chưa đúng về kỹ năng sống 17 17 Giá trị sống là những gì có lợi, quý giá, quan trọng, đáng ham chuộng, có ý nghĩa với cuộc sống khiến mỗi người mong muốn lĩnh hội, thể hiện ra để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn, góp phần cải thiện cuộc sống chung. 22 22 Không trình bày được hoặc trình bày chưa đúng về giá trị sống 78 78 Qua số liệu thống kê điều tra, nhận thấy: - Đa số học sinh đã trình bày được khái niệm về kỹ năng sống, - Tỷ lệ nhận thức được giá trị sống là gì còn rất thấp (22%) Nhận xét khái quát chung: - Tỷ lệ nhận thức về khái niệm giá trị sống ở tất cả các đối tượng khảo sát đều thấp, nhất là ở học sinh (mới là 22%). Như vậy tỷ lệ chưa quan tâm đến và chưa hiểu đầy đủ giá trị sống là gì còn ở mức cao. - Kỹ năng sống là một trong những nội dung được đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện cho học sinh trong các nhà trường những năm qua, nhưng số liệu điều tra cũng cho thấy một bộ phận học sinh chưa nắm vững kỹ năng sống là gì. Nguyên nhân khách quan là nhận thức của học sinh chưa cao về giá trị sống, mới hiểu về kĩ năng sống. Nguyên nhân từ nhà trường, gia đình, xã hội chưa chú trọng công tác giáo dục giá trị sống. mà mới bắt đầu quan tâm đến giáo dục kĩ năng sống trong vài năm trở lại đây, và chủ yếu quan tâm giảng dạy văn hóa là chính trong các trường phổ thông. Học sinh chưa được trang bị và tự trang bị đầy đủ về giá trị sống, kĩ năng sống, chưa hiểu giá trị sống chính là gốc rễ của việc hoàn thiện nhân cách con người. 2.1.3. Nhận thức của học sinh THPT về tầm quan trọng của giáo dục GTS 12 Bảng 2.4. Nhận thức của học sinh THPT về tầm quan trọng của giáo dục GTS( 200 hs) Quan điểm Số người tán thành Tỷ lệ (%) Cần giáo dục kỹ năng sống tốt 124 62 hơn Cần giáo dục giá trị sống tốt 76 38 hơn Ghi chú Trong số cho rằng cần giáo dục kỹ năng sống hơn, có một số ý kiến cho rằng: - Khi con người biết kỹ năng sống thì sẽ biết sống làm sao cho đúng, phù hợp thì mang lại giá trị sống tốt đẹp. - Kỹ năng sống tốt mới tạo nên được giá trị sống tốt, có kỹ năng sống sẽ có giá trị sống. - Giúp mỗi người tự hoàn thiện phẩm chất và nhân cách. - Học sinh bây giờ phải được giáo dục về đạo đức và lối sống lành mạnh để phù hợp với lứa tuổi. - Có kinh nghiệm sống phù hợp sẽ có nhiều kinh nghiệm đối mặt với những việc xảy ra trong cuộc sống. - Giúp biết cách ứng xử, giao tiếp cho phù hợp, thể hiện một con người thanh lịch. Trong các ý kiến cho rằng cần giáo dục giá trị sống hơn cho rằng: - Biết được mục đích sống của mình thì sẽ biết kỹ năng nào phù hợp tốt nhất đạt được mục đích. - Giá trị sống phản ánh bản chất nhân cách phẩm chất đạo đức con người. - Xác định giá trị sống đúng đắn, cá nhân sẽ có biện pháp đi đến kết quả. Nguyên nhân thực trạng nhận thức trên do học sinh vẫn chưa hiểu giá trị sống là cốt lõi, gốc rễ dẫn đến hành vi, kĩ năng của mỗi con người. Chưa hiểu giá trị sống là gốc thúc đẩy thái độ, suy nghĩ, cảm xúc, hành động của mỗi con người. Chưa nhận thức đúng nếu có giá trị sống cốt lõi mới có kĩ năng sống tốt. Về phía nhà trường, gia đình, xã hội đã quan tâm giáo dục kĩ năng sống, nhưng chưa thấy hết vai trò tầm quan trọng của giá trị sống. 2.1.4. Nhận thức của học sinh về sự chi phối lẫn nhau giữa kỹ năng sống và giá trị sống; quan điểm sự cần thiết, tính quan trọng trong giáo dục giá trị sống trước hay giáo dục kỹ năng sống trước Bảng 2.5. Nhận thức của học sinh về sự chi phối lẫn