Nguyễn Văn Vĩnh trong sự hình thành và phát triển báo chí Việt Nam

  • Số trang: 206 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Văn Vĩnh trong sự hình thành và phát triển báo chí Việt Nam Luận văn ThS. Truyền thông đại chúng: 60.32.01 Nguyễn Văn Yên Nghd. : PGS. TS. Nguyễn Thị Minh Thái 1 MỤC LỤC Mở đầu Trang Chương 1: Giao lưu văn hoá Đông Tây và sự hình thành báo chí quốc ngữ ở Việt Nam 9 1.1.Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây 9 1.2.Chữ quốc ngữ hình thành và phát triển ở Việt Nam 13 1.3.Một số tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam 19 1.3.1. Báo chí quốc ngữ ở Nam kỳ 19 1.3.2. Báo chí quốc ngữ ở Bắc kỳ 24 Đăng Cổ Tùng Báo 24 Đông Dương tạp chí và Trung Bắc Tân Văn 29 1.4. Tiểu kết chương 1 34 Chương 2: Nguyễn Văn Vĩnh-nhà truyền bá chữ quốc ngữ và 39 phát triển báo chí quốc ngữ 2.1. Thân thế sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh 39 2.1.1.Thân thế 39 2.1.2.Các tác phẩm trong sự nghiệp 41 2.2. Những cải cách để chữ quốc ngữ xâm nhập vào Việt Nam 44 2.3. Nguyễn Văn Vĩnh tuyên truyền chữ quốc ngữ trên Đăng cổ tùng báo 49 2.3. Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí trong sự nghiệp truyền bá chữ quốc ngữ 65 2.3.1. Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trên cương vị chủ bút Đông Dương tạp chí 65 2.3.2. Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trên phương diện nhà báo ở Đông Dương tạp chí 74 2.4. Nguyễn Văn Vĩnh tuyên truyền về chữ quốc ngữ trên báo L’Annam nouveau (An nam mới) 87 2.4.1. Nguyễn Văn Vĩnh làm báo tiếng Pháp để được tự do trình bày quan điểm, tư tưởng 87 2.4.2.Một số đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí quốc ngữ trên L’Annam nouveau 90 2.5. Tiểu kết chương 2 97 Chương 3: Nguyễn Văn Vĩnh-người tiên phong trong nghệ thuật viết báo đầu thế kỷ XX 103 3.1. Báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh 104 3.1.1.Báo xã thuyết 104 3.1.2.Chuyên mục Nhời đàn bà 110 3.1.3. Loạt bài Xét tật mình 117 3.2. Phê bình văn hóa nghệ thuật trên báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh 120 3.3. Phóng sự Nguyễn Văn Vĩnh qua Từ triều đình Huế trở về và Một tháng với những người đi tìm vàng 125 3.3.1.Phóng sự Từ triều đình Huế trở về 125 3.3.2.Phóng sự Một tháng với những người đi tìm vàng 132 3.4. Tiểu kết chương 3 142 Kết luận 146 Tài liệu tham khảo Phụ lục MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Từ trƣớc đến nay, lịch sử báo chí Việt Nam đã ghi lại nhiều tấm gƣơng của các nhà báo kiệt xuất mà một trong số đó là nhà báo Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Những nhà báo tiên phong ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ngay trong thời kỳ phôi thai của báo chí chữ quốc ngữ, bằng sức lao động, tài năng và nhiệt huyết đối với một loại hình văn hoá mới mẻ, đã đặt những nền móng đầu tiên để xây dựng nên nền báo chí chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc dân tộc nhƣ ngày nay. Do hoàn cảnh lịch sử, đặc biệt là những biến động chính trị khốc liệt diễn ra trong suốt hơn một thế kỷ trên mảnh đất Việt Nam, nhiều nhà báongƣời làm báo Việt Nam đã phải làm việc trong những hoàn cảnh đặc thù, bị chi phối bởi các điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá khác nhau. Đánh giá sự đóng góp của các nhà báo đi tiên phong trong nền báo chí chữ quốc ngữ là một công việc cấp thiết, bởi cùng với thời gian, rất nhiều tƣ liệu về thời kỳ đầu của chữ quốc ngữ cũng nhƣ báo chí chữ quốc ngữ đang dần bị mai một, chƣa đƣợc lƣu giữ lại một cách hệ thống. Đánh giá đúng những đóng góp của các nhà báo tiền bối không chỉ thể hiện đạo lý uống nƣớc nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam mà nó còn góp phần xây dựng một hệ thống đánh giá lịch sử khách quan và khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn có những ngƣời đã có nhiều cống