Nguồn nhân lực- yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế việt nam

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24721 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những sự chuyển biến tích cực. Những nhân tố tạo nên những bước tiến đó là: chúng ta đã biết khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên vốn có, đưa ra những chính sách kinh tế thông thoáng, tận dụng những cơ hội đầu tư, đặc biệt là những cơ hội đầu tư nước ngoài. Một trong những nhân tố quan trọng không thể thiếu đã đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước đó là nguồn nhân lực. Cùng với sự phát triển của đất nước, nguồn nhân lực cũng có những bước tiến bộ quan trong cả về mặt số lượng và chất lượng . Nguồn nhân lựcViệt Nam đang được đánh giá là một trong những yếu tố thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài. Vậy chúng ta hãy xem xét một vài đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam để có thể biết tại sao nguồn nhân lực lại là một trong những yêu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi hi vọng cung cấp cho các bạn những thông tin về nguồn lao động và đặc điểm nguồn lao động Viêt Nam hiện nay. Từ đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để có thể đáp ứng những yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại đất nước trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là đặc điểm của nguồn lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm đó. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Trong bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vào nguồn lao động thuộc dân số hoạt động kinh tế 1 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1 Cơ sở lý thuyết Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng lý thuyết về dân số học, lý thuyết về lao động và nguồn lao động. 4.2 Phương pháp nghiên cứu Trong bài tiểu luận này, chúng tôi chủ yếu sưu tập và tổng hợp các bài viết từ sách báo, mạng internet… Sau đó dùng phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp với liệt kê để làm sáng tỏ vấn đề. Ngoài ra chúng tôi còn dùng phương pháp mô hình hóa qua việc sử dụng các bảng số liệu liên quan về dân số và nguồn nhân lực Việt Nam. 5. Nội dung và kết cấu bài luận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài luận này gồm ba chương: Chương 1: Tổng quan về nguồn nhân lực Chương 2: Đặc điểm nguồn nhân lực Việt Nam Chương 3: Can thiệp của chính phủ để phát triển nguồn nhân lực nước ta hiện nay 2 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái quát về lao động nguồn lao động Lao động là những hoạt động hữu ích của con người nhằm sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cần thiết để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân, của một nhóm người, của cả doanh nghiệp hoặc là nói chung của toàn xã hội. Nguồn nhân lực hay nguồn lao động là dân số có khả năng lao động cả về trí lực và thể lực. Hay nói cách khác đó là một phần dân cư đang làm việc và không làm việc nhưng có khả năng lao động. Từ khái niệm đó có thể hiểu rằng, nguồn lao động bao gồm, một mặt, những người đang hoạt động kinh tế trong những ngành nghề khác nhau, mặt khác, cả những người không làm việc nhưng có khả năng lao động. Tóm lại, nguồn lao động bao gồm những người đang lao động thực tế và những người có tiềm năng lao động. Những thay đổi về số lượng nguồn nhân lực được đặc trưng bởi các chỉ tiê như tăng trưởng tuyệt đối, tố độ tăng trưởng nguồn nhân lực. Trị số tăng tuyệt đối được xác định là hiệu số giữa số lượng nguồn nhân lực ở thời kỳ đầu và thời kỳ cuối. Tốc độ tăng trưởng là hệ số giá trị tuyệt đối nguồn nhân lực ở kỳ cuối so với giá trị của chúng kỳ đầu. Phần cơ bản của nguồn lao động là dân số trong độ tuổi lao động, và được xác định bởi luật pháp của mỗi quốc gia. Đa số các nước trên thế giới độ tuổi bắt đầu lao động từ 14 đến 15, còn tuổi về hưu trung bình là 65 đối với nam và 60 đối với nữ. Ở Việt Nam độ tuổi lao động được xác định đối với nam từ 15 đến 