Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình

  • Số trang: 128 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 124 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------- LÊ THỊ PHONG LAN NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH (DỰA TRÊN TƯ LIỆU CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU, GẶP GỠ TRUYỀN HÌNH) CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC MÃ SỐ: 60.3201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ QUANG HÀO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------- LÊ THỊ PHONG LAN NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH (DỰA TRÊN TƯ LIỆU CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU, GẶP GỠ TRUYỀN HÌNH) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cảm ơn Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng biểu MỞ ĐẦU 01 Chương 1: GIAO LƢU-GẶP GỠ TRUYỀN HÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA NGƢỜI DẪN CHƢƠNG TRÌNH 09 1.1 Những vấn đề chung về truyền hình 09 1.1.1 Đặc trưng truyền hình 09 1.1.2 Vấn đề thể loại và chương trình 10 1.1.2.1 Chương trình truyền hình 11 1.1.2.2 Vài nét về thể loại truyền hình 13 1.2 Về nhóm giao lƣu -gặp gỡ truyền hình 17 1.2.1 Giao lưu gặp gỡ là gì? 17 1.2.2 Các chương trình giao lưu -gặp gỡ trên đài Truyền hình Việt Nam 19 1.3 Vai trò của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình 23 1.3.1 Về khái niệm người dẫn chương trình 24 1.3.2 Vai trò của người dẫn chương trình giao lưu-gặp gỡ truyền hình 26 Chương 2: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NGƢỜI DẪN CHƢƠNG TRÌNH 32 2.1 Lý luận chung về ngôn ngữ trong giao tiếp 32 2.1.1 Một số vấn đề về ngôn ngữ học 32 2.1.2 Bộ phận cấu thành ngôn ngữ 34 2.1.2.1 Ngữ âm 34 2.1.2.2 Từ vựng 35 2.1.2.3 Ngữ pháp 37 2.1.3 Giao tiếp và giao tiếp hội thoại 2.2 Vấn đề sử dụng ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình 2.2.1 37 giao lƣu-gặp gỡ truyền hình 39 Lời dẫn kết nối tác phẩm 40 2.2.1.1 Dẫn nhập 40 2.2.1.2 Dẫn vào phóng sự 43 2.2.1.3 Lời dẫn kết 45 2.2.2 Xây dựng câu hỏi giao lưu 47 2.2.2.1 Cấu tạo câu hỏi tối thiểu 47 2.2.2.2 Các dạng câu hỏi phỏng vấn 49 2.2.2.3 Sử dụng câu hỏi hiệu quả 51 Đặc trưng phong cách nói 59 2.2.3 2.2.3.1 Phương tiện ngữ âm 60 2.2.3.2 Sử dụng từ ngữ đặc trưng 62 2.2.3.3 Bàn về xưng hô 65 2.3 Lịch sự trong cách hành ngôn 69 2.3.1 Người dẫn đặt câu hỏi “sốc” 70 2.3.2 Người dẫn bình luận, đánh giá phần trả lời của khách mời 72 2.3.3 Người dẫn cướp lời nhân vật 74 2.3.4 Một số động từ gây nên lỗi cho người dẫn 76 2.4 Ngôn ngữ không lời 80 2.5 Tiểu kết 85 Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NGƢỜI DẪN CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 88 3.1 Khởi đầu câu chuyện 88 3.2 Tình huống ngẫu phát 91 3.3 Một số yếu tố liên quan 93 3.3.1 Biết quan tâm đến khách mời 95 3.3.2 Yếu tố hài hước 96 3.3.3 Biết lắng nghe và để ý đến người nghe 98 3.3.4 Nghệ thuật làm vừa lòng 99 3.3.5 Một số vấn đề khác 101 3.4 Kinh nghiệm của một số ngƣời dẫn chƣơng trình 102 3.4.1 Tạ Bích Loan 102 3.4.2 Kim Ngân 104 3.4.3 Larry King 106 3.5 Tiểu kết 109 KẾT LUẬN 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC: - Mẫu phiếu điều tra - Kết quả điều tra - Các bài phỏng vấn sâu - Các tài liệu nội bộ VTV - Các kịch bản - Các câu hỏi của người dẫn được liệt kê (Tạ Bích Loan, Larry King) - Một số tài liệu nước ngoài. