Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong cơ chế thị trường

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong cơ chế thị trường Lời mở đầu Dân tộc Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những dân tộc có truyền thống yêu nước sâu sắc. Nhân loại đã biết đến chúng ta với những kỳ tích chặn đứng vó ngựa trường chinh bách chiến bách thắng của quân Mông Cổ, với chiến công Điện Biên Phủ với chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là những trang sử hào hùng của dân tộc ta trong lịch sử hàng nghìn năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Còn hiện nay - trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI - Việt Nam là một đất nước thuộc nhóm nghèo nhất thế giới thu nhập bình quân đầu người chưa đầy 300USD chúng ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu. Sự thật đó để lại trong lòng mỗi chúng ta những cảm xúc sâu sắc. Tại sao vậy? Đó là vì kinh tế có những yêu cầu và quy luật riêng của nó. Những chiến thắng trên mặt trận không thể làm ra được những chiến công về kinh tế, sách lược chiến trường không thể là chiến lược về kinh tế. Một thời gian chúng ta đã ngộ nhận xem lợi nhuận là cái gì xấu xa, là phạm trù không có ở CNXH. Sản xuất là chỉ để phục vụ chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. Ngày nay, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chúng ta đang vận hành đất nước theo cơ chế thị trường trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì lợi nhuận chính là quan toà công minh nhất là để phán xét sự tồn tại phát triển của mọi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì thị trường sẽ loại doanh nghiệp đó ra khỏi sân khấu kinh tế, và nếu ngược lại thì doanh nghiệp được tiếp tục phát triển, lợi nhuận phải thực sự từ năng suất chất lượng - hiệu quả trong sản xuất - kinh doanh chân chính từ tài năng quản lý sản xuất kinh doanh hiện đại mà tạo ra giá trị lợi nhuận cả về kinh tế văn hoá - một truyền thống và cốt cách người Việt Nam. Hơn bao giờ hết, lợi nhuận là sự sống còn của doanh nghiệp, là động lực phát triển, bởi thế em chọn đề tài: “Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong cơ chế thị trường”. phần I Nguồn gốc bản chất của lợi nhuận I. Các quan điểm trước Mác về lợi nhuận. 1. Quan điểm của trường phái trọng thương: Trường phái này ra đời từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 17 trong điều kiện chế độ phong kiến bị tan rã và chủ nghĩa tư bản thực hiện tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản. Họ là những nhà kinh tế học đầu tiên đi tìm nguồn gốc, đi tìm lợi nhuận trong lưu thông. Họ đã sống trong thời đại tư bản tư nhân và ngoài tư bản tư nhân ra, họ không biết một hình thái tư bản nào khác, họ cũng không biết một hình thức lợi nhuận nào khác ngoài lợi nhuận thương nghiệp. Vì tư bản thương nghiệp chỉ hoạt động trong lưu thông nên không thấy làm lạ gì họ chỉ chú ý đến lưu thông. Theo họ lợi nhuận thương nghiệp là kết quả do lưu thông, mua bán trao đổi sinh ra, là do kết quả của việc mua rẻ bán đắt mà có. 2. Quan điểm của trường phái trọng nông: Trường phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu các hiện tượng kinh tế từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Đây là một bước tiến bộ so với trọng thương. Trong phái trọng nông là các nhà kinh tế học Pháp thế kỷ 18 nhưng họ vẫn nêu ra được một lý luận đúng đắn về lợi nhuận. Tư tưởng của họ là: sản phẩm thặng dư, do đó cả lợi nhuận nữa cũng được tạo ra trong nông nghiệp. Vì vậy, họ chỉ coi lao động trong nông nghiệp là lao động sản xuất, còn mọi lao động khác - không những trong thương nghiệp mà cả trong nông nghiệp đều bị họ coi là lao động không sinh lợi. 3. Quan điểm của trường phái cổ điển Anh: Các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh như: Adm Smith và David Ricardo đều phân tích lý luận về lao động. Trên thực tế họ coi lợi nhuận là kết quả của lao động thặng du. Nhưng họ không trình bày nguyên lý đó một cách rõ ràng, chưa nêu ra được một lý luận hoàn chỉnh về lợi nhuận. + Theo Adam Smith, lợi nhuận tham gia vào việc hình thành giá trị với tư cách một nhân tố hình thành giá cả nhưng chưa nêu được nguồn gốc của lợi nhuận. + Ricardo đã đi xa hơn Smith. Theo ông, lợi nhuận và tiền công là 2 bộ phận của giá trị do lao động tạo nên. Ông đã đưa ra một số kết quả quan trọng là: lợi nhuận và tiền công đối lập nhau. Sự tăng hay giảm của một trong hai yếu tố đó đều sẽ gây ra sự giảm hay tăng của yếu tố kia. Từ đó, Ricardo cũng khẳng định việc tăng hay giảm lợi nhuận hoặc tiền công không có ảnh hưởng gì đến giá cả mà chỉ ảnh hưởng đến sự phân phối giá trị giữa công nhân với các nhà tư bản. Vậy, Ricardo đã quy lợi nhuận thành giá trị thặng dư. Tuy nhiên, Ricardo vẫn không nêu ra được khái niệm giá trị thặng dư. Khi nói đến năng suất lao động, ông không có ý định coi đó là nguyên nhân tồn tại của giá trị thặng dư, mà chỉ có ý định coi đó là nguyên nhân quyết định của lượng giá trị thặng dư mà thôi. Như vậy, Ricardo đã bỏ qua giá trị thặng dư và chỉ quan tâm đến hình thái học của nó: lợi nhuận, lợi tức, lợi tô, những cái mà ông đã quy về nguồn gốc của chúng, về lao động không được trả công. Sai lầm của Ricardo ở chỗ coi chủ nghĩa tư bản là một hình thức tư bản của nền sản xuất xã hội nên ông đã có nhiều luận điểm sai lầm và mâu thuẫn. 