Nghiệp vụ môi giới trong công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ môi giới chứng khoán

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................3 CHƯƠNG 1.............................................................................................................. 5 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT DỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN.................................................................................................................... 5 1.1. Công ty chứng khoán:.....................................................................................5 1.1.1. Khái niệm:................................................................................................5 1.1.5. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán:...............................................12 1.2. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán:.................................................................17 1.2.1. Khái niệm:..............................................................................................17 1.2.2. Đặc điểm :..............................................................................................17 1.2.3. Phân loại:................................................................................................19 1.2.4. Vai trò của nghiệp vụ môi giới chứng khoán:.........................................21 1.2.5. Kỹ năng và phẩm chất của nhân viên môi giới:......................................22 1.2.6. Nội dung của nghiệp vụ môi giới chứng khoán:.....................................26 CHƯƠNG 2............................................................................................................ 29 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN TÂN VIỆT (TVSI)..............................................29 2.1. Giới thiệu về công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt:..................................29 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:......................................29 2.1.2: Lĩnh vực kinh doanh của công ty :.........................................................31 2.1.3. Nguyên tắc hoạt động:............................................................................35 2.1.4. Mô hình tổ chức.....................................................................................37 2.1.5. Mạng lưới hoạt động..............................................................................39 2.1.6. Môi trường làm việc:..............................................................................40 2.2. Thực trạng nghiệp vụ môi giới của công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt (TVSI):................................................................................................................40 2.2.1. Thực trạng nghiệp vụ môi giới của các công ty chứng khoán tại Việt Nam:................................................................................................................. 40 2.2.2. Thực trạng nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt (TVSI):...................................................................................42 CHƯƠNG 3............................................................................................................ 59 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN TÂN VIỆT( TVSI )..59 3.1. Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán trong năm 2012:......................59 1 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 3.1.1. Giải pháp vĩ mô:.....................................................................................59 3.1.2. Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán:.........................................59 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt (TVSI):....................................................................64 3.2.1. Đào tạo nguồn nhân lực:.........................................................................64 3.2.2. Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại:...........................................65 3.2.3. Thực hiện cách hoạt động maketing:......................................................65 3.2.4. Xây dựng chiến lược khách hàng:..........................................................66 3.2.5. Có hệ thống kiểm tra giám sát nội bộ.....................................................66 3.2.6. Xây dựng và phát triển hệ thống Chi nhánh, Phòng giao dịch và Đại lý nhận lệnh..........................................................................................................67 3.2.7. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán cho nhà đầu tư..68 KẾT LUẬN.............................................................................................................70 2 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: TTCK là một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước đang theo cơ chế thị trường và nhất là những nước đang phát triển đang cần hút nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân. Nhận thức rõ tầm quan trọng của TTCK đối với nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam quyết tâm phát triển TTCK cả về quy mô và chất lượng hoạt động nhằm tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển thị trường tài chính Việt Nam. Chính sự sôi động của TTCK trong những năm gần đây đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt các CTCK và sự phát triển của hoạt động MGCK. MGCK là một nghiệp vụ không thể thiếu của bất kỳ CTCK nào, là nhân tố quan trọng để tạo nên hình ảnh và uy tín của công ty, tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động khác trong CTCK. Sau gần 06 năm hoạt động tích cực trên thị trường, công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt đã đạt được những thành công