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN - MC Master of Ceremonies Người dẫn chương trình - SP Speaker Người nói - STV Speaker on Television Người nói trên truyền hình - NV Nhân vật giao lưu - KM Khách mời giao lưu - VTV Đài Truyền hình Việt Nam DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Số hiệu Bảng Tên bảng Trang 2.1 Cách xưng hô 67 2.1 Người dẫn đặt câu hỏi “sốc” 70 2.3 Người dẫn bình luận, đánh giá phần trả lời 73 2.4 Người dẫn cướp lời khách mời giao lưu 75 3.1 Các yếu tố của người dẫn chương trình 94 3.2 Mức độ xem các chương trình giao lưu-gặp gỡ 115 3.3 Đánh giá mức độ hấp dẫn của các chương trình 112 giao lưu-gặp gỡ hiện nay 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ngày nay, truyền hình đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với bất kỳ xã hội nào. Nhờ sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật, công nghệ thông tin, khán giả có thể xem truyền hình ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào. Bằng giao thức Internet trên đƣờng truyền băng rộng, truyền hình băng rộng đã làm thay đổi cách thức xem truyền hình của con ngƣời. Là một công nghệ truyền hình tiên tiến nhất hiện nay, truyền hình băng rộng phát triển theo xu hƣớng công nghệ mới gọi là Triple Play (ba trong một: điện thoại, truyền hình, dữ liệu). Không cần ti vi, chỉ cần bật máy vi tính hoặc điện thoại cầm tay, cho phép khán giả kết nối với hàng chục kênh truyền hình trên thế giới. Với sự hỗ trợ của công nghệ này, ngƣời xem có thể tƣơng tác với đài truyền hình, với nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác. Thời đại của truyền hình hai chiều đã chính thức gõ cửa truyền hình Việt Nam khi truyền hình băng rộng có mặt ở nƣớc ta vào tháng 3/2006. Cùng với sự hỗ trợ của kỹ thuật công nghệ, truyền hình hai chiều, hay còn gọi là truyền hình tƣơng tác, khán giả là ngƣời chủ động phát sóng các chƣơng trình. Có nghĩa là khán giả có quyền yêu cầu chƣơng trình chứ nhất thiết phải chờ đợi xem chƣơng trình theo lịch phát sóng của nhà Đài. Ngƣời xem cũng có thể phản ứng trực tiếp đối với chƣơng trình đang phát và Đài truyền hình sẽ nhận đƣợc ngay ý kiến khán giả. Bên cạnh đó là hệ thống truyền hình cáp, loại truyền hình trả tiền xuất hiện ở nƣớc ta từ năm 1995 và đang đƣợc nhiều ngƣời dân lựa chọn dịch vụ này. Với 2 truyền hình cáp Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể xem 34 kênh truyền hình khác nhau của Việt Nam và các kênh nổi tiếng của thế giới. Nói những vấn đề trên để thấy rằng, không còn thời đại của truyền hình Việt Nam “cho gì xem nấy”. Nhà Đài bắt buộc phải thay đổi tƣ duy, thay đổi cách làm truyền hình và phải hoàn thiện mình ở tất cả các mặt. Nếu một chƣơng trình, một chuyên mục, một kênh truyền hình nào đó không đáp ứng nhu cầu của khán giả sẽ mất khán giả ngay. Và ngƣợc lại, nếu là một chƣơng trình tốt thì hiệu ứng của nó là vô cùng khi con ngƣời càng ngày càng dễ dàng tiếp cận với truyền hình. Trên thực tế, nhiều chƣơng trình của Đài