1 - Mức tăng của lợi nhuận phụ thuộc vào mức tăng của năng suất lao động, nhưng Ricardo lại hoàn toàn không hiểu rõ thực chất của lợi nhuận ở chỗ: Một mặt lợi nhuận là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư, mặt khác nó là hình thái đặc biệt của giá trị thặng dư. 2- Lợi nhuận và tiền công là hai bộ phận của cùng một giá trị do lao động quyết định. Nhìn chung, các nhà kinh tế cổ điển đã chuyển việc nghiên cứu các hiện tượng kinh tế từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất nên họ đã xây dựng khoa kinh tế chính trị học với tư cách là một môn khoa học. Do không hiểu được đặc điểm của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nên họ không thể giải quyết cả vấn đề tư bản lẫn vấn đề lợi nhuận. Chỉ có Mác, sau khi nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa như là sự thống nhất giữa hai giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai đoạn lưu thông tư bản chủ nghĩa mới quy được lợi nhuận thành giá trị thặng dư tức là nghiên cứu lợi nhuận dưới hình thái chung nhất của nó. II. Học thuyết giá trị thặng dư và lý luận lợi nhuận của C.Mác. 1. Sự tạo ra giá trị thặng dư. Trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi. Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra giá trị thặng dư. Để hiểu rõ quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, người ta nghiên cứu bài toán sau đây: Chi phí TBCN để sản xuất, gồm có chi phí về tư bản bất biến và tư bản khả biến, tức là những chi phí về tư liệu sản xuất và tiền lương công nghiệp. Đối với tư bản hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo tư bản đã chi phí, đối với xã hội hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã hao phí. Bởi vậy, những chi phí TCBN để sản xuất ra hàng hoá, thấp hơn giá trị của hàng hoá ấy, tức là thấp hơn những chi phí sản xuất thực tế. Chỗ chênh lệch giữa giá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất TBCN, là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm không. Để hiểu rõ hơn quá trình này, ta nghiên cứu bài toán sau: Giả định để sản xuất 10kg bông, giá trị 10.000đ. Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải làm việc trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2.000đ. Giá trị sức lao động trong một ngày của công nhân là 6.000đ, trong một giờ lao động công nhân tạo ra một giá trị là 1.000đ, cuối cùng ta giả định rằng: “Trong quá trình sản xuất toàn bộ bông biến thành sợi”. Vậy nếu người công nhân làm việc trong 6 giờ thì không tạo ra giá trị thặng dư. Tuy nhiên nhiên, sức lao động mà nhà tư bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao động có thể tạo ra cho nhà tư bản là hai đại lượng khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến trước khi mua sức lao động trong ngày. Việc sử dụng sức lao động trong ngày đó thuộc về nhà tư bản. Trên thực tế, nhà tư bản bắt công nhân làm việc hơn 6 giờ, giả sử là 12 giờ trong 1 ngày. Chi phí sản xuất TBCN Giá trị của sản phẩm mới (20kg sợi) - Tiền mua bông là 2.000đ - Giá trị của bông được chuyển vào sợi - Hao mòn máy móc 4.000đ - Giá trị máy móc được chuyển vào sợi 4.000đ - Tiền mua sức LĐ trong 1 ngày: - Giá trị LĐ của CN tạo ra trong 12 giờ LĐ: Error! Error! Như vậy, toàn bộ chi phí của nhà tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức lao động là 30.000đ. Trong 12h lao động, công nhân tạo ra một sản phẩm mới (20kg sợi) có giá trị bằng 36.000đ, lớn hơn giá trị ứng trước của nhà tư bản: 36.000đ - 30.000đ = 6.000đ. Vậy 30.000đ ứng trước chuyển hoá thành 36.000đ, được một giá trị thặng dư là 6.000đ. Vậy tiền đã biến thành tư bản. Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng dư. Thông qua việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư trên, ta thấy rằng giá trị sản phẩm mới được sản xuất ra có 2 phần: + Giá trị cũ: giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của người công nhân mà được bảo tồn và duy chuyển vào giá trị của sản phẩm mới (24.000đ). + Giá trị mới: giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao động (6.000đ). Như vậy, giá trị thặng dư là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Nhận xét về học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác: Lênin đã từng đánh giá học thuyết giá trị thặng dư là “Hòn đá tảng” của toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác, ở