nhất định nhưng bên cạnh đó vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế trong hoạt động MGCK. Xuất phát từ tình hình thực tiễn cùng với quá trình thực tập tại TVSI, em đã lựa chọn đề tài: “Nghiệp vụ môi giới trong công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ môi giới chứng khoán”, nhằm tìm hiểu về nghiệp vụ MGCK, những thực trạng trong hoạt động MGCK để từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động MGCK tại công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: * Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu về nghiệp vụ MGCK: nội dung, quy trình của nghiệp vụ này tại công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt 3 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH * Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu nghiệp vụ MGCK, thực trạng hoạt động MGCK, thông qua những kết quả đạt được và những hạn chế, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động MGCK của công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt trong thời gian tới. 3. Kết cấu của chuyên đề: Chuyên đề chia làm 3 phần: Phần một: Lời mở đầu Phần hai: Gồm 3 chương, cụ thể: Chương 1: Công ty chứng khoán và hoạt động MGCK. Chương 2: Thực trạng hoạt động MGCK tại CTCK TVSI. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ MGCK tại TVSI. Phần ba: Kết luận. 4 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT DỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 1.1. Công ty chứng khoán: 1.1.1. Khái niệm: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp, được thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bão lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán là một định chế tài trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập. 1.1.2. Phân loại công ty chứng khoán : 1.1.2.1. Theo hình thức tổ chức hoạt đông của công ty chứng khoán. Chia theo hình thức tổ chức hoạt động thì hiện nay công ty chứng khoán có ba loại hình đó là công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh • Công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một pháp nhân dộc lập, các thành viên góp vốn gọi là các cổ đông. Các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp của mình. Dựa trên số lượng cổ phần nắm giữ mà Đại hội cổ đông bầu ra hội đồng 5 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị và ban giám đốc. Giám đốc(Tổng giám đốc có thể là thành viên hội đồng quản trị nhưng cũng có thể là người được thuê ngoài). Giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị trước tình hình hoạt động kinh doanh của công ty.theo loại hình này ở Việt Nam có một số công ty chưng khoan sau : Công ty cổ phần chưng khoán Bảo Việt, công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long … • Công ty trách nhiệm hữu hạn ( TNHH) Đây là loại hình công ty mà theo đó các thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm giớ hạn trong số vốn mà họ đã góp. Công ty TNNH có hai loại hình chính đó là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH nhiều thành viên. Tùy theo lượng vốn góp của các bên mà xác định chức chủ tịch hội đòng quản trị. Ưu điểm của loại hình công ty này là có thể huy động vốn dễ dàng thông qua việc bổ xung vốn của các thành viên góp vốn hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Theo loại hình này có một số công ty chunwhs khoán như : Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam, Công ty TNHH chứng khoán ngân hàng ngoại thương Việt Nam, công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam… • Công ty hợp danh. Là công ty có từ hai thành viên góp vốn tạo nên. Tùy vào số vốn góp của các bên tham gia mà xác định thành viên ban giám đốc. Thành viên thanm gia vào việc điều hành công ty được gọi là thành viên hợp danh. Các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngược lại các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ của công ty trong giới hạn phần vốn góp của mình vào công ty. 6 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 1.1.2.2. Theo hình thức kinh doanh. Nếu phân chia theo tiêu thức này thì có 6 loại công ty chứng khoán : • Công ty môi giới: loại công ty này còn được gọi là công ty thành viên vì nó là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Công việc kinh doanh chủ yếu là mua và bán chứng khoán cho khách hàng của họ trên Sở giao dịch chứng khoán mà công ty đó là thành viên. • Công ty đầu tư ngân hàng: loại công ty này phân phối mới được phát hành cho công chúng qua việc mua bán chứng khoán do công ty cổ phần phát hành và bán lại cho công chúng theo giá tính gộp cả lợi nhuận của công ty. Vì vậy công ty này còn được gọi là nhà bảo lãnh phát hành. • Công ty giao dịch phi tập trung: công ty này mua bán chứng khoán tại thị trường OTC. • Công ty dịch vụ đa năng: Những công ty này không bị giới hạn hoạt động ở một lĩnh vực nào của ngành công nghiệp chứng khoán. Ngoài 3 dịch vụ trên họ còn cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán, ủy nhiệm các giao dịch buôn bán cho khách hàng trên thị t rường OTC. Sự kết hợp giữa các sản phẩm và kinh nghiệm của công ty sẽ quyết dịnh cơ sở các dịch vụ mà họ có thể cung cấp cho khách hàng. • Công ty buôn bán chứng khoán: là công ty đúng ra mua bán chứng khoán với chi phí do công ty tự chịu, công ty này phải cố gắng bán chứng khoán với giá cao hơn giá mua vào. Vì vậy loại công ty nay hoạt động với tư cách là người ủy thác chứ không phải là đại lý nhận ủy thác. • Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: Đây là loại hình công ty mà theo đó công ty nhận chênh lệch giá qua việc mua bán chứng khoán, do đó họ còn được gọi là nhà tạo lập thị trường, nhất là trên thị trường giao dịch OTC. 1.