Truyền hình Việt Nam và một số đài địa phƣơng đã tiếp cận đƣợc cách làm truyền hình hiện đại. Những ê-kip làm chƣơng trình đã chuyên nghiệp hơn, năng động hơn. Nhiều chƣơng trình trò chơi, giao lƣu-gặp gỡ đã sử dụng cách làm truyền hình hiện đại để chuyển tải thông tin. Chƣơng trình truyền hình mang tính tƣơng tác đã đƣợc khai thác ngày càng nhiều với sự dẫn dắt của ngƣời dẫn chƣơng trình, thay thế dần cho cách làm truyền hình theo phƣơng pháp “điện ảnh”. Để có thể làm nên một chƣơng trình truyền hình mang tính tƣơng tác trên sóng truyền hình Việt Nam nhƣ hiện nay, cần phải có một ê-kíp hàng chục, có khi là hàng trăm ngƣời. Tuy nhiên, khi chƣơng trình lên sóng, khán giả sẽ chỉ thấy vai trò gần nhƣ là “độc tôn” của ngƣời dẫn chƣơng trình. Có thể nói, ngƣời dẫn chƣơng trình có vai trò đặc biệt quan trọng vì trên sóng, họ là ngƣời đại diện cho nhà Đài, mang sản phẩm tinh thần của cả một tập thể đến cho khán giả. Và, với đòi hỏi của cách làm truyền hình hiện đại, ngƣời dẫn càng phải thể hiện đƣợc vai trò, vị trí của mình trong một chƣơng trình. Ấn tƣợng của một chƣơng trình luôn bắt đầu từ ngƣời dẫn. Ngƣời dẫn thể hiện khả năng của mình tốt thì càng giữ đƣợc khán giả cho chƣơng trình. 3 Tuy nhiên, nhìn ở bình diện chung, những ngƣời dẫn chƣơng trình nói chung và chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ nói riêng hiện nay trên sóng truyền hình VIệt Nam và các đài địa phƣơng còn khá nhiều khập khiễng trong hành ngôn, ứng xử. Ngƣời dẫn không đƣợc đào tạo, chủ yếu là tự phát, thiếu tính chuyên nghiệp là vấn đề bức xúc đặt ra cho những ngƣời làm truyền hình. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trong khi hiện nay, chƣơng trình trò chơi dƣờng nhƣ bão hòa trƣớc làn sóng “trò chơi truyền hình”, không ít khán giả đã và đang tìm đến với những cuộc trò chuyện mang tính sự kiện, mang tính xã hội. Trong hệ thống các nhóm tác phẩm truyền hình trên truyền hình Việt Nam hiện nay thì giao lƣu gặp gỡ là nhóm mang tính tƣơng tác cao với cách làm truyền hình hiện đại. Tuy nhiên, để có thể tạo nên một chƣơng trình hấp dẫn không phải là vấn đề đơn giản, trong đó, vai trò của ngƣời dẫn chƣơng trình đƣợc coi là yếu tố tiên quyết. Đó là ngƣời điều khiển buổi nói chuyện, tìm kiếm thông tin và chia sẻ thông tin với khán giả. Chính ngôn ngữ của ngƣời dẫn góp phần rất lớn trong việc khai thác câu chuyện của nhân vật, khách mời. Truyền hình ở nƣớc ta so với thế giới còn khá mới mẻ về lịch sử hình thành và phát triển, do đó, những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến truyền hình còn ít, nhất là về phạm trù ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình. Với luận văn này, mục đích trƣớc tiên là góp phần xây dựng hệ thống lý luận ngôn ngữ của ngƣời nói, ngƣời dẫn chƣơng trình trên truyền hình. Dựa trên tƣ liệu các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ, luôn đòi hỏi ngƣời dẫn chƣơng trình một khả năng cao nhất so với các dạng thức nói khác trên truyền hình trong cách nói, đối đáp, khả năng tổ chức và điều hành các cuộc thoại, xử lý các tình huống…, mục đích của chúng tôi là có đƣợc một cứ liệu tƣơng đối hoàn chỉnh, bao quát. Từ đó, qua xem xét, đánh giá các chƣơng