trong học thuyết giá trị thặng dư, Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột của nhà tư bản, đã chứng minh công thức của nhà tư bản và giá trị thặng dư là do công nhân sáng tạo ra bị nhà tư bản chiếm không. Nếu xét trên góc độ kinh tế, giá trị thuộc về nhà tư bản nhưng giá trị sử dụng lại thuộc về xã hội. Do đó, công nhân càng tạo ra nhiều giá trị thặng dư thì xã hội càng nhiều của cải. Nếu công nhân không tạo ra giá trị thặng dư người tư bản không được gì, sản phẩm xã hội không tăng lên, kinh tế không phát triển. Chính vì thế, giai cấp tư bản tìm thấy lao động thặng dư là một phát minh vĩ đại để tạo ra bước tăng trưởng kinh tế và chính lòng khao khát lao động thặng dư bằng mọi cách đã làm cho nền kinh tế phát triển nhảy vọt từ khi họ lên nắm địa vị chính trị. ở bề ngoài xã hội thì không có giá trị thặng dư mà chỉ có lợi nhuận thôi. 2. Lợi nhuận. Giá trị của hàng hoá sản xuất trong xã hội TBCN, bao gồm ba bộ phận: 1 - Giá trị của tư bản bất biến (c) (một phần giá trị của máy móc, nhà xưởng, giá trị của nhiên liệu,...). 2- Giá trị tư bản khả biến (v). 3- Giá trị thặng dư (m): Lượng giá trị của hàng hoá là do số người lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá quyết định. Nhưng nhà tư bản không hao phí lao động bản thân vào sản xuất hàng hoá, mà chỉ bỏ tư bản vào đó thôi. Chi phí tư bản chủ nghĩa để sản xuất hàng hoá, gồm có những chi phí về tư bản bất biến và tư bản khả biến (c + v), tức là những chi phí về tư liệu sản xuất và tiền lương công nhân. Đối với nhà tư bản, hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo tư bản đã chi phí, đối với xã hội, hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã hao phí. Bởi vậy những chi phí tư bản chủ nghĩa để sản xuất hàng hoá, thấp hơn giá trị sản xuất thực tế (c + v + m). Chỗ chênh lệch giữa giá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giá trị thặng dư (m) mà nhà tư bản chiếm không. Khi nhà tư bản hàng hoá do xí nghiệp của mình sản xuất ra, thì giá trị thặng dư biểu hiện thành một số thừa ngoài chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa. Khi xác định mức thu nhập của xí nghiệp, nhà tư bản so sánh số thừa đó với số tư bản đã ứng trước tức là tổng tư bản đã bỏ vào sản xuất. Giá trị thặng dư, khi so sánh với tổng tư bản, thì biểu hiện thành hình thức lợi nhuận. Vì giá trị thặng dư bị đem so sánh không phải với tư bản khả biến mà với toàn bộ tư bản cho nên chỗ khác nhau giữa tư bản bất biết dùng vào việc mua tư liệu sản xuất và tư bản khả biến dùng vào việc mua sức lao động bị xoá mờ đi. Do đó mà sinh ra cái vẻ bề ngoài giả dối khiến cho người ta tưởng lầm rằng: lợi nhuận là do tư bản đẻ ra. Nhưng sự thật thì nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư, và giá trị thặng dư chỉ là do lao động của công nhân sáng tạo ra trong quá trình sử dụng lao động, mà giá trị của nó thể hiện ở tư bản khả biến. Lợi nhuận là giá trị thặng dư so sánh với số tư bản đã bỏ vào sản xuất; nhìn bề ngoài giá trị thặng dư có vẻ như là kết quả của số tư bản ấy. Vì vậy Mác gọi lợi nhuận là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư. Và như vậy, hình thức lợi nhuận đã che giấu quan hệ bóc lột bằng cách tạo ra quan niệm sai lầm rằng: lợi nhuận là do chính bản thân tư bản đẻ ra. Chính các hình thức của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm lu mờ và che giấu thực chất bóc lột của nó. Nếu gọi lợi nhuận là p, thì công thức GT = c + v + m = k + m sẽ chuyển hoá thành GT = k + p hay giá trị hàng hoá = chi phí sản xuất + lợi nhuận vậy, cức thoạt nhìn ta thấy rằng p và m cùng là một. Tuy nhiên giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư không phải là hoàn toàn thống nhất mà giữa chúng cũng có sự khác nhau. Về mặt chất: giá trị thặng dư phản ánh nguồn gốc sinh ra từ tư bản lưu động, là biểu hiện của lao động thặng dư; còn lợi nhuận được xem là toàn bộ tư bản ứng trước đề ra. Giá trị thặng dư là biểu hiện của quan hệ giai cấp; còn lợi nhuận biểu hiện mối quan hệ giữa vật với vật. Về mặt lượng: nếu hàng hoá bán đúng giá trị của nó thì người ta đã thực hiện được một lợi nhuận rồi. Lợi nhuận đó bằng giá trị thừa ra ngoài chi phí sản xuất hàng hoá, tức là bằng toàn bộ giá trị thặng dư chứa đựng trong giá trị của hàng hoá (m = p). Nhưng nhà tư bản có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó mà vẫn có lợi nhuận. Bởi vì chừng nào có giá bán của hàng hoá còn cao hơn chi phí sản xuất của nó, dù giá bán thấp hơn giá trị của nó thì bao giờ cũng vẫn thực hiện được một bộ phận giá trị thặng dư chứa đựng trong đó. Như vậy, lợi nhuận là một phạm trù trong lưu thông. Nhà tư bản thu được lợi nhuận nhiều hay ít phụ thuộc vào giá trị hàng hoá. Lợi nhuận xoay quanh giá trị thặng dư cũng như giá cả dao động quanh giá trị nhưng tổng giá trị thặng dư bằng tổng lợi nhuận cũng như tổng giá trị