hiến cho văn hoá nói chung và báo chí Việt Nam nói riêng nhƣng vẫn chƣa đƣợc nhìn nhận một cách khoa học, khách quan, tƣơng xứng với vai trò của họ đối với lịch sử báo chí nƣớc ta. 1 Một trong những con ngƣời đó là Nguyễn Văn Vĩnh, ngƣời đã có những đóng góp to lớn đối với sự hình thành và phát triển báo chí quốc ngữ hồi đầu thế kỷ XX, đồng thời đặt nền móng cho báo chí Việt Nam trong suốt hơn một trăm năm qua. Nguyễn Văn Vĩnh sống và làm việc vào thời điểm khi mà thực dân Pháp đã hoàn thành xong việc xâm lƣợc nƣớc ta và bắt đầu thiết lập hệ thống cai trị thực dân một cách quy củ. Phong trào đấu tranh vũ trang của các sĩ phu, văn thân yêu nƣớc về cơ bản đã bị thực dân Pháp dẹp tan; nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nƣớc vào thời điểm lúc bấy giờ nhận thấy sự chênh lệch quá lớn giữa một bên là lực lƣợng của Pháp, một bên là các lực lƣợng đòi độc lập dân tộc, đã trăn trở đi tìm con đƣờng mới để cứu nƣớc, giải phóng cho dân tộc. Nguyễn Văn Vĩnh làm báo và viết báo trong bối cảnh chính trị phức tạp hồi đầu thế kỷ XX, khi làn sóng văn hoá phƣơng Tây theo bƣớc chân của quân viễn chinh Pháp tràn vào Việt Nam. Để có thể làm báo và viết báo, thực hiện cái chí hƣớng của đời mình là truyền bá chữ quốc ngữ, xây dựng một nền báo chí quốc ngữ hùng mạnh nhằm nâng cao dân trí, phát huy nội lực, thúc đẩy công cuộc duy tân mà những nhà cách mạng nhƣ Phan Chu Trinh khởi xƣớng, Nguyễn Văn Vĩnh buộc phải đi cheo leo ở vị thế của một ngƣời phải phụ thuộc vào chính quyền cai trị (thì mới đƣợc làm báo, viết báo), đồng thời cố gắng không đánh mất mình (trƣớc những cám dỗ nhƣ Pháp hai lần muốn trao Bắc đẩu bội tinh hay nhận một chức quan trong triều đình Huế, thậm chí cả những lời doạ dẫm từ phía chính quyền). Chính cái vị thế ấy của Nguyễn Văn Vĩnh trong bối cảnh chính trị phức tạp đã dẫn tới một số đánh giá có phần nghiệt ngã, không chính xác về con ngƣời Nguyễn Văn Vĩnh, chủ yếu dựa trên quan điểm chính trị, từ đó có 2 cách nhìn chƣa khách quan, đúng đắn về sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhƣ những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với văn hoá Việt Nam nói chung và báo chí nói riêng. Trong trào lƣu đổi mới ở nƣớc ta, việc nhìn nhận lại một cách công bằng, khách quan, đánh giá đúng giá trị đóng góp của những ngƣời nhƣ Nguyễn Văn Vĩnh là một điều cần thiết. Luận văn này nhằm nghiên cứu những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với việc truyền bá chữ quốc ngữ và xây dựng nền báo chí quốc ngữ, góp phần xác định vai trò cũng nhƣ ảnh hƣởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí Việt Nam. 2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu của Luận văn Chính do có sự đánh giá nhiều chiều về Nguyễn Văn Vĩnh trong một thời gian dài nên việc nghiên cứu những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh ở nƣớc ta chƣa đƣợc xúc tiến một cách hệ thống mà mới chỉ có rải rác các bài báo, các bài viết lẻ trong một số sách báo, tạp chí, về Nguyễn Văn Vĩnh. Chƣa có một công trình khoa học, Khoá luận, Luận văn hay Luận án riêng biệt nào nghiên cứu về cá nhân Nguyễn Văn Vĩnh. Một trong những ngƣời viết về Nguyễn Văn Vĩnh sớm nhất là nhà văn Vũ Ngọc Phan. Trong bộ sách Nhà văn Việt Nam dày hơn 1000 trang, Vũ Ngọc Phan đã dành một phần nhỏ về Nguyễn Văn Vĩnh trong nội dung nói về nhóm Đông Dương tạp chí, cùng một số ngƣời khác cũng tham gia nhóm này nhƣ Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục. Nhà văn Vũ Bằng, ngƣời từng có thời gian làm báo cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, đã có một số hồi ức về Nguyễn Văn Vĩnh trong các tác phẩm nhƣ Bốn mươi năm nói láo, Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp. Những 3 hồi ức này tuy cung cấp khá nhiều tƣ liệu về cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh nhƣng những tƣ liệu đó đƣợc soi chiếu qua cảm xúc cá nhân của nhà văn nên ít có giá trị tham chiếu về mặt khoa học. Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nƣớc ký hiệu KX 06-17 của tác giả Hoàng Tiến, sau đƣợc in thành sách với nhan đề Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX, quyển I, do Nhà xuất bản Lao Động xuất bản năm 1994, khi xem xét bối cảnh phát triển chữ quốc ngữ ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX cũng đã đề cập đến những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với việc truyền bá chữ quốc ngữ ở Việt Nam. Tuy nhiên, nội dung về Nguyễn Văn Vĩnh chỉ chiếm một phần trong đề tài nghiên cứu về chữ quốc ngữ này. Ngoài ra, một số tác giả nhƣ Dƣơng Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Hoàng Đạo Thúy cũng đã có những bài viết nhỏ hoặc đoạn văn ngắn đề cập đến Nguyễn Văn Vĩnh trong các tác phẩm của mình. Thời kỳ trƣớc năm 1975, ở Sài Gòn đã có một vài công trình có đề cập đến Nguyễn Văn Vĩnh, chủ yếu nằm trong một vấn đề đƣợc nghiên cứu bao quát hơn. Chủ yếu đó là những luận đề đƣợc sử dụng trong các trƣờng học nhƣ Luận đề về nhóm Đông Dương tạp chí (của GS.TS Nguyễn Bá Lƣơng, Tao Đàn xuất bản-không rõ năm), Luận đề về Đông Dương tạp chí (của các GS Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong, nhà Khai Trí xuất bản năm 1961), Luận đề Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh (của GS. Kiêm Đạt, Bạn Trẻ xuất bản năm 1958)... Trong tác phẩm Lịch sử báo chí Việt Nam, từ khởi thủy đến năm 1930, tác giả Huỳnh Văn Tòng cũng chỉ đôi chỗ nhắc đến những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh... Một số bài báo về Nguyễn Văn Vĩnh cũng đƣợc đăng trên tạp chí Bách Khoa ở Sài Gòn trƣớc năm 1975. 4 Nói tóm lại, Luận văn này là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, tƣơng đối tổng quát về Nguyễn Văn Vĩnh và những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí Việt Nam 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1.Đối tượng nghiên cứu: Để nghiên cứu về những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí chữ quốc ngữ, tác giả Luận văn căn bản dựa trên các tài liệu của Nguyễn Văn Vĩnh do gia đình Nguyễn Văn Vĩnh cung cấp, trong đó đặc biệt lƣu ý đến các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh đăng tải trên báo chí hồi đầu thế kỷ XX. Các tác phẩm báo chí này bao gồm các bài báo chữ quốc ngữ do gia đình Nguyễn Văn Vĩnh sƣu tầm và đóng thành tập. Do trong cuộc đời làm báo của mình, Nguyễn Văn Vĩnh có nhiều giai đoạn viết báo bằng tiếng Pháp nên tác giả Luận văn cũng nghiên cứu các tác phẩm báo chí tiếng Pháp này thông qua các bản dịch do những ngƣời thân trong gia đình Nguyễn Văn Vĩnh dịch và do vậy, tất nhiên phụ thuộc vào cảm quan cá nhân của ngƣời dịch Ngoài ra, việc xem xét, nghiên cứu các tờ báo mà Nguyễn Văn Vĩnh đóng vai trò trụ cột nhƣ chủ nhiệm, chủ bút chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình làm Luận văn này bởi nó cho phép có đƣợc cái nhìn tƣơng đối tổng quát về Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhƣ những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí Việt Nam. Đặc biệt đáng lƣu ý là các bộ Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, L’Annam nouveau. Các bài báo, kể cả những bài báo có cách đánh giá nhiều chiều về Nguyễn Văn Vĩnh, đăng rải rác trên báo chí Việt Nam sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, cũng đƣợc tác giả Luận văn xem xét một cách nghiêm túc. 5 3.2.Phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu các tài liệu trong Luận văn đƣợc giới hạn từ đầu thế kỷ XX đến nay, trong đó đặc biệt lƣu ý đến các tài liệu báo chí trong quãng thời gian từ năm 1907 là khi Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu làm Đăng Cổ tùng báo, đến năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, lúc vẫn viết cho L’Annam nouveau. 