60, nữ từ 15 đến 55 Bảng 1: Dân số trong độ tuổi lao động của một số nước trên thế giới năm 1995 3 Tên nước 1.2 Cấu Độ tuổi lao động Nam Nữ Anh Pháp Mỹ 16 - 65 15 - 60 16 - 65 Nhật Bản Canada Nga Ba Lan Việt Nam 15 - 65 15 - 65 16 - 60 18 - 65 15 - 60 16 - 60 15 - 60 16 - 65 15 - 65 70,0 15 - 65 16 - 55 18 - 60 15 - 55 Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số (%) 61,0 61,0 65,0 68,0 57,0 58,0 59,5 trúc nguồn lao động Sơ đồ cấu trúc nguồn lao động NGUỒN LAO ĐỘNG DÂN SỐ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DÂN SỐ TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG DÂN SỐ KHÔNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 1.2.1 Khái niệm dân số hoạt động kinh tế Dân số hoạt động kinh tế là tập hợp những người đang làm việc trong nền kinh tế và những người thất nghiệp (hay chính xác hơn là những người đang tích cực tìm kiếm việc làm. Dân số hoạt động kinh tế là phần dân số đảm bảo nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất hàng hóa và dịch v, bao gồm những người đang lao động và những người thất nghiệp, hay chính xác hơn là những người làm công ăn lương, người thuê lao động và những người tự tổ chức lao động. Nói cách khác, đó là một phần dân số, bao gồm những người đang hoạt động lao động công ích, có thu nhập, và những người thất nghiệp, đang tích cực đi tìm kiếm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc. 4 Cấu trúc dân số hoạt động kinh tế DÂN SỐHO HOẠT ĐỘNG KINHTTẾ DÂN SỐ ẠT ĐỘ NGKINH Ế NGƯỜI NGƯỜI ĐANG ĐANGLÀM LÀM VIỆC VIỆC Người lao dộng làm thuê NGƯỜI THẤT NGHIỆP Người thuê lao động Người tự tạo việclàm cho mình 1.2.2 Khái niệm dân số không hoạt động kinh tế Dân số không hoạt động kinh tế là hiệu giữa nguồn lao động và phần dân số hoạt động kinh tế. Thành phần dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên, nhưng không thuộc vào số những người lao động và thất nghiệp, đó là học sinh sinh viên, quân nhân sắp được giải ngũ, những người nội trợ, cán bộ hưu trí, cùng với những người không có khả năng lao động. và những người khác. Bảng 2: Cấu trúc nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1993 – 2006 1993 1998 2002 2004 2006 Năm Nguồn lao động 47.358 51.306 56.623 60.557 64.378 (ngàn người) Cơ cấu chia ra (%) 1. Dân số không 19,4 15,3 16,7 17,2 19,5 hoạt động kinh tế 2. Dân số đang 80,6 84,7 83,3 82,8 81,5 hoạt động kinh tế 1.3. Trình độ giáo dục của nguồn lao động Trình độ giáo dục của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Trình độ giáo dục của nguồn lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng của nguồn lao động. Chỉ tiêu này được xác 5 định bởi số năm học trung bình, số học sinh và sinh viên, tỷ trọng chuyên gia có trình độ giáo dục trung cấp và cao cấp… Để xã hội phát triển đòi hỏi không chỉ sự tương thích trình độ tư liệu sản xuất, mà còn cả sự phát triển vượt trội của người lao động, của các cá nhân, trước hết bằng con đường học tập. Vai trò và ý nghĩa của đất nước trong thế giới ngày nay xác định không chỉ là tiềm năng an ninh và kinh tế, mà còn là tiềm năng trí tuệ. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, con đường ngắn nhất đi đến sự phồn vinh là thông qua giáo dục. Trình độ giáo dục cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. 1.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động Trình độ chuyên môn, kỹ thuật là sự hiểu biết, có khả năng thực hành về chuyên môn, kỹ thuật nghề nghiệp để tham gia các họat động lao động. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động được thể hiện qua tỷ lệ dân số đã qua các lớp đào tạo nghề, qua đào tạo sơ cấp kỹ thuật, công nhân kỹ thuật. Thực tế cho thấy chỉ có lực lượng lao động đông và rẻ không thể tiến hành được công nghiệp hóa mà đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ. 