bằng tổng giá cả. Tóm lại, sự khác nhau giữa lợi nhuận giá trị thặng dư cũng giống như sự khác nhau giữa giá trị và giá trị trao đổi. Lợi nhuận là sự thể hiện, tức là “hình thái biến tướng” của giá trị thặng dư. Và cũng như khi nghiên cứu giá trị, thoạt tiên Mác gạt bỏ hình thái giá trị của nó, tức giá trị trao đổi. Chỉ sau khi lần mò vết tích của giá trị, Mác mới trở lại giá trị trao đổi. ở đây cũng thế, thoạt tiên Mác nghiên cứu giá trị thặng dư mà không đả động gì đến các hình thái của nó, Mác chỉ giải thích thực chất của giá trị thặng dư, xét xem nó được sản xuất như thế nào và ai sản xuất nó. Chỉ sau khi nghiên cứu như thế, Mác mới chuyển sang nghiên cứu hình thái của nó tức là nghiên cứu lợi nhuận. Nhưng lúc này phạm vi sản xuất sang một bên và chuyển sang phạm vi lưu thông, vì giá trị thặng dư chỉ chuyển hoá thành lợi nhuận trong lưu thông. Như vậy, Mác đã chỉ ra rằng: giá trị thặng dư biểu hiện thực chất của phương thức sản xuất TBCN. Còn lợi nhuận là một trong những “hình thái cụ thể” mà dưới hình thái đó tư bản hiện ra ở bề mặt của xã hội. 3. Tỷ suất lợi nhuận. Đối với người chủ xí nghiệp thì mức lãi của xí nghiệp TBCN cao hay thấp là do tỷ suất lợi nhuận quyết định. Tỷ suất lợi nhuận là biểu hiện tỷ số giữa giá trị thặng dư và tổng tư bản (P’ = m/k.100%). Ví dụ: nếu tư bản ứng trước là 20.000$, nếu lợi nhuận hàng năm là 40.000$ thì tỷ suất lợi nhuận là 40.000/20.000.100% = 20%. Sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợi nhuận được hoàn thành ở sự chuyển hoá tỷ suất giá trị thặng dư thành tỷ suất lợi nhuận. Sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợi nhuận đã nằm trong việc chia giá trị của hàng hoá thành chi phí sản xuất kinh tế tăng thêm ngoài chi phí sản xuất, nhưng sự chuyển hoá đó được biểu hiện một cách độc lập và đặc thù trong tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận biểu hiện tỷ số giữa số tăng thêm nói trên với tổng tư bản. Do đó, nó củng cố ấn tượng cho rằng lợi nhuận là “con để” của tư bản. Dưới chế độ TBCN, mức độ bóc lột lao động của người khác mang hình thức tăng giá trị, biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư, như vậy sẽ không tránh khỏi việc phải chuyển tỷ suất giá trị thặng dư thành tỷ suất lợi nhuận bởi vì cả bản thân giá trị lẫn mức tăng giá trị đều chỉ có thể hiện trong lưu thông. Nhưng trong lưu thông còn có sự khác nhau giữa tư bản khả biến và tư bản bất biết, giá trị của hàng hoá chia ra thành chi phí sản xuất và số tăng thêm ngoài chi phí sản xuất. Do đó trong biểu thức về mức độ, bóc lột tỷ số giữa giá trị thặng dư với tư bản khả biến (m/v), đã chứa đựng sự chuyển hoá tỷ số ấy thành tỷ số giữa giá trị thặng dư với tổng tư bản (m/(c+v)) hay (m/k) trên thực tế, các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm nhiều hơn đến tỷ suất lợi nhuận. Bởi vì tỷ suất lợi nhuận cho biết nhà tư bản đầu tư vào đâu thì có lợi. Đối với nhà tư bản nếu P’=100% thì đầu tư khắp nơi, nếu P’=200% thì sẽ bất chấp cả pháp luật và còn nếu P’=300% thì treo cổ nhà tư bản vẫn cứ làm. Do đó, tỷ suất lợi nhuận không chỉ là mục tiêu theo đuổi mà còn là động lực chính, là yếu tố để cạnh tranh, là sự thèm khát vô hạn. Trên thực tế thì tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan như tỷ suất giá trị thặng dư, tiết kiệm tư bản bất biến, cấu tạo hữu cơ, tốc độ chu chuyển,... Bởi thế, các nhà tư bản đầu tư vào Việt Nam đang tập trung vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, thu lợi nhuận nhanh như chủ nghĩa khai thác, du lịch. 4. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Trong cuộc đấu tranh giành chỗ đầu tư có lợi nhất, các nhà tư bản cạnh tranh với nhau kịch liệt. Họ muốn đầu tư vào những ngành sản xuất có triển vọng thu được nhiều lợi nhuận hơn trong khi theo đuổi lợi nhuận cao, tư bản chuyển từ ngành này sang ngành khác, kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và tiến hành phân phối lao động và tư bản sản xuất giữa các ngành sản xuất TBCN. Giả sử trong xã hội có ba ngành: Ngành da, ngành dệt và ngành chế tạo máy móc, với số tư bản bằng nhau, nhưng cấu tạo hữu cơ thì khác nhau. Tư bản ứng trước trong mỗi ngành ấy là 100 đơn vị (thí dụ là 100 triệu đồng đôla). tư bản của ngành da gồm 70 đơn vị là tư bản bất biến và 30 đơn vị là tư bản khả biến; tư bản của ngành dệt gồm có 80 đơn vị là tư bản bất biến và 20 đơn vị là tư bản khả biến; và tư bản của ngành chế tạo máy móc gồm có 90 đơn vị là tư bản bất biến và 10 đơn vị là tư bản khả biến. Giả sử tỷ suất giá trị thặng dư trong cả ba ngành đều như nhau: 100%. Như thế thì giá trị thặng dư tạo ra trong ngành da sẽ là 30 đơn vị, trong ngành dệt là 20 và trong ngành chế tạo máy móc là 10. Giá trị của hàng hoá trong ngành thứ nhất sẽ là 130, trong ngành thứ hai là 120, trong ngành thứ ba là 110, và trong toàn bộ cả ba ngành là 360 đơn