4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1.Mục đích nghiên cứu: Thông qua khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhƣ tài liệu có liên quan, tác giả Luận văn muốn từ đó rút ra đƣợc những đánh giá khoa học, khách quan về đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trên hai mảng chính là truyền bá chữ quốc ngữ và viết báo, qua đó có đƣợc một sự đánh giá chính xác về vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử báo chí Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. 4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu: Cố gắng đƣa ra đƣợc một cách đánh giá tổng thể những đóng góp cực kỳ to lớn của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc truyền bá chữ quốc ngữ và vai trò tiên phong trong nghệ thuật viết báo với nhiều thể loại báo chí quốc ngữ Việt Nam. 5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1.Cơ sở lý luận: 6 Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, dựa trên đƣờng lối chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về việc đánh giá trung thực, công bằng, khách quan những đóng góp của các nhân vât lịch sử đối với văn hoá nƣớc nhà. Khi thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng lý thuyết nghiên cứu mang tính hệ thống, khảo sát tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh trong một cấu trúc thống nhất về phát triển ngôn ngữ và báo chí, đặt chúng trong mối tƣơng quan với cấu trúc phát triển văn hoá của Việt Nam. Trong quá trình thao tác này, sử dụng một số loại hình trong lý thuyết cơ sở văn hoá, có nhiều điểm bổ sung thích hợp với hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam. Khi nghiên cứu, Luận văn dựa trên cơ sở xem xét khoa học, logic các tài liệu thực chứng, đặt trong bối cảnh lịch sử, từ đó có cái nhìn biện chứng về tác phẩm, con ngƣời và những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh. 5.2.Phương pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp cơ bản của Luận văn là nghiên cứu văn bản, mang tính thực nghiệm, dựa trên việc sƣu tầm các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên báo chí hồi đầu thế kỷ XX, phân tích, đối chứng, so sánh với các bƣớc phát triển của văn hoá Việt Nam . Nghiên cứu những bài báo trên một số tờ báo mà Nguyễn Văn Vĩnh đóng vai trò trụ cột, qua đó có thể rút ra những đƣờng hƣớng chính mà Nguyễn Văn Vĩnh đã đặt ra cho các tờ báo đó. Tập hợp những bài báo, các tham luận, các tài liệu viết hoặc đề cập đến Nguyễn Văn Vĩnh để có đƣợc cái nhìn nhiều chiều về Nguyễn Văn Vĩnh cùng các đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí và văn hóa Việt Nam. 7 Gặp gỡ, trao đổi với những ngƣời thân trong gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, các nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà báo quan tâm đến đề tài để thu thập tƣ liệu, ghi nhận những đánh giá khác nhau về Nguyễn Văn Vĩnh. 6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn phản ánh quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc luôn xem xét một cách khoa học các hiện tƣợng, nhân vật lịch sử, từ đó đƣa ra đƣợc những đánh giá khách quan, khoa học, trung thực về các nhân vật, sự kiện lịch sử. Luận văn mở ra một hƣớng tìm hiểu về Nguyễn Văn Vĩnh, một nhân vật vẫn còn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều ở Việt Nam và vẫn còn tồn tại nhiều cách đánh giá nhìn nhận khác nhau, góp phần bổ sung đánh giá về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử báo chí Việt Nam. Luận văn có thể đƣợc sử dụng nhƣ tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về lịch sử báo chí, cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, sinh viên khoa báo chí và các môn khoa học xã hội khác. 7.Kết cấu của Luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, mục Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Giao lưu văn hóa Đông Tây và sự hình thành báo chí quốc ngữ ở Việt Nam. Chương 2: Nguyễn Văn Vĩnh-nhà truyền bá chữ quốc ngữ và phát triển báo chí quốc ngữ. Chương 3: Nguyễn Văn Vĩnh-người tiên phong trong nghệ thuật viết báo đầu thế kỷ XX. 8 CHƢƠNG 1 Giao lưu văn hoá Đông Tây và sự hình thành báo chí quốc ngữ ở Việt Nam 1.1.Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây Trƣớc khi ngƣời Pháp nổ súng xâm lƣợc Việt Nam khá lâu, vì nhiều nguyên do lịch sử khác nhau, nhiều ngƣời phƣơng Tây đã đặt chân tới Việt Nam. Thế kỷ XVI, do nhu cầu thám hiểm để mở rộng thị trƣờng, các nhà hàng hải châu Âu đã biết đến vùng duyên hải Ấn Độ-Trung Hoa. Ngay từ thời gian đó, ngƣời Bồ Đào Nha, với mục đích chủ yếu là thƣơng mại, đã bắt đầu có những chuyến buôn bán đầu tiên mang tính thăm dò ở Đàng Trong của Việt Nam. Sau khi ngƣời Bồ Đào Nha quyết định đặt thƣơng điếm ở Áo Môn (tức Ma Cao), khi ấy là thuộc địa của Bồ Đào Nha, thì ngƣời Bồ Đào Nha càng thƣờng xuyên tới Việt Nam. Hội An ở miền Trung Việt Nam, khi ấy còn gọi là Hải Phố (nơi buôn bán bên bờ biển, sau bị ngƣời phƣơng Tây gọi chệch đi thành Faifo), trở thành thƣơng cảng cập bến chủ yếu cho tàu buôn Bồ Đào Nha. Ngoài ra còn các hải cảng khác cũng thuận tiện cho tàu thuyền nƣớc ngoài cập bến là Cửa Hàn và Nƣớc Mặn ở Quy Nhơn [5,21] . Sang thế kỷ XVII, việc buôn bán của ngƣời Bồ Đào Nha (và một phần của ngƣời Hà Lan) ở Việt Nam càng trở nên thƣờng xuyên hơn. Cùng với các tàu buôn Bồ Đào Nha, nhiều tu sĩ Dòng Tên ngƣời Bồ Đào Nha và Ý cũng đặt chân tới Việt Nam và chính những ngƣời này đã đặt cơ sở văn hóa cho sự hình thành của chữ quốc ngữ sau này. 9 Những ngƣời đầu tiên có mặt tại Việt Nam có thể kể đến các linh mục Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha), theo tàu buôn Bồ Đào Nha rời Áo Môn ngày 6-1-1615 và tới Cửa Hàn ở Đàng Trong ngày 18-1-1615. Hai năm sau đó, một ngƣời Bồ Đào Nha khác là linh mục Francisco de Pina cũng tới Đàng Trong. Để tiếp xúc với ngƣời Việt Nam, các nhà truyền giáo hầu hết đều phải học tiếng Việt và linh mục Francisco de Pina có lẽ là ngƣời Âu châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Không may, linh mục Francisco de Pina đã chết thảm trong một tai nạn bất ngờ ngoài khơi bờ biển Quảng Nam vào ngày 12-15-1625 [5,22] . Sự tiếp xúc với ngƣời Pháp (dân sự) cũng diễn ra sớm hơn nhiều so với những đụng độ về quân sự sau này. Khác với ngƣời Bồ Đào Nha hoặc Hà Lan, ngƣời Pháp tới Việt Nam ban đầu với chủ đích thiên về truyền bá tôn giáo hơn là buôn bán. Đáng chú ý nhất là sự kiện năm 1625, một linh mục Dòng Tên là Alexandre de Rhodes đã đặt chân tới Hội An làm công việc giảng đạo. Alexandre de Rhodes đã nhiều lần bị chính quyền nhà Nguyễn đuổi khỏi Việt Nam, phải trở đi trở lại tới 3 lần. Mặc dù thuộc Giáo hội Roma, nhƣng lại là ngƣời Pháp, nên thực chất Alexandre de Rhodes đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc làm cho chính quyền Pháp “để ý” và nảy sinh ý đồ thôn tính Việt Nam. Có thể nói, cuộc xâm lƣợc của ngƣời Pháp tại Việt Nam đã đƣợc “mở đƣờng” từ những cuộc truyền giáo của các nhà truyền giáo phƣơng Tây, đặc biệt là ngƣời Pháp. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, sự có mặt của ngƣời phƣơng Tây ở Việt Nam với mục đích truyền giáo hoặc buôn bán không có tính bền vững và lâu dài do nhiều nguyên nhân. Nếu vì mục đích buôn bán thì những ngƣời phƣơng Tây đặt chân tới Việt Nam chỉ mang tính nhất thời, tận dụng những thƣơng cảng sầm uất ở 10 khu vực miền Trung để giao thƣơng kiếm lời, sau đó lại quay về Áo Môn (Ma Cao), nơi đƣợc coi nhƣ là tiền đồn của họ ở châu Á. Còn với mục đích truyền giáo thì họ cũng gặp không ít trở ngại từ phía chính quyền sở tại, kể cả triều đình (chủ yếu là chúa Trịnh và một số vua quan nhà Nguyễn) do nghi ngờ tham vọng của ngƣời phƣơng Tây không chỉ giới hạn ở việc truyền giáo mà còn là ham