1.5 Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Trong những năm 1950 và 1960, tăng trưởng kinh tế là do công nghiệp hoá: thiếu vốn và nghéo nàm về cơ sở vật chất là khâu chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có một phần nhỏ của sự tăng trưởng kinh tế có thể giải thích bởi khía cạnh đầu vào là nguồn vốn. Phần rất quan trọng của sản phẩm thặng dư gắn liền với chất lượng nguồn lao động (trình độ giáo dục ,sức khoẻ ,và mức sống). Đầu tư cho con người nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội từ đó nâng cao năng suất lao động. Lịch sử các nền kinh tế trên thế giới cho thấy không có một nước giàu có nào đạt được tỷ lệ tăng tưởng kinh tế cao trước khi thành đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông . 6 Cách thức để thúc đẩy sản xuất ,đến lượt nó thúc đẩy cạnh tranh, là phải tăng hiệu quả giáo dục. Các nước và lãnh thổ công nghiệp hoá mới thành công nhất như Hàn Quốc, Singapo và Hồng Kông và một số nước khác có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong những thập kỉ 1970 và 1980 thường đạt múc độ phổ cập tiểu học trước khi các nền kinh tế đó cất cánh. Mặc dù vậy ,các nghiên cứu cũng cho thấy thành công của Nhật Bản và Hàn Quốcc trong kinh tế không chỉ do phần đông dân cư có học vấn mà còn do các chính sách kinh tế ,trình độ quản lý của họ. Do đó giáo dục phải được đề cao hơn nữa (đặc biệt là giáo dục đại học) như là một điều kiện cần để phát triển kinh tế . Kết quả giáo dục cùng với sự cạnh tranh trong giáo dục đại học sẽ thúc đẩy các ngành kinh doanh của các nước đang phát triển thu hút những nhà khoa học sáng giá nhất của họ và của nước ngoài. Khi cân bằng về sức mạnh khoa học kĩ thuật trên từng khu vực được thiết lập, những mơ ước và những ý đồ đổi mới kỹ thuật công nghệ của các nước đang phát triển sẽ được thực hiện ngay trên đất nước của mình. Thực tế cho thấy gần đây nhiều sản phẩm của các nước Châu Á sản xuất ra không cần giấy phép và mang nhãn của công ty nước ngoài, hàng hoá do người Châu Á sản xuất ra đã đi khắp thị trường thế giới. Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ lại phụ thuộc vào điều kiện giáo dục .Đã có rất nhiều bài thất bại khi một nước sử dụng công nghệ ngoại nhập tiến tiến khi tiềm lực và khoa học công nghệ yếu ,thiếu đội ngũ kỹ thuật và công nhân lành nghề và do đó không thể ứng dụng các công nghệ mới. Không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo các nguồn nhân lực quý giá cho đất nước để phát triển hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước khác . Như vậy ,cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại không chỉ nhằm biến đổi cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất như trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng đó mang nội dung mới trên cơ sở các quan hệ sản xuất, khoa học và công nghệ. Những phát minh khoa học ở thời kỳ này ngay lập tức được ứng dụng vào sản xuất và làm xuất hiện một hệ thống sản xuất linh hoạt đủ khả năng thay đổi nhanh chóng quy trình sản xuất . Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ tạo ra hàm lượng thông tin và tri thức trong tổng chi phí sản xuất cao. Yếu tố mới xuát hiện và trở thành yếu tố cốt lõi của cả hệ thông sản xuất hiên đại chính là thông tin và tri thức . Các số liệu thống kê năm 1990 phản ánh phần đóng góp thông tin , tri thức trong thu nhâp quốc dân của Hoa Kỳ la 47,4% , Anh 7 45,8% ,Pháp 45,1% , Đức 40,4%. Trí tuệ trở thành động lực cho toàn bộ tương lai nhân loại , thúc đẩy sự tiến bộ vừa sâu vừa rộng của xã hội trên nền tảng khoa học và công nghệ để tạo ra bước tăng trưởng mới , hiếm thấy so với trước đây. Kinh nghiệm về quản lý và sử dụng nguồn nhân lực của các nước trên thế giới lá bài học quý báu cho chúng ta trong việc khai thác tiềm năng của nguồn lao động nước ta. 8 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGUỒN LAO ĐỘNG VIỆT NAM 2.1 Qui mô dân số Có thể thấy, trong những năm đổi mới, Việt Nam không chỉ đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, mà trong lĩnh vực dân số cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ. Những kết quả của công tác dân số kế hoạch hoá gia đình như giảm đáng kể tỷ lệ tăng dân số, tăng cường nhận thức về chăm sóc và nâng cao chất lượng dân số, chăm lo phát triển nguồn lực con người... đã có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhìn khái quát, dân số nước ta hiện nay có một số đặc điểm cơ bản sau: Quy mô dân số lớn, phát triển nhanh. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2002, Việt Nam có 80 triệu dân, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới; mật độ dân số là 242 người/km 2. Năm 2007 tổng dân số Việt Nam là 85,3 triệu người. Dự báo đến năm 2020 quy mô dân số sẽ đạt khoảng 100 triệu và đến năm 2050 sẽ lên đến khoảng 123,7 triệu người. Chính vì thế mà Việt Nam đứng thứ 62 về diện tích, nhưng đứng thứ 11 về dân số và đứng thứ 40 về mật độ dân số trên thế giới. Cũng chính vì thế mà nhiều chỉ tiêu bình quân đầu người của Việt Nam còn đứng ở thứ hạng thấp trên thế giới, thấp xa so với thứ hạng về dân số (đứng thứ 146/185 về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, thứ 122/177 về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương). 9 Bảng 3: Nhịp độ tăng dân số trung bình và dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam giai đoạn 1976-2007 Dân số trong độ tuổi Dân số Năm Tổng số Nhịp lao động Tổng số Tỷ Cơ cấu dân số(%) trọng Nam Nữ Thành Nông thị thôn (ngàn độ (ngàn trong tổng 1976 1980 1985 1990 người) 49.160,1 53.772,2 59.872,1 66.016,7 tăng 3,20 2,47 2,15 1,92 người) 22.122,0 25.141,9 29.600,1 37.695,5 dân số(%) 45,0 46,8 49,4 57,1 47,92 48,50 48,91 48,78 52,08 51,50 51,09 51,22 20,61 19,20 19,01 80,49 79,39 80,80 80,99 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 67.242,4 68.450,1 69.644,5 70.824,5 71.995,5 73.156,7 74.306,9 75.456,3 76.596,7 77.635,4 78.685,8 79.727,4 80.902,4 82.031,7 83.106,3 84.155,8 85.195,0 1,86 1,80 1,74 1,69 1,65 1,61 1,57 1,55 1,51 1,36 1,35 1,32 1,47 1,40 1,31 1,26 1,23 38.866,1 39.695,5 40.811,6 41.573,9 42.189,4 42.869,8 43.469,5 44.141,9 44.962,2 46.193,1 47.132,7 48.362,6 49.083,5 50.695,1 52.439,8 54.784,9 57.251,1 57,8 58,1 58,6 58,7 58,6 58,6 58,5 58,5 58,7 59,5 59,9 60,6 60,7 61,8 63,1 65,1 67,2 48,80 48,83 48,86 48,90 48,94 49,01 49,08 49,15 49,17 49,16 49,16 49,16 49,14 49,14 49,15 49,14 49,14 19,51 51,20 51,17 51,14 51,10 51,06 50,99 50,92 50,85 50,83 50,84 50,84 50,84 50,86 50,86 50,85 50,86 50,86 19,67 19,85 20,05 20,37 20,75 21,08 22,66 23,15 23,61 24,18 24,74 25,11 25,80 26,50 26,88 27,12 27,40 80,33 80,15 79,95 79,63 79,25 78,92 77,34 76,85 76,39 75,82 75,26 74,89 74,20 73,50 73,12 72,88 72,60 Dân số Việt Nam tương đối trẻ với tốc độ tăng tự nhiên hằng năm cao( thời kỳ 1960 – 1986 là 2,2%; 2000 – 2002 là 1,35; 2003 – 2004 là 1,35%; năm 2007 là 1,23%). Nói một cách hình tượng là mỗi năm nước ta tăng thêm dân số của một tỉnh trung bình. Năm 2007 tỷ lệ thanh niên trong nhóm 15-29 tuổi chiếm 47,5% tổng số người trong tuổi lao động. Dân số trẻ về lâu dài là một thế mạnh, song trước mắt sẽ bất lợi về kinh tế , do số người 10 phải nuôi dưỡng (trẻ em) trên một lao động cao hơn các nước khác, kéo theo đó là những khó khăn về việc làm, giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác. Cơ cấu dân số theo giới tính: mặc dù về tổng số thì tỷ trọng nữ nhiều hơn nam (50,85% so với 49,15%), nhưng chủ yếu là lứa tuổi từ 35 - 40 trở lên, còn lứa tuổi thấp hơn, đặc biệt là giới tính của trẻ em mới sinh thì nam giới đang nhiều hơn so với nữ giới. Năm 2007 so với 1995, trong khi nam giới tăng 18,8% thì nữ giới chỉ tăng 17,8%, trong đó có nhiều năm tốc độ tăng của nam giới cao hơn so với nữ giới. Tình hình trên có nguyên nhân từ tư tưởng trọng nam khinh nữ còn tồn tại khá nặng nề trong một bộ phận dân cư. Đây là điều cảnh báo về tình trạng mất cân bằng về giới tính trong tương lai không xa. Đây cũng là khía cạnh cần quan tâm trong việc đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. 