vị. Nếu hàng hoá bán ra theo giá trị của nó, thì tỷ suất lợi nhuận trong ngành da sẽ là 30% ((30/100).100), trong ngành dệt là 20% ((20/100).100), trong ngành chế tạo máy móc là 10% ((10/100).100). Phân phối lợi nhuận như thế thì sẽ rất có lợi đối với các nhà tư bản thuộc ngành da, nhưng không có lợi đối với các nhà tư bản thuộc ngành chế tạo máy móc. Khi ấy thì các chủ xí nghiệp ngành chế tạo máy móc sẽ đi tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Và họ sẽ thấy ngành da là nơi có lợi hơn cả. Thế là họ chuyển tư bản ở ngành chế tạo máy móc sang ngành da. Kết quả là số lượng hàng hoá sản xuất ra trong ngành da sẽ tăng lên, sự cạnh tranh tất nhiên sẽ sâu sắc thêm và sẽ bắt buộc các chủ xí nghiệp của ngành này phải giảm giá hàng hoá của họ xuống, điều đó sẽ đi đến chỗ hạ thấp tỷ suất lợi nhuận. Trái lại, trong ngành chế tạo máy móc, số lượng hàng hoá sản xuất ra sẽ ít đi, và sự thay đổi tương quan giữa cung và cầu sẽ giúp cho các chủ xí nghiệp nâng cao được giá hàng của họ lên và do đó tỷ suất lợi nhuận cũng tăng lên. Tình trạng sụt giá trong ngành da và lên giá trong ngành chế tạo máy móc, sẽ tiếp diễn cho đến khi nào tỷ suất lợi nhuận trong cả ba ngành xấp xỉ bằng nhau mới thôi. Điều đó sẽ xảy ra khi mà hàng hoá của cả ba ngành đểu bán theo giá 120 đơn vị (130 + 120 + 110)/3. Lợi nhuận bình quân của mỗi ngành, trong những điều kiện ấy, sẽ là 20 đơn vị. Lợi nhuận bình quân là một lợi nhuận bằng nhau của những số tư bản bằng nhau bỏ vào các ngành sản xuất khác nhau. Việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và việc biến giá trị thành giá cả sản xuất càng che dấu thêm quan hệ bóc lột, càng che dấu thêm nguồn gốc làm giàu thực sự của bọn tư bản. Thực ra thì sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân có nghĩa là phân phối lại giá trị thặng dư giữa các nhà tư bản trong các ngành sản xuất khác nhau. Nhà tư bản thuộc ngành có cấu tạo hữu cơ tư bản cao, chiếm đoạt được một phần giá trị thặng dư do các ngành có cấu tạo hữu cơ tư bản thấp sáng tạo ra. Bởi vậy, công nhân không những bị nhà tư bản thuê mình bóc lột, mà còn bị toàn bộ giai cấp các nhà tư bản bóc lột. Toàn bộ giai cấp các nhà tư bản đều quan tâm đến việc nâng cao mức độ bóc lột công nhân, vì điều đó làm tăng thêm tỷ suất lợi nhuận bình quân. Như Mác đã vạch rõ, tỷ suất lợi nhuận bình quân thay đổi tuỳ theo mức độ bóc lột của toàn bộ tư bản đối với toàn bộ lao động. III. Quan điểm của các nhà kinh tế tư sản hiện đại về lợi nhuận. 1. Quan điểm của các nhà kinh tế tư sản hiện đại về lợi nhuận. Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí. Trong đó, doanh thu của một hãng là số tiền mà nó kiếm được qua việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ trong một giai đoạn nhất định, ví dụ như một năm. Chi phí của hãng là những phí tổn phải chịu khi sản xuất ra hàng hoá hoặc dịch vụ trong thời kỳ đó. Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để cung cấp hàng hoá cho thị trường, các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mong muốn chi phí cho các đầu vào thấp nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn số dư dôi ra không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường. + Ngày nay, để thu được nhiều lợi nhuận, nhà tư bản sẽ không đầu tư nhiều vốn để thuê lao động mà đầu tư vào máy móc hiện đại, tự động khi mà lợi nhuận thu được phải tương xứng với lợi nhuận bình quân xã hội, mặc dù giá trị được tạo ra trong đó có giá trị thặng dư nhỏ hơn nhiều so với giá trị của hàng hoá. Vì vậy lợi nhuận nhà tư bản thu được trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật, tự động hoá là do sự chuyển hoá giá trị thặng dư được tạo ra trong xã hội dưới hình thức giá trị thặng dư siêu ngạch được sau đi bù lại giữa các nhà tư bản. Việc áp dụng rộng rãi máy móc hiện đại, tự động trong điều kiện ngày nay đã khiến không ít người đặt câu hỏi rằng: “phải chăng trong các dây chuyền sản xuất tự động đó không còn bóc lột tư bản và chính máy móc đã sáng tạo ra lợi nhuận?”. 2. Lý luận về máy móc tạo ra lợi nhuận. Trước hết, ta cần khẳng định rằng, máy móc và hệ thống máy móc dù có tinh vi, hiện đại đến đâu cũng chỉ là sản phẩm lao động của con người. Con người không thể chế tạo được một động cơ vĩnh cữu. Trong dây chuyền sản xuất tự động, giá trị thặng dư được tạo ra không chỉ là sản phẩm của lao động quá khứ mà vẫn cần tới lao động hiện tại. Mác viết rằng: “lao động biểu hiện ra không phải chủ yếu với tư cách là lao động được nhập vào quá trình sản xuất nữa, mà là chủ yếu với tư cách là một loại lao động trong đó con người ngày càng đứng sang bên cạnh với chức năng giám sát, điều khiển, sáng tạo mà máy móc không làm nổi”. Lợi nhuận siêu ngạch mà nhà tư bản thu được khi áp dụng máy móc hiện đại hơn so với các nhà tư bản khác chẳng qua chỉ là sự phân phối lại giá trị thặng