nhau giữa kỹ năng sống và giá trị sống( 200 hs) 13 Quan điểm Kỹ năng sống chi phối giá trị sống Giá trị sống chi phối kỹ năng sống Kỹ năng sống là những giá trị bản chất Giá trị sống là những giá trị bản chất Kỹ năng sống tạo ra động cơ, sáng tạo của hoạt động sống Giá trị sống tạo ra động cơ, sáng tạo của hoạt động sống Giáo dục kỹ năng sống trước giá trị sống Giáo dục giá trị sống trước kỹ năng sống Giáo dục kỹ năng sống quan trọng hơn GTS Giáo dục giá trị sống quan trọng hơn KNS Số lượng 134 66 92 108 112 Tỷ lệ (%) 67 33 46 54 56 88 44 140 60 118 82 70 30 59 41 Qua bảng thống kê số liệu điều tra thực trạng cho thấy: - Tỷ lệ nhận thức sai lầm: cho rằng kỹ năng sống chi phối giá trị sống khá cao (67%). - Mâu thuẫn với: tỷ lệ nhận thức GTS là những giá trị bản chất (54%) cao hơn tỷ lệ nhận thức kỹ năng sống là những giá trị bản chất (46%). Như vậy, ta thấy rằng mâu thuẫn giữa các con số điều tra thống kê thể hiện sự nhận thức của học sinh về giá trị sống, kỹ năng sống còn hạn chế. - Đa số học sinh vẫn cho rằng cần giáo dục KNS trước (70 %) và giáo dục KNS quan trọng hơn giáo dục GTS (59 %). - Tuy nhiên, học sinh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị sống cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này đã có, nhưng còn thấp. Nguyên nhân: - Sự hiểu biết của các đối tượng khảo sát về sự chi phối lẫn nhau giữa kỹ năng sống và giá trị sống; quan điểm sự cần thiết, tính quan trọng trong giáo dục giá trị sống trước hay giáo dục kỹ năng sống trước còn nhiều hạn chế, chưa sâu sắc, chưa thống nhất. - Nhận thức của học sinh về giá trị sống còn rất yếu và mơ hồ. 2.2. Hiểu và phân biệt biểu hiện của giá trị sống và kỹ năng sống 2.1.2. Học sinh THPT nhận diện về dấu hiệu của kỹ năng sống, giá trị sống Bảng 2.6. Học sinh THPT nhận diện về dấu hiệu của kỹ năng sống, giá trị sống( 100 hs) 14 TT Những biểu hiện KNS GTS 1 Phản ánh bản chất nhân cách 29 71 2 Thể hiện hành vi trong giao tiếp, hoạt động 83 17 3 Thể hiện một hành động cụ thể 81 19 4 Thể hiện phẩm chất đạo đức 41 59 5 Thể hiện nhận thức chính trị, xã hội 48 52 6 Thể hiện giá trị của con người 24 76 7 Thể hiện sự thống nhất giữa nhận thức và hành động 52 48 8 Là động cơ của hành vi, hoạt động 61 39 9 Là kỹ thuật thực hiện một thao tác hoạt động 86 14 10 Là sự thống nhất giữa lý thuyết và hành động 60 40 11 Hành động theo thói quen 64 36 Qua số liệu điều tra thể hiện trong bảng, nhận thấy: - Các dấu hiệu về kỹ năng sống được nhận biết với tỷ lệ cao. Như: thể hiện hành vi trong giao tiếp, hoạt động (83%), là kỹ thuật thực hiện một thao tác, hoạt động (86%) - Những biểu hiện của giá trị sống chưa được nhận thức đầy đủ, có tới khoảng một nửa trong số được hỏi nhầm lẫn về những biểu hiện này. Như: thể hiện phẩm chất đạo đức chỉ có 59% cho là GTS, còn 41% cho là KNS ... Nguyên nhân là do nhận thức của học sinh về giá trị sống còn rất yếu. Chưa phân biệt rõ ràng các dấu hiệu, biểu hiện của giá trị sống hay kĩ năng sống. 2.1.3.. Học sinh phân biệt về những giá trị sống và kỹ năng sống Bảng 2.7. Học sinh phân biệt về những giá trị sống và kỹ năng sống(100 hs) Nhận thức Nhận thức về sự cần TT Nội dung thiết với KNS GTS bản thân 1 Kỹ năng ứng xử trong mọi tình huống 89 11 71 2 Tính kỷ luật và tính tổ chức 54 46 58 Khả năng xử lý thông tin, tính toán, cân 3 81 19 70 nhắc, giải quyết vấn đề 4 Tôn trọng phục tùng đạo lý, pháp lý, công 53 47 85 15 