2.2 Phân bổ dân số theo vùng miền Dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý-kinh tế. Bảng 4: Dân số và mật độ dân số Việt Nam 2007 phân theo vùng Dân trung bình ( Nghìn người) 85154.9 Cả nước Đồng số 331211.6 bằng Sông Diện tích Mật độ dân số (Km2) (Người/km2) 257 18400.6 148462.5 1238 Đông Bắc 9543.9 64025.5 149 Tây Bắc 2650.1 37533.8 71 Bắc Trung Bộ 1100722.7 51551.9 208 54659.690 7185.2 33166.1 217 34807.8 408 40604.7 432 Hồng Đông Nam Bộ4935.2 14193.2 Tây Nguyên Đồng Bằng sông Cửu 17524 11 Long Nguồn: Số liệu thống kê dân số _ lao động Việt Nam 2007. Tổng cục thống kê. Dân số sống tập trung ở hai vùng châu thổ Sông Hồng và Sông Cửu Long nơi có 43% dân số của cả nước sinh sống, nhưng chỉ chiếm gần 17% đất đai của cả nước. Ngược lại, hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, chỉ có dưới một phần mười (8,8%) dân số của cả nước, nhưng chiếm tới hơn một phần tư (27%) diện tích đất của toàn quốc. Mật độ cao nhất là đồng bằng sông Hồng (1.238 người/km 2), trong đó có 8/11 địa phương có mật độ trên 1.000 người/km2; đồng bằng sông Cửu Long 432 người/km 2, Đông Nam Bộ 408 người/km2, duyên hải Nam Trung Bộ 217 người/km 2, Đông Bắc 149 người/km2, Tây Nguyên 90 người/km2, Tây Bắc 71 người/km2. Cơ cấu dân số theo thành thị/nông thôn cũng có một số vấn đề đáng lưu ý. Một mặt, tỷ lệ dân số thành thị tuy đã tăng lên trong thời gian qua (năm 1995 là 20,75%, năm 2000 là 24,18%, năm 2005 là 26,88%, năm 2007 là 27,44%), nhưng vẫn thuộc loại thấp so với mức bình quân của thế giới (49%), của châu Mỹ (79%), châu Âu (72%), châu Đại Dương (72%), châu Á (41%), châu Phi (37%); thấp hơn cả của Đông Nam Á (39%); đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á, thứ 42/50 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á, thứ 177/208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mặt khác, đô thị hóa về mặt dân số tăng lên nhưng sự chuẩn bị về các mặt quy hoạch, nhà ở, việc làm, giao thông công chính, vệ sinh môi trường,... chưa tương xứng. Bảng 5: Cơ cấu dân số Việt Nam phân theo thành thị và nông thôn Thành Thị 2000 2001 2002 2003 2004 Nông Thôn Người % Người % 18771.9 19469.3 20022.1 20869.5 21737.2 24.18 24.74 25.11 25.80 26.50 58863.5 59216.5 59705.3 60032.9 60294.5 75.82 75.26 74.89 74.20 73.50 12 2005 2006 Sơ bộ 2007 22336.8 22792.6 23370.0 26.88 27.09 27.44 60769.5 61344.2 61784.9 73.12 72.91 72.56 Nguồn: Số liệu thống kê dân số _ lao động Việt Nam 2007. Tổng cục thống kê. Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị, các khu công nghiệp tập trung như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh , Vũng Tàu, Đồng Nai… dẫn đến dòng người di dân tự phát từ nông thôn vào các thành phố lớn với quy mô và tốc độ ngày càng tăng. Số này vào thành phố chủ yếu là tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ở nông thôn, nên họ chấp nhận những việc làm nặng nhọc, vất vả, từ đó tạo ra nhiều phức tạp cho việc quản lý đô thị, làm quá tải các dịch vụ hạ tầng xã hội như: giao thông, y tế, trường học, điện nước… 2.3 Đặc điểm định lượng của nguồn lao động Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đến hết năm 2007, cả nước có trên 44 triệu lao động trên tổng số 85,3 triệu dân. Sức trẻ là đặc điểm nổi trội của tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam. Nước ta là một trong số ít quốc gia trong khu vực có tỷ lệ về cơ cấu độ tuổi của dân số và lao động khá lý tưởng : nhóm trẻ, từ 15 – 34 tuổi chiếm hơn 50%; nhóm người ở độ tuổi trung niên từ 35 – 54 tuổi chiếm hơn 42%; số nhân lực cao tuổi chiếm khoảng 7%. Mỗi năm Việt Nam có hơn 1,2 triệu người đến tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước. Nguồn nhân lực trẻ gắn với những điểm mạnh như sức khỏe tốt, năng động, dễ tiếp thu cái mới, nắm bắt công nghệ nhanh, di chuyển dễ dàng. Nếu được học văn hóa, đào tạo nghề, họ sẽ phát huy tác dụng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2005, tổng số công nhân, lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta là 11,30 triệu người, chiếm 13,5% dân số, 26,46% lao động xã hội. Trong đó 1,84 triệu công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, 2,95 triệu công nhân