trình trên đài 4 truyền hình, qua kết quả điều tra xã hội học và kinh nghiệm của một số ngƣời dẫn chƣơng trình hàng đầu ở nƣớc ta, luận văn sẽ đƣa ra những qui luật, cách thức tổ chức và sử dụng ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình. Mong muốn lớn nhất của chúng tôi với luận văn này là góp phần giúp cho ngƣời dẫn chƣơng trình, không chỉ với ngƣời dẫn các chƣơng trình giao lƣu-gặp gỡ mà còn ở các chƣơng trình khác trên truyền hình, biết cách sử dụng ngôn ngữ hiệu quả nhất. 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Tính đến thời điểm hiện nay vẫn chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, cách thức nói, dạng thức nói trên truyền hình. Có thể kể đến Khóa luận tốt nghiệp “Bƣớc đầu tìm hiểu nghệ thuật nói trƣớc công chúng truyền hình” năm 2005 của Trƣơng Thị Diệu Thúy, luận án tiến sĩ ngữ văn “Dạng thức nói trên truyền hình” năm 2005 của Nguyễn Bá Kỷ. Với Trƣơng Thị Diệu Thúy, đó là công trình nghiên cứu chủ yếu nói về các phát thanh viên (Speaker) trên các bản tin thời sự của đài Truyền hình Việt Nam. Với Nguyễn Bá Kỷ, tác giả đi rộng hơn là Dạng thức nói trên truyền hình, với khái niệm Speaker on Television. Khái niệm này bao gồm cả ngƣời nói – phát thanh viên (Speaker SP) và ngƣời dẫn chƣơng trình (Master of Ceremonies – MC) trên truyền hình. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu một cách chung về dạng thức nói, chứ không đi sâu vào tìm hiểu cách sử dụng ngôn ngữ cụ thể của phát thanh viên hay của ngƣời dẫn chƣơng trình ở nhóm chƣơng trình, thể loại nào. Với đề tài này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình, và nhóm chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ truyền hình là đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu. Đây có thể xem là đề tài hoàn toàn mới trong lĩnh vực nghiên cứu về truyền hình. 5 PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp là phạm vi rộng. Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào nền tảng các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học để nói về vấn đề ngƣời dẫn chƣơng trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp trên truyền hình. Ở đây, chúng tôi không đi vào tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình mà là ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình. Dựa trên các phƣơng tiện ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngƣời dẫn đã thể hiện cách ăn nói của mình nhƣ thế nào trong các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ truyền hình. Luận văn không chỉ tìm hiểu ngôn ngữ của ngƣời dẫn ở dạng thức nói, mà còn lĩnh vực ngôn ngữ không lời, ở khía cạnh ngôn ngữ của báo chí. Vì thực chất, trong quá trình tạo nên tác phẩm, đó là những nhà báo thực thụ với cách dụng ngôn phù hợp để tìm kiếm thông tin, chia sẻ thông điệp với khán giả. Các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ ở đây cũng giới hạn trên đài Truyền hình Việt Nam, và một vài chuyên mục ở đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh. Sở dĩ có điều này bởi nhóm giao lƣu-gặp gỡ sử dụng không nhiều trong các chuyên mục trên các đài. Có nhiều lý do, trong đó có lý do thiếu ngƣời dẫn đủ khả năng làm cho