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 lý Kính trọng người lớn tuổi Biết nói lời xin lỗi khi mắc sai lầm Lòng yêu nước Lòng nhân ái Lòng trung tín, thẳng thắn Tôn trọng, quý trọng lao động, sản phẩm của lao động chân tay và trí óc. Biết nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ Có trách nhiệm với gia đình, dòng họ, cộng đồng nơi ở. Nỗ lực học tập, rèn luyện chuẩn bị cho lập nghiệp tương lai Tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện Yêu mến và bảo vệ môi trường, sinh thái Sống có nghĩa, có tình Tính lạc quan, hướng tới chân, thiện, mỹ Biết day dứt, hối hận khi có sai lầm Khiêm tốn, nhường nhịn Biết tránh xa các tệ nạn xã hội, ma tuý Yêu mến và biết bảo tồn các chuẩn mực gia đình Đoàn kết, giúp đỡ bạn bè Tiết kiệm Giản dị 78 61 20 27 24 22 39 80 73 76 76 72 93 82 74 41 59 64 83 17 80 63 37 77 54 46 80 51 72 47 36 65 69 73 49 61 69 53 64 35 31 27 37 63 68 57 61 65 43 39 35 80 65 60 39 78 82 70 72 81 Qua số liệu thống kê điều tra, nhận thấy: - Những kỹ năng sống được học sinh nhận biết với tỷ lệ cao. Như: kỹ năng ứng xử trong mọi tình huống (89%), khả năng xử lý thông tin, tính toán, cân nhắc, giải quyết vấn đề (81%), biết nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ (83%) ... - Nhiều giá trị sống chưa được học sinh nhận thức đầy đủ. Như: sống có nghĩa có tình (53%), khiêm tốn nhường nhịn (31%) ... - Một số giá trị sống được học sinh vươn tới, mong muốn có được ở bản thân. Như: biết tôn trọng, phục tùng đạo lý, pháp lý, công lý (85%); lòng yêu nước (93%); lòng nhân ái (82%); nỗ lực học tập, rèn luyện chuẩn bị cho lập nghiệp tương lai (80%) ... 16 - Tiếc rằng, có một tỷ lệ học sinh không xác định được giá trị sống, không xác định được những giá trị sống cần thiết để mình vươn tới. Nhận xét khái quát : Về cơ bản, những giá trị sống và kỹ năng sống nổi bật cốt lõi đã được nhận diện và phân biệt với tỷ lệ khá cao. Tuy nhiên, còn nhiều đối tượng khảo sát chưa phân biệt, nhận diện được đầy đủ giá trị sống, kỹ năng sống. Nguyên nhân do một bộ phận học sinh chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ sự cần thiết của giá trị sống đối với bản thân, số liệu này có quan hệ với đánh giá “hiện nay có một bộ phận học sinh có những biểu hiện hành vi lệch chuẩn”. Học sinh còn mơ hồ về giá trị truyền thống và 12 giá trị sống phổ quát của nhân loại. Khi nhận thức chưa sâu sắc về giá trị sống, chưa thấy được tầm quan trọng của giá trị sống cũng như chưa hiểu về sự chi phối lẫn nhau giữa giá trị sống và kĩ năng sống thì việc phân biệt giá trị hay kĩ năng là hạn chế. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức GTS của HS. Đánh giá chung *Ưu điểm Học sinh ngày nay khá năng động, hoạt bát, chăm học, luôn khao khát vươn lên, khao khát tự thể hiện mình trong học tập, rèn luyện. Đội ngũ các thầy cô giáo đạt chuẩn; yêu nghề mến trẻ; năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm vững vàng, hết lòng vì học sinh thân yêu.. Xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” là tiền đề cho các hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống…Sự ủng hộ, quan tâm của các ban, ngành đối với các hoạt động của nhà trường; trong đó có hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh.. Ban đại diện Cha Mẹ học sinh các bậc phụ huynh luôn quan tâm, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giáo dục học sinh… *Hạn chế Do quy mô gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con