trong các doanh 13 nghiệp ngoài nhà nước, 1,21 triệu công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 5,29 triệu lao động làm việc trong các cơ sở kinh tế cá thể. Bảng 6: Dân số và lực lượng lao động trong doanh nghiệp 1995 - 2005 Đơn vị: triệu người Tiêu chí 1995 2002 2003 2004 2005 Dân số cả nước 71,996 78,686 79,727 80,900 83,110 40,573 Tổng số lao động xã hội 33,030 39,507 Tổng số lao động trong DN 2,806 4,658 a) LĐ DN nhà nước 1,778 b) LĐ DN ngoài nhà nước c) LĐ DN có vốn ĐTNN Lao động trong các cơ sở kinh tế cá thể 41,586 42,709 5,175 5,770 6,006 2,261 2,264 2,249 1,844 0,430 1,706 2,049 2,476 2,950 0,098 0,691 0,862 1,045 1,211 3,241 4,436 4,842 4,988 5,297 Nguồn:- Tổng cục Thống kê,Niên giám thống kê 2005,NX B Thống kê, Hà Nội, 2006. So với năm 1995 Số lượng công nhân làm việc trong các doanh nghiệp đã tăng 2,14 lần. Trong đó, công nhân trong doanh nghiệp nhà nước tăng 1,03 lần, trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,86 lần, trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,3 lần, lao động thuộc các cơ sở kinh tế cá thể tăng 1,63 lần . Công nhân các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%, ngành dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, các ngành khác chiếm 4,8%. Trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể công nhân chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ và thương mại, ước tính chiếm 66,67%; còn lại 33,33% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. 2.4 Đặc điểm định tính của nguồn lao động 2.4.1 Thể trạng sức khoẻ nguồn nhân lực Việt Nam 14 Thể lực của người Việt Nam nhìn chung còn thấp kém, phần lớn chưa đáp ứng yêu cầu cường độ làm việc của xã hội công nghiệp hiện đại và các chuẩn quốc tế. Theo đánh giá của Viện Khoa học Thể dục-Thể thao (Uỷ ban Thể dục-thể thao), so với thể lực của thanh thiếu niên các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Inđônêsia thì thể chất người Việt Nam từ 6-20 tuổi còn kém hơn về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, sức bền và chỉ tương đương về sức nhanh, sự khéo léo và mềm dẻo. Theo kết quả điều tra năm 2000 số người lao động không đủ tiêu chuẩn về cân nặng là 48,7%, số người suy dinh dưỡng là 28%, số phụ nữ thiếu máu là 40%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi theo chiều cao (tỷ lệ thấp còi) còn cao (năm 2005 là 26%), cao hơn nhiều so với các nước Trung Quốc (17%), Philippin (11%) và Thái Lan (16%); và điều này sẽ còn tiếp tục tác động tiêu cực đến thể trạng và thể lực của người lao động trong tương lai. Bảng7: Kết quả điều tra chiều cao, cân nặng học sinh nam 15 tuổi (1999) Tên nước Chiều cao(cm) Cân nặng(kg) Việt Nam 147 34,4 Thái Lan 149 40,5 Philippin 153 45,5 Ấn Độ 155 49,5 Nhật Bản 164 53,3 Nguồn: Viện Dinh Dưỡng bộ Y Tế, Dinh dưỡng con người Việt Nam,1999 Như vậy tình trạng sức khoẻ người Việt Nam ở mức trung bình kém, điều này làm giảm chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá của đất nước và giảm sức cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao động thế giới. 2.4.2 Trình độ giáo dục của nguồn lao động Việt Nam Trình độ giáo dục của nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nguồn nhân lực, nó phản ánh khả năng tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, trình độ giáo dục nguồn lao động của Việt Nam chưa đáp ứng được những đòi hỏi phát triển trong giai đoạn hiện nay thông qua nhiều thông số. Tính trong cả nước, vào năm 2004 dân số hoạt động kinh tế có tới 32,8% mới tốt nghiệp tiểu học; 19,7% tốt nghiệp trung học phổ thông; tỷ lệ mù chữ là 5,01%; các tỷ lệ tương ứng của nữ là 30,6; 18,1 và 6,2% 15 Trình độ học vấn của lao động nước ta trong những năm gần đây đã được nâng lên đáng kể. Nếu như năm 1985, tỷ lệ lao động có học vấn phổ thông trung học là 42,5% thì năm 2003, lao động có trình độ trung học phổ thông chiếm 62,2%. Năm 2005, số lao động có trình độ phổ thông trung học tăng lên đến 69,3%. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, so với trình độ của lao động các nước trong khu vực và quốc tế thì trình độ học vấn của lao động nước ta còn thấp. Bảng 8:Trình độ giáo dục dân số hoạt động kinh tế của các nước Châu Á 1996 (%). Trình độ Giáo dục đại học Giáo dục trung học Giáo dục tiểu học Việt Nam 5,1 9,8 85,1 Singapore Malaixia Hàn Quốc Đài loan 23 30 47 40 20 40 5 48 47 50 20 30 Hồng Kông 40 23 37 Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao Động, Thương bing và Xã hội Việt Nam 1996 Theo chỉ số phát triển giáo dục, Việt Nam xếp thứ 64/127 trong khi Hàn Quốc xếp thứ 4, Trung Quốc xếp thứ 54, Thái Lan thứ 60… Bảng 9: So sánh quốc tế về các chỉ tiêu giáo dục Tên nước Việt Nam Trung Quốc 0,93 Philipine Inđônêxia Malaixia Thái Lan Hàn Quốc Singapore Thế giới Chỉ số phát triển giáo dục ( EDIT) Điểm số Xếp thứ/127 Tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học Tỷ lệ biếtMức cânChất lượng chữ củabằng vềgiáo người lớn từgiới dục 15 tuổi trở lên 0,914 54 64 94,6 94 91 90,3 88,5 92,5 98 89 0,904 0,912 70 65 93 92,1 96,7 95,7 79,3 89,2 0,921 0,99 60 4 86,3 99,9 93 88 89 93 98 93 81,7 95,5 99,2 94,1 99 16 Nguồn: Báo cáo của Bộ lao động, Thương binh, Xã hội Việt Nam, 2002 Mặt khác, lực lượng lao động có trình độ học vấn cao phân bố không đồng đều, thường tập trung ở một số thành phố lớn và một số ngành kinh tế mũi nhọn. Bảng10: Cơ cấu trình độ dân số hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo vùng 2003 Đơn vị: % Tốt nghiệp trung học cơ sở 30,40 Tốt nghiệp trung học phổ thông 18,37 31,64 30,99 19,51 29,10 17,30 4,59 12,78 22,16 10,13 19,16 26,81 27,79 29,90 49,69 35,52 19,66 39,16 26,03 18,32 10,39 19,07 17,30 38,48 24,19 17,02 11,38 2,74 16,64 25,67 32,30 36,34 24,91 22,16 14,77 23,09 5,64 29,11 42,07 13,80 9,38 Chưa biết chữ Chưa tốt Tốt nghiệp nghiệp tiểu học tiểu học Cả nước Chia ra theo giới tính 4,23 15,48 31,51 Nam 2,89 16,41 32,01 Nữ Chia theo vùng lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ 3,02 Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng Bằng sông Cửu Long 4,61 17,35 0,53 6,57 20,00 1,74 Khu vực Nguồn: Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2003, NXB Lao Động – Xã hội, 2004, Hà Nội, tr 21 - 23 Số liệu theo bảng cho thấy cơ cấu trình độ học vấn cả nước năm 2003 như sau: Số lao động chưa biết chữ chiếm 4,23%; chưa tốt nghiệp tiểu học 15,48%; đã tốt nghiệp THCS 30,4%; đã tốt nghiệp THPT 18,37%. Đây là tỷ lệ trung bình của cả nước. Phân tích cơ cấu theo từng vùng, ta thấy, có sự khác biệt rất lớn. Có bốn vùng lực lượng lao động có trình độ học vấn trung bình cao hơn mức trung bình của cả nước là: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ; Trong đó Đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất. Bốn vùng còn lại gồm Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long có trình độ học vấn thấp hơn mức trung bình cả nước, trong đó thấp nhất là Tây Bắc (với lao động chưa biết chữ chiếm 20% lực lượng lao động trong vùng) 17 Tỷ lệ này cũng có sự cách biệt giữa nam và nữ. Số lao động nữ chưa biết chữ cao gần gấp đôi nam, trong khi đó số lao động tốt nghiệp THPT ở nam là 19,51còn ở nữ là 17,30. 2.4.3 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Việt Nam. Chất lượng về mặt trí lực của nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, quan trọng hơn là trình độ chuyên môn kỹ thuật, thông qua số lượng và chất lượng của lao động đã qua đào tạo. Trong những năm vừa qua, tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có xu hướng tăng lên. Năm 2001, có 17,05% tổng lực lượng lao động cả nước có chuyên môn kỹ thuật; năm 2002 là 19,62%; năm 2003 là 21,22% và đến năm 2005, tỷ lệ lao động cả nước có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng lên 24,79%. Bảng 11: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo trình độ CMKT (%) Các chỉ tiêu 1979 1989 1999 2003 2005 1. Không có trình độ CMKT 95,03 92,7 91,9 78,78 75,21 3,39 2,2 2,4 12,65 15,22 3. Trung học chuyên nghiệp 1,06 3,2 3,0 4,01 4,3 4. Cao