dư sẵn có trên phạm vi toàn xã hội. Do áp dụng máy móc hiện đại nên lao động ở đây có năng suất cao hơn thì giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn. Song trên thị trường giá bán hàng hoá cùng loại vẫn theo giá thị trường nên nhà tư bản có máy móc hiện đại hơn sẽ thu được nhiều lợi nhuận siêu ngạch hơn. Thực tế, trên quy mô thị trường thế giới, các nhà tư bản phát triển sản xuất bằng máy móc hiện đại và đem bán hàng hoá tại các nước kinh tế chậm phát triển đã thu được lợi nhuận khổng lồ khó có thể hình dung được. Lượng lợi nhuận siêu ngạch mà một nhà tư bản thu được là do phần lợi nhuận của các nhà tư bản khác mất đi mà thôi. Nếu mọi cơ sở sản xuất đều trang bị máy móc hiện đại như nhau thì hiện tượng lợi nhuận siêu ngạch sẽ biến mất và người tiêu dùng được lợi vì giá cả hàng hoá được hạ thấp. Nhưng chỉ khi cần một nhà tư bản nào đó áp dụng máy móc hiện đại hơn và thu được lợi nhuận siêu ngạch thì lập tức dẫn đến sự cạnh tranh để rồi sớm hay muộn sẽ làm triệt tiêu lợi thế cá biệt, triệt tiêu lợi nhuận siêu ngạch. Tóm lại, nguồn gốc của lợi nhuận cũng như lợi nhuận siêu ngạch là từ giá trị thặng dư - muốn lao động không công do công nhân sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt - đúng như Mác đã khẳng định và chứng minh. IV- Các hình thức của lợi nhuận. Như ta đã biết, giá trị thặng dư lợi nhuận không hoàn toàn đồng nhất nhưng chúng đều có chung nguồn gốc từ lao động thặng dư. Giá trị thặng dư là phần giá trị mà nhà tư bản bóc lột không công của người côn nhân còn lợi nhuận là số tiền thu được sau khi bán sản phẩm trên thị trường so với số tiền bỏ vào sản xuất. Có thể nói, chính giá trị thặng dư biểu hiện sự bóc lột sản xuất, chứng minh công thức, mâu thuẫn của tư bản một cách chính xác và khoa học. Trước Mác, các nhà kinh tế học đã hình dung ra giá trị thặng dư nhưng họ chưa có đủ lý luận để diễn đạt mà chỉ biểu hiện quan điểm của mình trong vấn đề thu nhập, tiền lương. Chỉ đến Mác, ông mới chứng minh xây dựng lý thuyết giá trị thặng dư là phát minh vĩ đại của mác mà như Lênin nói là “hòn đá tảng” trong học thuyết kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng Mác không phải là người phát minh ra giá trị thặng dư, càng không phải là người làm ra nó: chính người tìm ra giá trị thặng dư là nhà tư bản và người lao động thặng dư là công nhân giá trị thặng dư rất rõ ràng nhưng nó được che dấu bởi lợi nhuận và nó tồn tại trong xã hội tư bản bởi các hình thái sau: 1. Lợi nhuận công nghiệp: Về bản chất là phần giá trị do công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm không và phần giá trị này bán trên thị trường thu được một số tiền lời sau khi trừ đi chi phí sản xuất. Ngày lao động của công nhân (giả sử là 8h) được chia ra làm hai phần: một phần làm ra giá trị tương đương với số tiền lương của anh ta và làm ra giá trị thặng dư. Vì thèm muốn lợi nhuận nên nhà tư bản công nghiệp luôn tìm cách tăng phần thời gian lao động thặng dư như tăng giờ làm, tăng năng suất lao động (giảm thời gian lao động tất yếu). Thời gian lao động thặng dư càng nhiều thì càng thuộc về nhà tư bản và sẽ thu được lợi nhuận càng cao. Như vậy, lợi nhuận công nghiệp là hình thái gần nhất, dễ thấy nhất với giá trị thặng dư và lợi nhuận công nghiệp là động lực mạnh mẽ nhất để phát triển sản xuất. 2. Lợi nhuận thương nghiệp. Trong lưu thông, trao đổi không tạo ra giá trị nhưng nhà tư bản thương nghiệp làm nhiệm vụ lưu thông hàng hoá, làm cho hàng hoá được bán đi nhanh hơn. Tư bản thương nghiệp thực hiện khâu tiêu thụ cho tư bản công nghiệp. Vì thế, họ phải thu được một phần lợi nhuận mà nhà tư bản thương nghiệp chiếm được. Về thực chất, lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp. Sở dĩ nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp một phần giá trị thặng dư trong lúc họ luôn khao khát, thèm muốn nó là bởi vì: Nhà tư bản thương nghiệp rất am hiểu thị trường, khách hàng do đó giúp cho hàng hoá bán đi nhanh hơn, tốc độ chu chuyển nhanh hơn nên nhà tư bản công nghiệp rảnh tay để sản xuất. Do có vai trò quan trọng như vậy, nhà tư bản công nghiệp phải nhường một phần giá trị thặng dư cho nhà tư bản thương nghiệp. Lợi nhuận thương nghiệp là sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá. Điều đó không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán giá cao hơn giá trị mà là họ mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì bán đúng giá trị. 3. Lợi tức cho vay. Nhà tư bản muốn hoạt động nhưng bản thân họ không đủ vốn hoặc không có vốn nên họ phải đi vay để làm vốn đem vào sản xuất. Một số nhà tư bản có tiền nhưng chưa đến chu kỳ sử dụng hoặc chưa sử dụng nên họ cho vay và nhận được một khoản tiền ứng với số tiền cho vay từ tay nhà tư bản đi vay, gọi là lợi tức. Lợi tức cho vay là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay ứng với món