muốn chiếm đoạt lãnh thổ. Họ đã nhìn thấy một kinh nghiệm nhãn tiền qua việc ngƣời Anh chiếm đảo Singapore hồi đầu thế kỷ XIX, dù vẫn dƣới hình thức nhƣ một trạm thông thƣơng buôn bán và nơi định cƣ. Nhiều nhà truyền giáo phƣơng Tây đã phải đối mặt với các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, thậm chí bị xua đuổi, trục xuất của chính quyền sở tại. Ngay cả việc Pháp giúp Nguyễn Ánh một số tàu chiến, súng ống đạn dƣợc cùng một số ít ỏi quân đội để hỗ trợ giành lại chính quyền từ tay nhà Tây Sơn cũng không làm mất đi cái nhìn nghi kị đó. Bởi thế, những nỗ lực của các nhà buôn hay nhà truyền giáo phƣơng Tây trong việc truyền bá văn hoá phƣơng Tây ở Việt Nam thời kỳ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX chƣa mang tính hệ thống, quy mô mà chỉ giới hạn ở những động thái manh mún, nhỏ lẻ. Sự truyền bá văn hoá phƣơng Tây ở Việt Nam, kéo theo nó là sự giao lƣu văn hoá Đông Tây chỉ diễn ra một cách toàn diện và có hệ thống sau khoảng giữa thế kỷ XIX, khi Pháp sử dụng vũ lực chiếm đóng Việt Nam, đặt Việt Nam hoàn toàn dƣới sự cai trị của mình. Ngày 15-8-1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng. Ngày 17-1-1859, quân đội Pháp chiếm Sài Gòn. Năm Nhâm Tuất (1862), triều đình nhà Nguyễn ký với Pháp hoà ƣớc, theo đó nhƣợng ba tỉnh miền đông Nam Bộ cho Pháp. Năm năm sau, Đinh Mão (1867), Pháp đã dùng vũ lực chiếm đóng nốt ba tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đến năm Giáp Tuất (1874), triều đình Huế 11 khi ấy bị ép ký hoà ƣớc nhƣờng đứt 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp và nhƣ thế, Pháp hoàn thành về cơ bản công cuộc chiếm đóng Nam kỳ. Sau đó, Pháp hai lần tấn công thành Hà Nội (1873 và 1882). Hà Nội kháng cự trong một thời gian ngắn. Năm Giáp Thân (1884), triều đình Huế ký hiệp ƣớc Patenotre, đầu hàng toàn bộ; Pháp thiết lập chế độ bảo hộ và thuộc địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Hiện tƣợng ngôn ngữ của các dân tộc đi chinh phục tạo nên ảnh hƣởng, chế áp ngôn ngữ bản địa ở các miền đất bị chinh phục, không phải là điều mới lạ. Tác giả Phạm Cao Dƣơng đã nhận định: “Sự tồn tại của ảnh hưởng văn minh La Mã còn được thấy ở khắp nơi trong đế quốc này dưới hình thức ngôn ngữ. Tất cả những ngôn ngữ thuộc họ latin ngày nay như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Y pha nho (Tây Ban Nha), tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Lỗ Mã Ni (Romania) đều đã hình thành kể từ thời La Mã đô hộ. Những dân tộc nói những tiếng kể trên, khi bành trướng thế lực của họ sang các châu khác đã đem truyền bá các ngôn ngữ của họ ra khắp thế giới ở nhiều nơi và những tiếng này đã trở thành rất thông dụng không phải chỉ riêng trong hành chánh, trong các hoạt động văn hoá mà cả trong quần chúng”[8,90]. Một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của việc mở rộng phạm vi ảnh hƣởng của văn hoá phƣơng Tây ở Việt Nam, dẫn tới sự giao lƣu giữa văn hoá phƣơng Tây và văn hoá phƣơng Đông chính là sự hình thành và phát triển chữ quốc ngữ. Đó là loại chữ mà các giáo sỹ phƣơng Tây hình thành bằng cách sử dụng bộ chữ cái latin quen thuộc có bổ sung thêm các dấu phụ (mà một số ngôn ngữ phƣơng Tây nhƣ chữ Bồ Đào Nha đã từng làm) để ghi âm tiếng Việt [50,537]. 12 Một biểu hiện khác nữa của việc mở rộng ảnh hƣởng văn hoá phƣơng Tây tại Việt Nam chính là sự ra đời phát triển của nhiều tờ báo chữ quốc ngữ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. 