đẳng trở lên 0,52 1,9 2,7 4,77 5,27 Tổng 100 100 100 100 100 2. Công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1-10-1997, Hà Nội – 1983; Tổng điều tra dân số toàn diện 1-4-1989, Hà Nội – 1992; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999. Kết 18 quả điều tra mẫu H.2000.; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Số liệu thống kê lao động việc ở ở Việt Nam năm 2005, Hà Nội 11-2005. Tuy nhiên, con số này còn thấp so với yêu cầu. Tính đến 2005, lao động qua đào tạo ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất thấp (24,79%), lao động chưa qua đào tạo còn chiếm một tỷ lệ rất cao (75,21%). Đối với công nhân kỹ thuật (CNKT), tỷ lệ tăng dần từ 1989 trở đi. Giai đoạn 1999 đến 2005 có sự tăng đột biến (một phần do số liệu năm 2005 có tính cả số người có chứng chỉ nghề và sơ cấp). Trong thời gian đó, tỷ lệ số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp cũng tăng, nhưng tăng chậm hơn (+1,3%/6 năm). Đối với lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên, tỷ lệ này so với tổng số lao động (năm 2005: 44,4 triệu người) tăng nhanh hơn cả. Giai đoạn 1999 – 2005 tăng bình quân 0,43%. Như vậy, trong 5 năm gần đây có sự tăng nhanh về quy mô đào tạo cao đẳng, đại học trở lên đến 5,4 lần, so với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1989 – 1999 (0,08%). Tình hình đó đưa đến sự chuyển dịch theo xu hướng từ “hình thang thuận sang hình thang ngược”. Cấu trúc giữa công nhân kỹ thuật, trung cấp và cao đẳng, đại học trở lên trong thời gian 1979 đến 2005 được thể hiện qua bảng sau: Bảng 12: Cơ cấu đào tạo nghề nghiệp hợp lý và thực tế ở Việt Nam Đại học Cơ cấu đào tạo hợp 1 lý của thế giới Cơ cấu đào tạo của Việt Nam Năm 1979 1 Năm 1995 1 Năm 2002 1 Năm 2005 1 Trung nghiệp học chuyên Công thuật 4 10-15 2.25 1.60 0.98 1.13 7.10 3.60 2.66 0.92 nhân kỹ Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao dộng, Thương binh và Xã hội tại hội thảo “Phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, HN 2002. Văn kiện đại hội Đảng X, Nxb CTQG, H. 2006, tr.146. 19 Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,13 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 1, 4 và 10. Các con số này chỉ ra một hiện tượng “thầy” nhiều hơn “thợ”, nói lên sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động trong nền kinh tế giai đoạn công nghiệp hóa hiện nay. Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, để bắt kịp nền kinh tế tri thức cần phải phát triển số lượng cán bộ có trình độ Đại học. Nhưng cần phải thấy rằng, nước ta có cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn thấp kém. Vì vậy, dù muốn “đi tắt”, “đón đầu” trong quá trình công nghiệp hóa để tiến tới nền kinh tế tri thức thì trước hết nước ta phải thực hiện tuần tự những bước đi cơ bản, vững chắc, tạo nền tảng ban đầu, từ đó mới có thực lực cho những “bước nhảy” tiếp sau quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngoài ra, tình trạng khác biệt giữa nông thôn và thành thị về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, đặc biệt là tỷ lệ công nhân kỹ thuật có bằng cấp trở lên, không những chưa được cải thiện mà còn có xu hướng gia tăng. Năm 2002 cứ 100 người thuộc lực lượng lao động thì ở nông thôn có 8 người và thành thị có 41 người được đào tạo từ trình độ công nhân kỹ thuật có bằng cấp trở lên; trong khi năm 2001, con số tương ứng là 6 và 30. Khu vực nông thôn đang ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc khai thác nguồn nhân lực để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bảng 13: Cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật theo từng vùng năm 2003 Đơn vị: % Khu vực Cả nước Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ 78,78 71,59 82,24 89,35 84,21 Công nhân kỹ Sơ cấp, học nghề thuật trở lên có bằng trở lên 21,22 11,84 28,41 15,49 17,76 12,37 10,65 8,12 15,79 10,03 78,88 21,12 10,77 85,12 66,62 14,88 33,38 9,36 18,03 Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật 20
- Xem thêm -