Nguyên tắc tổ chức

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 173 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI --------***-------- Đề bài: Anh chị hãy phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam theo Hiến pháp 2013. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Môn: Hiến pháp Họ tên sinh viên: Hoàng Thị Nguyệt Hà Mã sinh viên: 1453801010076 Hà Nội, 2015 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Mục lục Trang A. Mở đầu 3 B. Nội dung 4 1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với đất nước 4 2. Nguyên tắc nhà nước được tổ chức và hoạt 7 động theo Hiến pháp và pháp luật. 3. Nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng 8 Hiến pháp và pháp luật 4. Nguyên tắc tập trung dân chủ 10 5. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, 11 viên chức tôn trọng và phục vụ nhân dân, đấu tranh chống tham nhũng và lãng phí 6. Nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống 12 nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp C. Kết luận 14 Page | 2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Đề bài: Anh chị hãy phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam theo Hiến pháp 2013. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. A. Mở đầu Bất kỳ hoạt động có tổ chức của con người cũng đều phải tiến hành dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Bởi vậy, điều quan trọng nhất để tổ chức và hoạt động bất kỳ bộ máy nhà nước nào đều cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Mỗi một chế độ nhà nước có các nguyên tắc và hoạt động khác nhau về bộ máy nhà nước. Và ngay trong bản thân một nhà nước, các nguyên tắc đó cũng được vận dụng theo từng mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn nhất định và luôn được bổ sung hoàn thiện. Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước đương nhiên được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung và tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa với sự vận dụng phù hợp theo từng giai đoạn lịch sử và theo từng phần hệ thống trong bộ máy đó. Đồng thời, các nguyên tắc đó luôn được bổ sung bởi các nhận thức mới và vận dụng thích hợp với từng điều kiện cụ thể. Các nguyên tắc đều được ghi trong hiến pháp nước ta từ trước đến nay và được hoàn thiện qua từng thời kì lịch sử. Một số nguyên tắc lớn trong hoạt động của nhà nước được quy định trong Hiến pháp mới nhất, Hiến pháp 2013, thể hiện trong nhiều các quy định khác nhau. Có thể khái quát một số nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhà nước như sau: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với nhà nước; Nguyên tắc nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; Nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; Nguyên tắc tập trung dân chủ; Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức tôn trọng và phục vụ nhân dân, đấu tranh chống tham nhũng và lãng phí và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Page | 3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước B. Nội dung 1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với đất nước Nguyên tắc này là một ví dụ điển hình cho sự hoàn thiện và phát triển trong từng thời kì. Hiến pháp 1980 là bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ghi nhận chính thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại điều 4: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam” . Các bản Hiến pháp sau này tiếp tục kế thừa và phát triển quy định này để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của đất nước và sự phát triển của xã hội. Khoản 1 điều 4 Hiến pháp 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cuả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cae dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.” Về ý nghĩa thực tiễn, lịch sử Việt Nam hiện đại đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc giành lại độc lập cho đất nước, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân từ ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 đến nay. Hơn 85 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh gian khổ trong sự nghiệp cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược. Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng, lãnh đạo hơn 29 năm qua tạo nên vị thế mới của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Vì lẽ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập được vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân. Page | 4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Về ý nghĩa pháp lý ,Điều 4, Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam- đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu chung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng ghi nhận chính thức sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và đó cũng là nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, đồng thời một lần nữa khẳng định sự độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói riêng và xã hội nói chung. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình thức và phương pháp hoạt động của tổ chức Đảng. Đó là Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách đã đưa ra, thể chế hóa thành các quy định của pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thưc hiện quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Ngoài ra, Đảng lãnh đạo quản lý nhà nước bằng việc đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau để quản lí nhà nước; phát hiện bồi dưỡng những cán bộ có năng lực, phẩm chất bố trí giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước; yêu cầu và nâng cao vai trò gương mẫu của các tổ chức Đảng và các đảng viên trước nhân dân; thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách thành pháp luật như ban hành Hiến pháp, luật, nghị quyết, nghị định… Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội không chỉ được quy định trong Hiến pháp, mà còn được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hoặc điều lệ của các cơ quan, tổ chức tùy theo mối quan hệ cụ thể. Như vậy, có thể nói, vai trò lãnh đạo của Đảng được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ của quy định tại Điều 4 Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác. Page | 5 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Với vai trò là hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước. Sự lãnh đạo chính trị của Đảng được thể hiện thông qua quyền quyết định và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị. Đảng quyết định và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và phát triển của đất nước. Quyền lực chính trị của Đảng được kết tinh trong cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, chủ trương tạo lập khung chính trị cho sự phát triển của đất nước, của từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp trong mỗi giai đoạn phát triển. Lý luận và thực tiễn phát triển của các quốc gia trên thế giới ngày nay cho thấy, bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc ở chỗ, Đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Về sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay nhiều đảng, mà phụ thuộc vào tính khoa học, sáng tạo của đường lối phát triển đất nước và năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể xem là căn cứ để đánh giá tính chất, trình độ của một nền dân chủ và sự năng động của nền kinh tế. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền đối với xã hội và Nhà nước không những không mâu thuẫn với bản chất của nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta. Do vậy, nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Page | 6 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 2. Nguyên tắc nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia quy định về những quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ chức bộ máy nhà nước. Hiến pháp là một văn bản tổ chức đời sống chính trị của một đất nước. Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội rường cột của đất nước, đặt nền tảng pháp lý cho một quốc gia. Do đó Hiến pháp là cơ sở của hệ thống pháp luật của nhà nước. Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp, không được mâu thuẫn với Hiến pháp. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội thông qua bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Do đó, tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan nhà nước, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước… là những nội dung rất cơ bản mà Hiến pháp năm 2013 dành nhiều chương điều quy định. Mỗi một bản hiến pháp xây dựng một mô hình về bộ máy nhà nước khác nhau. Dù mô hình đó xác định có bao nhiêu loại cơ quan nhà nước thì tất cả các cơ quan nhà nước đó đều phải được thành lập, tổ chức theo đúng những quy định của hiến pháp và các luật về tổ chức. Sau khi đã được thành lập, các cơ quan nhà nước đó được phép tiến hành những hoạt động nào, trong quá trình hoạt động cần phải phối hợp công tác và chịu sự giám sát của các cơ quan nào… trước tiên cần phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp và các luật về tổ chức. Ngay cả cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân là Quốc hội cũng phải tuân thủ nguyên tắc này bắt đầu từ việc nhân dân thực hiện quyền bầu cử của mình để thành lập ra Quốc hội; căn cứ vào các quy định tại chương 5 Quốc hội Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội tiến hành các hoạt động cụ thể như bầu ra Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân…; căn cứ vào một số các quy định của Hiến pháp và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Quốc hội tiến hành các hoạt động giám sát như nghe và chất vấn những người đứng đầu các cơ quan nhà nước mà Quốc hội bầu ra như Chủ tịch nước, Thủ Page | 7 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước… Cụ thể như sau:  Tổ chức và hoạt động của Quốc hội tuân thủ các quy định của Chương 5, Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 và các quy định khác của pháp luật.  Hoạt động của Chủ tịch nước tuân thủ các quy định của Chương 6, Hiến pháp năm 2013 và các quy định khác của pháp luật.  Tổ chức và hoạt động của Chính phủ tuân thủ các quy định của Chương 7, Luật Tổ chức Chính phủ và các quy định khác của pháp luật.  Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tuân thủ quy định Chương 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định khác của pháp luật.  Tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước tuân thủ các quy định của Chương 10, Luật Kiểm toán và các quy định khác của pháp luật. 3. Nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp là văn bản khế ước của nhân dân, được thông qua theo thủ tục đặc biệt trên cơ sở và thể hiện sự đồng thuận của nhân dân, Tư tưởng xuyên suốt trong quá trình nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội là tư tưởng pháp trị, thể hiện tại khoản 1, Điều 8 Hiến pháp 2013, trong đó thể hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước. Pháp luật là một công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội. Cũng giống như bản chất của nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp. Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội. Ý chị của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội, để quản lý xã Page | 8 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hội, nhằm định hướng xã hội phát triển theo một mục tiêu, trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị. Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc cơ bản, bắt đầu được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1980 đến nay. Đất nước ta từ khi Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 đến nay đã kiên định đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một số giá trị cốt lõi của một nhà nước pháp quyền nói chung được xã hội văn minh công nhận như: nhà nước pháp quyền phải được tổ chức và hoạt động dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lập hiến (đây được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân chủ và nhà nước pháp quyền); trong nhà nước nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí chi phối và có hiệu lực pháp lý tối thượng trong xã hội, nhà nước cũng như phải chịu sự ràng buộc của pháp luật… Để đặt nền móng cho việc xây dựng một nhà nước pháp quyền thì những giái trị cốt lõi đó phải được chuyển hóa chính thức vào trong đó khi ghi nhận một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quản lý xã hội bằng Hiến pháp. Với quy định công cụ quản lý xã hội là là Hiến pháp và pháp luật, Hiến pháp năm 2013 đã chứng minh được điều đó khi ghi nhận một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quản lý xã hội bằng Hiến pháp. Với quy định công cụ quản lý xã hội là Hiến pháp và pháp luật, Hiến pháp năm 2013 không thừa nhận một hình thức quản lý nào mà không dựa trên ý chí của Nhân dân, của Nhà nước thông qua hình thức thể hiện là pháp luật, loại bỏ sự quản lý tự do cá nhân, theo cảm tính hoặc thể hiện sức mạnh của kẻ mạnh đối với kẻ yếu gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội… Nguyên tắc này thể hiện sự thượng tôn pháp luật. Nhà nước là chủ thể ban hành ra Hiến pháp và pháp luật thì cũng chính Nhà nước phải là chủ thể đầu tiên, chính thức, minh bạch trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc này thể hiện tính ưu việt và quyết tâm của nhà nước trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Page | 9 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 4. Nguyên tắc tập trung dân chủ Tập trung – dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, được thể hiện từ rất sớm trong các bản hiến pháp của Việt Nam. Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Việt Nam theo hình thức chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân. Yếu tố tập trung của nguyên tắc này thể hiện trong tổ chức của cơ quan nước theo hệ thống từ trung ương đến địa phương được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013: các chiến lược và sự lãnh đạo tập trung vào trung ương; có sự thống nhất của pháp luật xuất phát từ sự tuân thủ Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp; có sự kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương… Yếu tố dân chủ trong nguyên tắc này có nền tảng từ hình thức chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân. Dân chủ đòi hỏi quyền bình đẳng (quyền bình đẳng hiểu theo nghĩa rộng là bình đẳng về cơ hội, bình đẳng trước pháp luật và bình đẳng trong việc lựa chọn người địa diện) của tất cả các công dân, không phụ thuộc vào giới tính, tôn giáo, tài sản, dân tộc, thành phần xuất thân… Yếu tố dân chủ thể hiện trước hết là quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua nhiều cách thức khác nhau như quyền bình đẳng tham gia bỏ phiếu chọn người đại diện cho mình, quyền được yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền đưa ra ý kiến khi nhà nước trưng cầu ý dân… Thực hiện nguyên tắc này mang ý nghĩa cơ bản, cụ thể đối với bộ máy nhà nước. Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất của từng hệ thống cơ quan nhà nước nói riêng, của cả bộ máy nhà nước nói chung, Thứ hai, bên cạnh tính thống nhất, nguyên tắc còn đảm bảo tính đặc thù trong hoạt động của từng loại cơ quan nhà nước.Thứ ba, nguyên tắc này đảm bảo cho hoạt động và tổ chức của Nhà nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động. Do đó, giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, có thể mỗi yếu tố được thể hiện khá mạnh mẽ ở một loại hình cơ quan nhà nước, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của cơ quan nhà nước ấy. Vì thế, nguyên tắc vừa thể hiện tính tập Page | 10 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung thống nhất, vừa thể hiện tính linh hoạt trong cơ chế hoạt động của nhà nước. 5. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức tôn trọng và phục vụ nhân dân, đấu tranh chống tham nhũng và lãng phí. Những xấu xa, tệ hại nguy hiểm của tệ tham nhũng đã được khái quát, nêu rõ bản chất và nguy cơ hậu quả tai hại của nó đối với đất nước như “quốc nạn”, “giặc nội xâm” đe dọa đến sự sống còn của chế độ. hiểu rõ nguy cơ đó, đảng, nhà nước ta luôn luôn quan tâm đề ra những chủ trương, giải pháp phòng chống tham nhũng như pháp lệnh chống tham nhũng, pháp lệnh cán bộ công chức, luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Cán bộ, công chức, viên chức là nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Quyền lực nhà nước được chuyển hóa vào trong hoạt động của từng cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước. Cán bộ, công chức là sự hiện hữu của nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, thay mặt nhà nước tiếp cận và giải quyết các công việc của dân và tổ chức của công dân. Do đó, xác định nguyên tắc chính yếu của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức viên chức trong hiến pháp được coi là kim chỉ nam trong khi tiến hành các hoạt động công vụ. Khoản 2 điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, cán bộ, công chức là cầu nối trực tiếp đưa chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào đời sống dân sinhm tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy, tư tưởng chủ đạo trong cách hành xử của cơ quan nhà nước cán bộ, công chức, viên chức là phải gần dânm lắng nghe những tâm tư nguyện vọng của người dân để giải quyết tốt nhất các công việc của dân. Hoạt động công vụ Page | 11 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức được đặt dưới sự giám sát của Nhân dân. Hiện nay, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, hách dịch đang là những vấn đề lớn cần phải loại bỏ khỏi hệ thống cơ quan nhà nước, Nhiệm vụ chung của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước là đẩy lùi, loại bỏ những hiện tượng trên, trở về đúng nghĩa chế độ chính trị của nhà nước ta là sử dụng những công cụ quản lý và phương pháp quản lý mang tính chất dân chủ, hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng đó cần phải được xuyên suốt trong quá trình cơ quan nhà nước cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hoạt động công vụ và hoạt động nghề nghiệp. Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí là một cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, nhưng được toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta đồng tình và quyết tâm thực hiện tốt; đồng thời lại có luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, có ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, các cơ quan chức năng được củng cố và những kinh nghiệm trong đấu tranh chống các vụ tham nhũng, lãng phí lớn vừa qua. Với ý chí và quyết tâm giữa ý đảng lòng dân thống nhất, có thể tin tưởng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí nhất định sẽ giành được thắng lợi, góp phần giữ vững ổn định chính trịxã hội, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. 6. Nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tại điều 2, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quyền lực nhà nước là thống nhất. Xét về bản chất giai cấp, thì quyền lực nhà nước bao giờ cũng thống nhất trong tay giai cấp cầm quyền. Ở nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự Page | 12 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước lãnh đạo của Đảng, về lợi ích cơ bản của giữa các giai cấp là phù hợp với nhau. Vì vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia. Nhấn mạnh tính thống nhất của quyền lực nhà nước là để khẳng định trong nhà nước ta không có sự phân chia quyền lực nhà nước, là để phủ nhận và đối lập với nguyên tắc phân quyền trong các nhà nước tư sản. Trong chế độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền. Vì quyền lực nhà nước là của nhân dân, nhưng nhân dân lại không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình mà lại giao cho người khác là nhà nước, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng cháo hoặc trùng lặp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền. Bởi lý do trên, quyền lực nhà nước thường được lượng hóa, phân định thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Ở nước ta, cơ quan thực hiện quyền lập pháp là Quốc hội, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí ching của quốc gia do Chính phủ đảm trách. Điều 94 Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp.” Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho tòa án. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này. Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành ba quyền nói trên là một nhu cầu khách quan. Tuy nhiên, trong nhà nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất. Đó là sự thống nhất về mục tiêu chính trị Page | 13 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước chung. Vì vậy, việc phân định quyền lực nhà nước không chứa đựng và bao quát cả việc phân lập mục tiêu chính trị chung của quyền lực nhà nước. Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyền lập, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt mà ràng buộc lẫn nhau, phối hợp với nhau, hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn mà nhân dân giao cho mỗi quyền được Hiến pháp quy định. C. Kết luận Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhà nước: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với nhà nước; Nguyên tắc nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; Nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; Nguyên tắc tập trung dân chủ; Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức tôn trọng và phục vụ nhân dân, đấu tranh chống tham nhũng và lãng phí và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp luôn là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, là cơ sở cho toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là những nội dung quan trọng của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Trong thời kì đổi mới, những nguyên tắc này sẽ chỉ đạo xây dựng bộ máy nhà nước ta thực hiện quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Page | 14
- Xem thêm -