nên con cái thường được nuông chiều; hầu như ít tham gia, tiếp xúc với hoạt động tập thể; với hoạt động của cộng đồng…Còn thụ động nhiều, thiếu mạnh dạn bày tỏ ý kiến trước tập thể lớp, trước Thầy Cô. Chưa tự giải quyết xử lý tình huống hoặc xử lý tình huống chưa đạt được như ý muốn.. Đa phần học sinh nhận thức chưa sâu sắc về giá trị sống, chưa thấy được tầm quan trọng của giá trị sống cũng như chưa hiểu về sự chi phối lẫn nhau giữa giá trị sống và kĩ năng sống, giá 17 trị sống là gốc rễ, thúc đẩy hành vi kĩ năng, ứng xử trong cuộc sống.Chưa hiểu rõ giá trị sống giúp hoàn thiện nhân cách con người. *Nguyên nhân Ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường làm cho môi trường văn hóa xã hội có nhiều thay đổi, thậm chí làm cho nhiều thang giá trị đảo lộn, lấy giá trị vật chất làm thước đo. Toàn cầu hóa và hội nhập, mặt trái của khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin kéo theo sự xâm lấn của văn hóa ngoại lai, đặc biệt là văn hóa đồi trụy, bạo lực, chủ nghĩa thực dụng, hiện sinh, sự yếu kém của nền kinh tế làm cho không gian học đường hạn chế… Các nhà trường chưa thường xuyên bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống. Chương trình giáo dục chưa đáp ứng kịp thời những yêu cầu của cuộc sống đặt ra.. Đã một thời gian dài, các nhà trường không quan tâm chú trọng đến hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh các cấp. Chương trình học các cấp nặng về dạy kiến thức, nhẹ về giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống (nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy làm người). Học sinh học văn hoá nhiều, vì chương trình còn nặng, không có nhiều thời gian hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa… Gia đình chưa quan tâm giáo dục giá trị sống cho con em từ gốc, trong ứng xử gia đình, chưa phối kết hợp với nhà trường, xã hội bồi dưỡng tích lũy giá trị sống căn bản cho học sinh. Nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến tư duy, quan điểm của phụ huynh, của học sinh. Đó là chạy theo những ngành nghề “thời thông”, mau chóng có nhiều tiền, mau chóng giàu có, bất chấp mọi hậu quả có thể xảy ra. Đó là tư tưởng tôn sùng đồng tiền, tôn sùng giá trị vật chất mà coi nhẹ các giá trị khác (trong đó có giá trị sống, cách sống)… Học sinh còn thụ động, chưa biết cách xử lý trong các tình huống cũng như trong các vấn đề mà cuộc sống đặt ra.Chưa tự giác nâng cao kiến thức về giá trị sống. Kiến thức sách vở chưa kịp thời cập nhật thực tế, còn xa rời thực tế dẫn đến tình trạng “lệch pha” giữa kiến thức trong nhà trường và kiến thức ngoài xã hội. Tâm, sinh lý học sinh có những biến đổi phức tạp, khác xa so với những bài học về “Tâm lý học” cách đây hàng thập kỷ. Thầy cô chưa nắm hết tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của học sinh cũng như những biểu hiện khác trong học tập, trong sinh hoạt hàng ngày. Qua đó, nhận thấy rằng: nâng cao nhận thức về giá trị sống cho học sinh nói chung và học sinh trung học phổ thông là một việc làm cấp thiết hiện nay. 18 Việc tìm ra một số giải pháp để nâng cao nhận thức về GTS cho học sinh là một vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay ở các trường THPT. Kết luận chương 2 Qua khảo sát thực tiễn cho thấy học sinh tuy đã quan tâm đến vai trò ý nghĩa của việc rèn luyện toàn diện, rèn luyện nhân cách con người song còn rất mơ hồ về các giá trị sống, chưa thực sự hiểu giá trị sống