1.2.Chữ quốc ngữ hình thành và phát triển ở Việt Nam Khi nói đến sự hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam, nhiều ngƣời cho rằng linh mục Alexandre de Rhodes, đôi khi đƣợc gọi theo tên đã Việt hoá là Đắc Lộ, là ngƣời đầu tiên đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Linh mục Alexandre de Rhodes Năm 1651, linh mục Alexandre de Rhodes đã biên soạn và cho in ở nhà in của Giáo hội La Mã tại Roma (Ý) cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum). Cũng trong năm 1651, linh mục Alexandre de Rhodes cho in cuốn sách giảng đạo của ông nhan đề 13 là Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức chúa Trời, cuốn sách đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ [2,569]. Năm 1651, vì vậy có thể coi là cột mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ và Alexandre de Rhodes đƣợc xem nhƣ là một trong những ngƣời đầu tiên đã có công lớn sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Tuy nhiên, sự thật thì các giáo sỹ nƣớc ngoài đã tới Việt Nam và bƣớc đầu đặt nền móng cho việc hình thành chữ quốc ngữ sớm hơn Alexandre de Rhodes nhiều. Tháng 10-1629, một linh mục ngƣời Bồ Đào Nha là Gaspar d’Amaral lần đầu tiên tới Đàng Ngoài cùng với một ngƣời Nhật Bản là thày Paulus Saito. Nhƣng đến tháng 5-1630, linh mục Gaspar d’Amaral phải rời Đàng Ngoài để quay trở lại Ma Cao. Đến ngày 18-12-1631, Gaspar d’Amaral cùng với ba linh mục Dòng Tên khác cũng là ngƣời Bồ Đào Nha quay trở lại Việt Nam với mục đích truyền giáo. Linh mục Gaspar d’Amaral đã ở Đàng Ngoài tới 7 năm, cho tới năm 1838 mới đƣợc gọi về Ma Cao để giữ chức Viện trƣởng Học viện Mẹ Đức Chúa Trời của Dòng Tên [5,51-53]. Trong thời gian ở Việt Nam, linh mục Gaspar d’Amaral đã đi sâu nghiên cứu và học rất nhanh chữ quốc ngữ, khi ấy mới ở dạng phôi thai, còn hết sức sơ khai. Ông đã để lại hai tài liệu viết tay vào các năm 1632 và 1637, trong đó ghi lại hàng loạt chữ quốc ngữ. Sau đó, ông bắt tay vào soạn cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Diccionário anamita-português-latim) nhƣng tiếc thay cuốn từ điển chƣa kịp ấn hành thì ông đã qua đời trên đƣờng từ Ma Cao quay trở lại Đàng Ngoài để tiếp tục truyền giáo (23-12-1645) do tàu chở ông bị đắm. Cuốn từ điển mà linh mục Gaspar d’Amaral đang soạn dở dang đã bị thất lạc [5,66]. Một linh mục Dòng Tên thứ hai ngƣời Bồ Đào Nha cũng có những đóng góp ở bƣớc sơ khởi trong việc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam 14 là linh mục Antonio Barbosa. Ông tới Đàng Trong năm 1629, rồi tới Đàng Ngoài tháng 4-1636. Ông ở lại Đàng Ngoài trong 6 năm, đến tháng 5-1642 rời Đàng Ngoài đi Ma Cao dƣỡng sức vì sức khoẻ yếu, sau đó mất vào năm 1647. Ông đã soạn thảo một cuốn Từ điển Bồ-Việt (Diccionário portuguêsanamita), từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt, có lẽ trong thời gian 6 năm ở Đàng Ngoài. Nhƣng cũng giống nhƣ số phận cuốn từ điển soạn dở của linh mục Gaspar d’Amaral, cuốn tự điển của linh mục Antonio Barbosa cũng bị “mất tích” và không ai biết đƣợc là nó đã bị huỷ hoại hay thất lạc đâu đó.[5,67]. Chính dựa trên những cuốn từ điển (sau bị thất lạc) này mà linh mục Alexandre de Rhodes đã soạn ra cuốn Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651 và đƣợc coi nhƣ là ngƣời có công sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Một số học giả cho rằng Alexandre de Rhodes đã “đạo” hai cuốn từ điển của hai linh mục Bồ Đào Nha Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa rồi đề tên mình là tác giả [96]. Tuy nhiên, có tài liệu cho thấy trong lời tựa cuốn Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651 tại Roma, Alexandre de Rhodes đã viết rõ rằng ông dùng những công khó nhọc của các giáo sĩ Dòng Tên khác, nhất là dùng hai cuốn từ điển của Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa để soạn thảo nên cuốn từ điển này. [5,66] . Ngoài ra, trong sự hình thành chữ quốc ngữ, bên cạnh những nỗ lực cá nhân của Alexandre de Rhodes, còn có sự đóng góp của nhiều ngƣời khác nữa, trong đó không loại trừ có cả những ngƣời Việt Nam. Nhƣ tác giả Hoàng Tuệ đã nhận định: “Một số nhà nghiên cứu Việt Nam và Pháp cũng có nêu giả thiết là có nhiều người Việt Nam trực tiếp tham gia vào việc sáng chế chữ quốc ngữ, nhưng họ đều vô danh!”