chƣơng trình hay. Bao giờ cũng vậy, nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ luôn là một lĩnh vực không đơn giản, nhất là khi chọn đề tài về ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình, một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ ở nƣớc ta. Để có kết quả tốt, chúng tôi đã sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu cùng lúc. Thứ nhất là thu thập các tài liệu giấy, băng hình…liên quan đến đề tài. Thứ hai, chúng tôi xem, khảo sát, thống kê, phân tích các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ phát trên sóng đài truyền hình địa phƣơng, Trung ƣơng và một số 6 chƣơng trình của nƣớc ngoài. Từ cách tiếp cận này, chúng tôi có cái nhìn cụ thể cho đề tài. Thứ ba, chúng tôi tiến hành điều tra xã hội học với 504 phiếu chia ra cả ba miền: miền Bắc (209 phiếu), miền Trung – Tây Nguyên (128 phiếu), miền Nam (167 phiếu), nhằm thu thập thông tin từ khán giả về các vấn đề liên quan đến ngƣời dẫn chƣơng trình nhƣ tiêu chuẩn, cách sử dụng ngôn ngữ, đề tài… Sau đó, chúng tôi sử dụng phần mềm hỗ trợ SPSS (Statistic Package for Social Science) – một phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu và xử lý thống kê chuyên nghiệp nhất hiện nay để phân tích xử lý các dữ liệu thu thập đƣợc. Trên cơ sở thông tin điều tra đƣợc, chúng tôi tiến hành phân tích và đánh giá để đƣa ra những nhận định, kết luận. Cách tiếp cận này sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quát và là những minh chứng cho các lập luận. Thứ tƣ, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu một số ngƣời dẫn chƣơng trình trong các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ truyền hình đƣợc nhiều khán giả yêu mến hiện nay để chính những ngƣời trong cuộc có cái nhìn về nghề của mình. Ngƣời dẫn cũng chia sẻ những kinh nghiệm, những suy nghĩ về nghề dẫn chƣơng trình mà các cách tiếp cận khác của chúng tôi chƣa làm sáng tỏ. Bên cạnh đó, chúng tôi dựa vào kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp và qua quan sát các đồng nghiệp để đƣa ra những nhận xét, đánh giá. Các phƣơng pháp làm việc nêu trên không tiến hành riêng lẻ mà có sự phối hợp, hỗ trợ cho nhau trên cơ sở sử dụng các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu.., để chúng tôi tiến hành làm luận văn này. 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Về mặt lý luận, qua những khảo sát, nghiên cứu, luận văn mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình. Với việc khảo sát trên tƣ liệu các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ truyền hình sẽ là cơ 7 sở để đƣa ra những lý thuyết chung về cách sử dụng ngôn ngữ có lời và phi lời. Luận văn cũng nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm về nghiệp vụ báo chí ở khía cạnh ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình. Là một công trình nghiên cứu khoa học, chúng tôi luôn mong muốn luận văn có giá trị thực tiễn cao. Chúng tôi đã sử dụng nhiều thông tin, tƣ liệu từ thực tiễn, qua trò chuyện, qua những cuộc phỏng vấn sâu với ngƣời dẫn chƣơng trình để từ đó có những kết luận đúc kết từ thực tế sống động nhất. Chọn những chƣơng trình thuộc nhóm giao lƣu gặp gỡ, một nhóm chƣơng trình