cốt lõi, căn bản mới là gốc rễ của hành vi, đạo đức, kĩ năng…Học sinh chưa thực sự hiểu giá trị sống chi phối thái độ, suy nghĩ, cảm xúc, hành động. Dẫn đến việc cá nhân sử dụng các kĩ năng, thời gian, tình trạng tâm trí, sức khỏe và chất lượng các mối quan hệ tốt nhất. Việc tổ chức nghiên cứu hệ thống những giá trị sống, giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT là việc làm cần thiết, tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường. Từ đó giúp học sinh có những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống. Thực trạng trên là cơ sở thực tiễn để đề xuất những biện pháp nâng cao nhận thức về giá trị sống giúp học sinh tiếp nhận, rèn luyện các giá trị sống trong nhà trường phổ thông thành thạo các kĩ năng sống, để trở thành những công dân hữu ích cho xã hội. Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 3.1.Biện pháp nâng cao nhận thức về giá trị sống cho học sinh THPT 3.1.1. Biện pháp 1: Đối với nhà trường Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho các lực lượng giáo dục và đội ngũ học sinh. 19 *Mục tiêu Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT là hình thành nên những giá trị sống để học sinh sống tốt đẹp hơn, làm việc chất lượng, hiệu quả hơn, đem lại lợi ích trước hết cho học sinh, đồng thời cho gia đình, nhà trường và xã hội. Nguồn nhân lực là yếu tố thành công của mọi hoạt động, bởi vậy việc xây dựng đội ngũ là một trong những biện pháp hết sức quan trọng. Qua tìm hiểu, điều tra thực tế cho thấy giáo viên nhà trường đều cho rằng giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh là cần thiết, nhưng việc làm này còn mới với các nhà trường. Nhiều GV cũng chưa được trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết để tổ chức hoạt động. đồng thời khơi dậy trong họ ý thức trách nhiệm của người thầy “Dạy chữ phải kết hợp với dạy người”. *Nội dung Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh nhà trường về vai trò của hoạt động giáo dục giá trị sống đối với quá trình giáo dục toàn diện ở nhà trường THPT. Trang bị kiến thức và kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho cán bộ giáo viên nhà trường. Khơi dậy ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, sự tích cực tham gia hoạt động của học sinh. *Cách thực hiện biện pháp Đối với cán bộ quản lý: Cần phải tổ chức học tập nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo, quán triệt một cách sâu sắc yêu cầu về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại ngày nay, xóa bỏ tư tưởng “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”. Cần xử lý một cách bình đẳng giữa hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục, không xem nhẹ chức năng nào, có như vậy thì nhà trường mới có những định hướng đúng đắn trong công tác chỉ đạo hoạt động quản lý quá trình đào tạo của nhà trường. Đối với đoàn thanh niên Đoàn thanh niên trong nhà trường có vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục chính trị tư tưởng cho ĐVTN, các hoạt động của Đoàn trường thu hút và tập hợp thanh niên tham gia đông đảo, thông qua đó giáo dục lý tưởng, giáo dục ý thức trách nhiệm trong cộng đồng, tạo điều kiện để ĐVTN nhà trường được trải nghiệm thực tế. Chỉ đạo Đoàn TN nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục GTS theo từng tuần, từng tháng, từng học kỳ và cả năm học, triển khai kế hoạch hoạt động đến giáo viên và học sinh trong trường. 20
- Xem thêm -