[42,161]. 15 Công lao lớn của Alexandre de Rhodes là ở chỗ ông đã dựa trên thành quả của những ngƣời đi trƣớc để trở thành ngƣời soạn thảo và cho in thành sách những công trình đầu tiên về chữ quốc ngữ ở Việt Nam. Mặc dù đã có những công trình nhƣ thế nhƣng chữ quốc ngữ vẫn không đƣợc phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, đặc biệt là trong quảng đại dân chúng. Trong suốt hơn 200 năm sau đó, chữ quốc ngữ chỉ đƣợc sử dụng ở một phạm vi hẹp trong khuôn khổ nhà thờ Thiên Chúa giáo để phục vụ cho mục đích truyền đạo của các giáo sỹ nhƣ dịch Kinh thánh, soạn các sách truyền đạo. Trong suốt thời gian đó, một số giáo sỹ phƣơng Tây đã nỗ lực nhằm hoàn thiện dạng thức chữ quốc ngữ sơ khai mà Alexandre de Rhodes đã tạo ra, điển hình trong số đó là những sửa đổi của Đức Giám mục Pierre Joseph Georges Pigneaux de Béhaine, thƣờng đƣợc biết đến ở Việt Nam dƣới tên gọi Bá Đa Lộc. Giám mục Bá Đa Lộc là ngƣời đã khởi soạn Từ điển An nam-Latinh (1772-1773), nhƣng công trình đang còn dở dang thì đƣợc cố đạo Tabert tiếp nối. Tới năm 1838, cha Tabert đã cho in tại Serampur, Ấn Độ, cuốn Từ điển Việt-Latinh (Dictionarium annamitico-latinum) có ghi thêm chữ Nôm bên cạnh chữ quốc ngữ (cuốn từ điển này thƣờng đƣợc biết tới dƣới tên gọi là Từ điển Tabert). Trừ một số trƣờng hợp cá biệt, chữ quốc ngữ trong Từ điển Tabert về cơ bản đã có dạng thức cơ bản nhƣ ngày nay[27]. Sau khi Pháp đã hoàn thành việc chiếm đóng và trực tiếp cai trị Nam kỳ từ năm 1867, chính quyền cai trị đã đẩy mạnh việc dạy học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Một số học giả, nhà bác học thời bấy giờ, chủ yếu ở Nam kỳ, nhƣ Trƣơng Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của cũng đã có nhiều công trình nhằm phổ biến và truyền bá chữ quốc ngữ trong dân chúng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. 16 Ngƣời đi tiên phong trong việc xây dựng và truyền bá chữ quốc ngữ, đặc biệt ở Nam kỳ, là Trƣơng Vĩnh Ký. Trƣơng Vĩnh Ký vốn họ tên là Trƣơng Chánh Ký, tên thánh là Pétrus Jean Baptiste, sau đổi là Trƣơng Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký. Ông sinh trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa, lên 5 tuổi đã học chữ Hán, sau đƣợc theo các linh mục học chữ quốc ngữ, chữ latinh tại nhiều trƣờng đạo ở Campuchia, Malaysia. Ông là ngƣời rất thông minh, có biệt tài học ngoại ngữ. Ông từng làm thông ngôn (phiên dịch), giáo viên, đến năm 1869 đƣợc bổ nhiệm là Chánh tổng tài (chủ nhiệm kiêm chủ bút) Gia Định báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của báo chí Việt Nam. Ông ở cƣơng vị này đến năm 1872, sau đó có thời gian ra làm quan ở triều đình Huế dƣới triều vua Đồng Khánh. Nhƣng chỉ đƣợc 6 tháng, ông cáo quan về dạy học, viết sách. Ông mất vì bệnh lao, trong cảnh nợ nần vì tiền in sách chƣa trả đƣợc [2,559]. Trƣơng Vĩnh Ký là một nhà bác học, đọc và nói thạo 15 sinh ngữ, tử ngữ của phƣơng Tây, biết vững vàng 11 thứ ngôn ngữ của phƣơng Đông, là hội viên các hội nhân chủng và khoa học miền Tây nƣớc Pháp, hội chuyên học nói tiếng phƣơng Đông, hội chuyên khảo văn hoá Á châu, hội chuyên học địa lý ở Paris...Ông đƣợc giới học giả nƣớc ngoài đƣơng thời liệt vào trong số 18 nhà bác học của thế giới. [50,539]. Trong lĩnh vực phát triển chữ quốc ngữ, Trƣơng Vĩnh Ký là tác gia đầu tiên và lớn nhất của văn học chữ quốc ngữ Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông là ngƣời Việt Nam đầu tiên cho in sách bằng chữ quốc ngữ (1866), viết du ký bằng chữ quốc ngữ, phiên âm ra chữ quốc ngữ các tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán; là ngƣời Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam và ngữ pháp tiếng Việt bằng tiếng Pháp; là soạn giả Việt Nam đầu tiên làm từ điển đối dịch Pháp-Việt, Hán-Việt-Pháp; là nhà báo ngƣời Việt đầu tiên làm chủ bút một 17
- Xem thêm -