luôn đòi hỏi ngƣời dẫn ở mức độ cao về mọi mặt, chúng tôi hi vọng đó nhƣ là một cách để đƣa ra những “chuẩn mực” cần thiết. Từ đó, giúp cho ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình tránh đƣợc những khuyết điểm cũng nhƣ phát huy ƣu điểm trong sử dụng ngôn ngữ. Hơn nữa, những ai yêu thích nghề dẫn chƣơng trình đều có thể xem luận văn nhƣ một tài liệu tham khảo hữu ích để rèn luyện khả năng làm nghề dẫn chƣơng trình hoặc đơn giản là để nói chuyện trƣớc công chúng đạt hiệu quả cao hơn. CẤU TRÖC CỦA LUẬN VĂN Luận văn gồm các phần: 1. Mục lục 2. Danh mục chữ viết tắt 3. Danh mục bảng biểu 4. Phần mở đầu: Giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu, ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn… 5. Phần nội dung chính, gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Giao lƣu gặp gỡ truyền hình và vai trò của ngƣời dẫn chƣơng trình. 8 - Chƣơng 2: Vấn đề sử dụng ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ truyền hình - Chƣơng 3: Nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình. 6. Phần kết luận 7. Thƣ mục tham khảo 8. Phụ lục 9 CHƢƠNG 1 GIAO LƯU GẶP GỠ TRUYỀN HÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỀN HÌNH 1.1.1 Đặc trƣng truyền hình So với các phƣơng tiện truyền thông đại chúng khác nhƣ báo in, phát thanh, thì truyền hình có lịch sử hình thành muộn nhất. Tuy nhiên, ngay khi ra đời, nhiều giả thuyết cho rằng thời đại của báo in, phát thanh đã chấm hết, nhƣờng chỗ cho truyền hình. Sở dĩ có giả thuyết nhƣ vậy là bởi truyền hình đã sử dụng đƣợc gần nhƣ toàn bộ thế mạnh của điện ảnh, phát thanh và cả báo viết làm công cụ truyền tải thông tin. Nếu ở báo in, đó là ngôn ngữ viết và những hình ảnh tĩnh. Phát thanh là ngôn ngữ của âm thanh (bao gồm cả tiếng động và âm nhạc, lời nói). Điện ảnh là những thƣớc phim với hình ảnh động. Truyền hình có khả năng chuyển tải thông tin không những bằng phƣơng tiện hình ảnh động (cả hình ảnh tĩnh nếu cần), sử dụng âm thanh và cả chữ viết. Tính đa kênh (kênh lời, kênh hình ảnh, kênh chữ) đã tạo cho truyền hình một thế đứng vững vàn trong các phƣơng tiện truyền thông đại chúng khác. Bên cạnh tính đa kênh, truyền hình còn sở hữu tính “giao tiếp” giữa Nhà Đài và khán giả. Ngƣời nói trên truyền hình là đang nói chuyện với công chúng của mình : “Kính thưa quí vị và các bạn, mời quí vị và các bạn theo dõi những phần tin tức sau đây….”, “Mời bà con nông dân và quí vị cùng đến thăm trang trại của anh…”. Ngay sau lời chào, lời mời là những hình ảnh động, tạo cảm giác cho ngƣời xem nhƣ đƣợc chứng kiến, đƣợc nghe, đƣợc tham gia vào câu chuyện. Trong các chƣơng trình truyền hình trực tiếp, đặc điểm giao tiếp giữa 10 nhà Đài và công chúng càng rõ hơn, khi truyền hình có khả năng thông báo thông tin bằng cả hình thức thức nghe và nhìn. Khán giả nghe đƣợc tiếng nói và thấy đƣợc hình ảnh chính bản thân sự kiện đang diễn ra và khán giả nhƣ đƣợc tham gia vào câu chuyện với ngƣời đại diện, ngƣời dẫn dắt là các STV. Giao tiếp với công chúng đã tạo nên đặc điểm riêng trong các chƣơng trình truyền hình. Ngôn ngữ truyền hình đã tạo một khả năng tiếp nhận thông tin của khán giả khác hẳn so với các loại hình truyền thông