tiền mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay, lợi tức cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như sự cấp thiết, hoàn cảnh lịch sử, sự thoả thuận giữa các nhà tư bản,... đối với tư bản thì tiền không thể chết trong két sắt mà nó đẻ ra liên tục. 4. Lợi nhuận ngân hàng. Ngân hàng là cơ quan kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Tuy nhiên, tư bản ngân hàng khác tư bản cho vay ở chỗ: tư bản ngân hàng là tư bản hoạt động, ngoài nguồn vốn nhàn rỗi còn có các hứng khoán,... Ngân hàng tham gia vào sản xuất với tư bản và cả hai bên chi phí liên quan đến nhau cùng chia lợi nhuận. Lợi nhuận ngân hàng là phần lợi nhuận thu được ứng với số tiền mà ngân hàng chung vốn với nhà tư bản tham gia sản xuất. Ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà sản xuất. Một đất nước có phát triển thì hệ thống ngân hàng phải phát triển bởi vì vai trò của ngân hàng trong cơ chế thị trường là yếu tố đặc biệt quan trọng. 5. Địa tô: Tư bản không chỉ hình thành và thống trị trong lĩnh vực công nghiệp mà còn mở rộng cả trong nông nghiệp. Địa chủ có nhiều ruộng đất còn nhà tư bản cần ruộng để kinh doanh. Nhà tư bản kinh doanh ruộng đất phải thu thêm một phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, tức là lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài và nhà tư bản phải trả cho chủ ruộng đất dưới hình thái địa tô TBCN. Như vậy, địa tô TBCN là một phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. phần II Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường I. Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường. 1. Lợi nhuận là động lực trong nền kinh tế thị trường. Con người bao giờ cũng đứng ở vị trí trung tâm, là nhân tố hàng đầu và quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đã là con người thì nhu cầu và hành động của họ trước hết là nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình. Vì vậy, động lực của sự phát triển là nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội. Xét về mặt kinh tế, động lực chính là nhu cầu vật chất, lợi ích vật chất của con người, trong đó quyền sở hữu và quyền hưởng thụ là những khía cạnh khác nhau của lợi ích. Khi đã thừa nhận đặt con người vào vị trí trung tâm thì vấn đề cốt lõi là phải đảm bảo lợi ích cá nhân, thoả mãn các nhu cầu chính đáng và ngày càng tăng của mỗi cá nhân, coi đó là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Trong nền kinh tế thị trường, cái mà nhà sản xuất kinh doanh quan tâm trước hết là lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh được thể hiện chủ yếu ở lợi nhuận nhiều hay ít. Lợi nhuận là nhân tố chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với phí tổn sản xuất. Trong lịch sử có nhiều nhà kinh tế quan niệm rằng lợi nhuận chính là sự trả công cho những ai dám “mạo hiểm” vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh và dám chấp nhận rủi ro, thậm chí phá sản. Để đạt được lợi nhuận tất yếu các nhà sản xuất kinh doanh phải cạnh tranh mạnh mẽ với nhau, tìm mọi cách giảm chi phí để thu lợi nhuận cao nhất. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của người sản xuất kinh doanh. a. Lợi nhuận phân bổ các nguồn lực của xã hội vào đúng nơi, đúng lúc. Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa, đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao nhất. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp luôn bị thị trường thẩm phán về lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì một phần lợi nhuận thu được sẽ đi vào tích luỹ để doanh nghiệp tiếp tục tái sản xuất mở rộng. Lợi nhuận doanh nghiệp thu được trên thị trường sẽ trả lời câu hỏi: có nên tiếpt ục sản xuất hay không? sản xuất cái gì? đổi mới cái gì?... Không còn nữa và sẽ không còn một doanh nghiệp kinh doanh vẫn tiếp tục sản xuất khi mặt hàng đó không thu được lợi nhuận. Như vậy lợi nhuận sẽ điều hướng các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ sản xuất hàng ngàn mặt hàng khác nhau cho phù hợp với nhu cầu. Không một bộ máy thứ hai nào, dù tài giỏi đến đâu có thể giải quyết tốt đẹp vấn đề này. Cơ chế giá cả và lợi nhuận tự do sẽ tối đa hoá sản xuất và làm giảm tình hình khan hiếm nhanh chóng hơn bất cứ một cơ chế nào. b. Lợi nhuận là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất. Doanh nghiệp cũng như các nhà kinh tế phải cố gắng hết sức để đạt được lợi nhuận tối đa. Họ phải làm gì? phải lựa chọn cái nào? sản xuất ra sao?,... Đó là một vấn đề rất khó trả lời một cách cụ thể nhưng chắc chắn rằng nếu sản xuất không có lãi doanh nghiệp sẽ bị loại khỏi thị trường. Trên thương trường, các doanh nghiệp luôn luôn phải tiến lên nếu dừng lại đồng nghĩa với nguy cơ phá sản đang tiến đến. Vì vậy, các ông chủ phải làm mọi cách để doanh nghiệp ngày càng mở rộng, phải làm cho lợi nhuận đẻ ra lợi nhuận thì mới có điều kiện phát triển trong môi trường gay go quyết định lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra phương pháp sản xuất tối ưu nhất, giảm tối thiểu mức chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động để giảm giá thành sản phẩm, giành thắng lợi trong cạnh tranh, thu được nhiều lợi nhuận. Do vậy, khoa học và công nghệ mới tiên tiến được ứng dụng ngày càng nhiều. Đây chính là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. c. Lợi nhuận góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân. Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất kinh doanh ngoài phần thu nhập là tiền lương, còn khoản thu nhập khác, đó là lợi nhuận và phần này ngày càng tăng lên, chiếm ưu thế trong tổng thu nhập. Tổng thu nhập là mỗi người lao động nói chung, mỗi nhà sản xuất kinh doanh nói riêng có được vừa phản ánh kết quả lao động của mỗi người, vừa phản ánh kết quả lao động của tập thể với tư cách là một chỉnh thể. Để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế cần phải phát huy tối đa sức sáng tạo của các nhà sản xuất kinh doanh giỏi và thạo với cơ chế thị trường. Muốn vậy, cần không ngừng nâng cao thu nhập (trong đó có lợi nhuận) của họ. Thực tế cho thấy đời sống của người công nhân ở các nước tư bản phát triển đã được cải thiện nhiều hơn thời Mác sống. ở những nước này, lực lượng sản xuất rất được quan tâm, thúc đẩy góp phần tăng năng suất lao động xã hội. Do đó, giá cả tư liệu sinh hoạt giảm xuống. Với đồng lương cố định, người công nhân có thể mua được nhiều vật phẩm tiêu dùng hơn, do đó đời sống của họ được cải thiện hơn. Ngoài ra do khối lượng thặng dư thu được quá lớn, với tốc độ nhanh để tránh sự phản ứng của người lao động và quần chúng nhân dân, và để che đậy sự bóc lột tàn bạo ấy, các nhà tư bản cũng phải bỏ ra một phần giá trị thặng dư thu được để lo cho đời sống dân sinh xã hội. Như vậy, lợi nhuận góp phần nâng cao mức sống cho người dân phải hăng say lao động, nâng cao hiệu quả công việc hơn nữa hay nói cách khác đây chính là điều kiện để tái sản xuất ra sức lao động trong điều kiện nền sản xuất hiện đại. d. Lợi nhuận tạo điều kiện tái sản xuất mở rộng cho xã hội. Vì mục đích lợi nhuận các nhà tư bản không ngừng phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm ngày càng nhiều. Đồng thời, phân công lao động ngày càng sâu, mối liên hệ giữa các xí nghiệp, các ngành kinh tế càng chặt chẽ thì thị trường càng phát triển, các nhà tư bản phải mua bán với nhau nhiều hơn. Bên cạnh đó, tầng lớp nhân dân cũng cần nhiều tư liệu tiêu dùng hơn. Do đó, hàng hoá sản xuất ra có thể tiêu thụ được, lợi nhuận vì vậy cũng thu được nhiều hơn. Và một phần lợi nhuận đó được các nhà tư bản mang vào tích luỹ để tái sản xuất mở rộng nhằm lần sau thu được lợi nhuận nhiều hơn lần trước. Do vậy, lợi nhuận tạo điều kiện để mở rộng sản xuất là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Như vậy, lợi nhuận kích thích các chủ thể kinh tế, kích thích họ tìm tòi, cải tiến phương thức sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất. Đồng thời nền kinh tế thị trường phát triển cũng huy động được nguồn lực của xã hội và phát triển kinh tế để thu được nhiều lợi nhuận. Do vậy, có thể nói lợi nhuận chính là động lực của nền kinh tế thị trường. 2. Các nhân tố ảnh hưởng và quyết định đến lợi nhuận. Trên đây ta đã thấy được tầm quan trọng của lợi nhuận như thế nào rồi. Bây giờ ta xem xét các yếu tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận. a - Quy mô sản xuất hàng hoá dịch vụ: Một doanh nghiệp muốn thu được lợi nhuận thì phải giải quyết được ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? + Sản xuất cái gì tức là quyết định cái gì đòi hỏi phải làm và nên sản xuất hàng hoá dịch vụ gì với số lượng bao nhiêu, bao giờ sản xuất. Trên cơ sở nhu cầu của thị trường các Chính phủ và các nhà kinh doanh tính toán khả năng sản xuất của nền kinh tế, của doanh nghiệp và các chi phí sản xuất tương ứng để lựa chọn và quyết định cung ứng cái gì để đạt được lợi nhuận, đạt được thu nhập quốc dân. Chính giá cả thị trường là bàn tay vô hình để điều chỉnh quan hệ cung cầu và giúp chúng ta lựa chọn, quyết định. + Sản xuất như thế nào nghĩa là do ai và những tài nguyên nào với hình thức công nghệ nào, phương pháp sản xuất nào. Sau khi đã lựa chọn được cần sản xuất cái gì, các Chính phủ, các nhà kinh doanh phải xem xét việc làm thế nào để chi phí ít nhất, cạnh tranh thắng lợi trên thị trường để thu được lợi nhuận cao nhất. Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm, lựa chọn các đầu vào để sản xuất ra đầu ra nhanh nhất, sản xuất được nhiều nhất, chất lượng cao với chi phí thấp nhất. + Sản xuất cho ai tức là đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ là đối tượng để sản xuất, đối tượng sản xuất nào mà tiêu thụ được hàng hoá sản xuất ra để từ đó đạt đến lợi
- Xem thêm -