khác. Truyền hình có thể đạt tới độ tuyệt đối về phạm vi công chúng tiếp nhận khi trong cùng một lúc có thể đƣa thông tin đến cho hàng tỉ ngƣời trên thế giới. Đối tƣợng công chúng truyền hình không phân biệt ngôn ngữ, quốc gia, trình độ, tuổi tác và cả ngƣời khuyết tật. Nếu một ngƣời không bị khiếm thị lẫn mất thính giác, đều có thể là khán giả của truyền hình. Trong khi đó, báo in luôn chọn lựa khán giả nhƣ phải biết chữ, phải có trình độ nhất định. Hay ở phát thanh, bắt buộc ngƣời nghe phải không có vấn đề về thính giác… Khả năng tiếp nhận thông tin đã tạo nên sức mạnh đặc thù cho truyền hình mà không phƣơng tiện truyền thông đại chúng nào có thể mang lại hiệu quả hơn. Đặc trƣng nữa của truyền hình là tính trực tiếp. Nhƣ đã nói, ngay trong cùng một thời điểm, hàng tỉ ngƣời ở khắp các châu lục trên thế giới có thể theo dõi một sự kiện diễn ra. Với khả năng có thể làm ảnh hƣởng đến suy nghĩ, nhận thức của con ngƣời trên phạm vi toàn thế giới ngay cùng một thời điểm phát hình, truyền hình là một trong những phƣơng tiện hàng đầu trong tạo lập dƣ luận, định hƣớng dƣ luận. 1.1.2 Vấn đề thể loại và chƣơng trình truyền hình 11 Ở truyền hình thƣờng có sự gặp nhau giữa chương trình và thể loại trong một tác phẩm cụ thể. Tuy nhiên, xét về tính chất, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. Trong nhiều lần liên hoan truyền hình toàn quốc, tại các cuộc hội thảo chuyên đề, những vấn đề về thể loại truyền hình cũng chƣa đƣợc hiểu đầy đủ. Phổ biến là sự không rõ ràng giữa khái niệm chƣơng trình truyền hình và thể loại truyền hình. Trong thông báo số 906/TB-THVN ngày 1/9/2003 do Tổng giám đốc Vũ Văn Hiến ký, mục II, đề cập đến các thể loại tham dự liên hoan truyền hình, khái niệm “chƣơng trình truyền hình tƣơng tác” đƣợc hiểu nhƣ một thể loại, và các chƣơng trình thuộc nhóm giao gặp gỡ đƣợc xếp vào loại này. Để hiểu rõ hơn vai trò của ngƣời dẫn chƣơng trình truyền hình trong các chƣơng trình giao lƣu gặp gỡ, chúng tôi xin dành một phần luận văn để bàn về vấn đề còn khá mới mẻ ở nƣớc ta hiện nay. Thực tế lý luận truyền hình hiện nay còn quá ít, nếu có thì mỗi tác giả một quan điểm nên các khái niệm còn chƣa thống nhất. Khi bắt tay vào làm luận văn này, chúng tôi không khỏi lúng túng trƣớc các khái niệm từ sự không thống nhất này. Hiểu khái niệm thể loại báo chí truyền hình với chƣơng trình truyền hình để tránh những ngộ nhận và góp phần tăng hiệu quả tác nghiệp cho các chƣơng trình truyền hình là điều cần thiết. 1.1.2.1. Chương trình truyền hình Cùng với sự xuất hiện của báo chí phát thanh, sau đó là truyền hình thì cũng xuất hiện thuật ngữ chƣơng trình (programme, program). Thuật ngữ này thể hiện rõ bản chất của chúng. Nghĩa đầu tiên, có thể hiểu chƣơng trình truyền hình là sản phẩm của truyền hình, là toàn bộ nội dung phát đi trong ngày, trong tuần, trong tháng. Với nghĩa này, nó bao hàm cả quá trình sáng tạo ra một tác phẩm từ nhiều công đoạn khác nhau. Các tác phẩm này hoặc đứng riêng thành các chuyên mục hoặc đƣợc 12 “kết dính” với nhau, đƣợc sắp đặt theo một trình tự nào đó của Nhà đài để tạo nên chƣơng trình. Theo đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa, chƣơng trình truyền hình là “hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội để truyền tải thông tin đến công chúng”. Trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình, tác giả Trần Bảo Khánh cho rằng, chƣơng trình là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng”. Nhƣ vậy, ở một góc độ nào đó, chƣơng trình cũng có thể hiểu là cách gọi cho một tác phẩm hoàn chỉnh. Bất kì một chƣơng trình truyền hình nào cũng có một cái tên. Cái tên đó chính là chủ đề cơ bản, là mục đích chính của chƣơng trình. Ví dụ chƣơng trình thời sự, chƣơng trình thể thao, chƣơng trình Ngƣời đƣơng thời, chƣơng trình Ngƣời xây tổ ấm, chƣơng trình Vì an ninh Tổ quốc… Một chƣơng trình truyền hình luôn có tính ổn định cao, tính thống nhất và tính định kỳ. Ở đây cũng cần nói thêm về chuyên mục trên đài truyền hình. Có thể hiểu nôm na chuyên mục là mục thƣờng kỳ dành riêng cho một vấn đề nào đó. Nhƣ vậy, ở mức độ nào đó, cách gọi chuyên mục và chương trình tƣơng đƣơng nhau. Trong các giấy tờ áp khung để tính nhuận bút của đài truyền hình Việt Nam, ghi rõ: Chuyên mục: ngƣời xây tổ ấm, thể loại áp dụng: giao lƣu gặp gỡ truyền hình. (xem thêm phụ lục). Tuy nhiên, ở một tác phẩm cụ thể thì không thể gọi là chuyên mục đƣợc. Cách gọi chuyên mục hay chương trình tùy thuộc vào từng trƣờng hợp. Mỗi chƣơng trình phục vụ cho những đối tƣợng chuyên biệt hay phục vụ cho đông đảo quần chúng thì cũng cần trả lời các câu hỏi: - Cái gì? (chủ đề chƣơng trình). - Nhƣ thế nào? (Thể loại, hình thức thể hiện). - Cho ai? (Toàn thể công chúng hay đối tƣợng chuyên biệt). 13 - Khi nào? (Thời gian phù hợp hay bắt buộc). - Hiệu quả? (Chƣơng trình mang lại điều gì cho đối tƣợng hƣớng tới). Nhƣ vậy, khi dùng từ chương trình, nó bao hàm nhiều vấn đề: nội dung, hình thức thể hiện, đối tƣợng hƣớng tới, kết quả đạt đƣợc…Có lẽ do điều này mà cách gọi chương trình đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong lĩnh vực truyền hình hiện nay, thay thế cho nhiều cách gọi khác. 1.1.2.2 Vài nét về thể loại truyền hình Vấn đề thể loại luôn là vấn đề gây sự tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Ở nƣớc ta, truyền hình là loại hình báo chí xuất hiện trễ hơn so với báo in và phát thanh. Lý luận báo chí truyền hình ở nƣớc ta chƣa nhiều, chƣa đầy đủ. Do đó, cách phân loại hiện nay cũng chƣa thống nhất và chƣa khái quát hết thực tiễn của truyền hình. Theo tác giả Trần Bảo Khánh, ở một số nƣớc phát triển, ngƣời ta thƣờng chia truyền hình làm 5 loại tác phẩm cơ bản: -Loại thuyết trình (Lecture): Đây là loại sử dụng phát thanh viên hoặc biên tập viên để trình bày một vấn đề. Ƣu điểm của nó là dễ sản xuất, đƣợc bấm máy ngay tại trƣờng quay hoặc dàn cảnh đơn giản. -Loại phỏng vấn (interview): Sử dụng các dạng câu hỏi để phỏng vấn tìm kiếm thông tin. -Loại thảo luận (Panel Discusion): Là loại tác phẩm sử dụng phƣơng thức thảo luận giữa nhà báo và các chuyên gia. Mục tiêu của cuộc thảo luận là đƣa ra các thông tin về quan điểm, tƣ tƣởng, ý kiến về một vấn đề, nhƣng lại đặt trọng tâm vào việc cọ sát các quan điểm, ý kiến đó. -Loại kịch bản (Dramatization): Đây là loại tác phẩm truyền hình có qui trình sản xuất luôn đòi hỏi một cách chuyên nghiệp.
- Xem thêm -