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán 7 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH cơ cấu của một công ty chứng khoán có thể được xây dựng từ đơn giản đến phức tạp tùy thuộc vào quy mô của thị trường, phương thúc của chủ sở hữu, khách hàng… Khi TTCK chưa phát triển, CTCK có cơ cấu và hoạt động đơn giản , khi thị trường phát triển thì hoạt động của các CTCK sẽ ngày càng phức tạp và sôi động. cơ cấu tổ chức, quy mô kinh doanh cũng như các nghiệp vụ mà CTCK được phép hoạt động tùy thuộc vào tính chất sở hữu của công ty. Cơ quan quyền lực cao nhất của CTCK là hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị bổ nhiệm Ban giám đốc và giám đốc điều hành công ty. Giúp việc cho Hội đồng quản trị có Ban kiểm soát, có nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát tất cả các giao dịch chứng khoán. Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một CTCK gồm các phòng chủ yếu sau: Phòng giao dịch Phòng giao dịch thực hiện các giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán và OTC. Chức năng chính của phòng này là nhận và thực hiện giao dịch tại sở đối với lệnh giao dịch. Thông thường phòng giao dịch bao gồm 3 bộ phận sau:  Bộ phận môi giới cho khách hàng  Bộ phận tự doanh  Bộ phận nghiên cứu và phân tích chứng khoán Phòng kế toán- Tài chính,gồm 2 bộ phận chủ yếu là:  Bộ phận Kế toán: xử lý các hợp đồng và tài liệu giao dịch , soạn thảo, in ấn, gửi cho khách hàng, nhận tài liệu khách hàng, lưu trữ các hợp đồng,chứng từ,lệnh…  Bộ phận Tài chính: quản lý tài chính của công ty thông qua các tài khoản chứng khoán và tiền, quản lý việc cho khách hàng vay tiền đầu tư vào chứng khoán… 8 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH  Phòng Maketing : quan hệ với khách hàng của công ty và nhận lệnh  Phòng Quản trị hành chính tổng hợp  Phòng lưu ký, đăng ký, lưu trữ  Phòng quản lý tài sản Nhiều CTCK có trụ sở chính ở một thành phố, chi nhánh ở các thành phố khác. Các khách hàng có thể chuyển lệnh của mình qua trị sở chính hoặc chi nhánh. Các phòng này đem lại nguồn thu nhập cho CTCK bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó. 1.1.4. Vai trò của CTCK CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các CTCK mà các chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới các NĐT qua đó huy động các nguồn vốn nhãn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả. CTCK có vai quan trọng đối với các chủ thể khác nhau tham gia trên TTCK.  Đối với tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các TCPH là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy thông qua hoạt động BLPH và đại lý phát hành, CTCK có vai trò quan trọng trong việc phát hành các cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, tạo ra cơ chế huy động vốn cho nhà phát hành. Nhờ có CTCK các chứng khoán của TCPH có uy tín hơn và dễ dàng giao dịch hơn trên thị trường, góp phần làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán phát hành. Ngoài ra các CTCK còn hỗ trợ về chuyên môn thông qua việc tư vấn phát hành, cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp 9 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH về vấn đề tài chính, cơ cấu tổ chức công ty, lập và đánh giá dự án, xác định giá trị doanh nghiệp, quản lý tài sản và định hướng đầu tư…  Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư… CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với các hàng hóa thông thường, việc mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên đối với TTCK, với tính chuyên nghiệp và trình độ chuyên môn cao, CTCK sẽ giúp các NĐT thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. TTCK là một thị trường thường xuyên biến động về giá cả cũng như mức độ rủi ro cao, nếu muốn đầu tư thì NĐT sẽ phải tốn kém một khoản chi phí, công sức, thời gian để tìm hiểu thông tin trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Các CTCK với thế mạnh trong việc thu thập và xử lý thông tin sẽ trở thành một kênh cung cấp thông tin có hiệu quả đối với các NĐT như thông tin về giá cả của các chứng khoán, thông tin thị trường, chính sách kinh tế xã hội… giúp các khách hàng đánh giá chính xác các khoản đầu tư, tư vấn cho khách hàng về định hướng đầu tư của họ, qua đó giúp cho hoạt động của TTCK trở nên hiệu quả và ổn định hơn. Qua việc lưu ký và đăng ký chứng khoán các CTCK có vai trò quản lý chứng khoán hộ khách hàng do đó sẽ dễ dàng trách được các rủi ro về mất hay hỏng chứng khoán, rủi ro về chứng khoán không còn giá trị lưu hành… nhờ đó kịp thời đưa ra các quyết đinh xử lý, đảm bảo quyền lợi của khách hàng.  Đối với thị trường chứng khoán - CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường: Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định, tuy nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Với việc cung cấp cơ chế hình thành giá 10 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH cả, CTCK góp phần tạo lập giá chứng khoán phản ánh đúng cung cầu của thị trường. Ngoài ra, CTCK còn tham gia điều tiết, thực hiện vai trò ổn định thị trường. Vai trò này xuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua nghiệp vụ này các CTCK nắm giữ một tỷ lệ nhất định các chứng khoán qua đó góp phần bình ổn thị trường. - Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện các hoạt động như BLPH, chứng khoán hóa, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán sau đợt phát hành sẽ được mua đi bán lại, được giao dịch trên thị trường cấp thứ cấp. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư. Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán, các CTCK giúp NĐT có thể chuyển đổi các chứng khoán thành tiền mặt bất cứ lúc nào và ngược lại.  Đối với cơ quan quản lý thị trường Mục tiêu của các cơ quan quản lý thị trường là quản lý và bình ổn thị trường, giúp cho thị trường hoạt động một cách có hiệu quả nhất. CTCK thông qua hoạt động của mình, có vai trò cung cấp các thông tin cho các cơ quan quản lý để họ thực hiện tốt mục tiêu đó. Các CTCK thực hiện được vai trò này là vì họ là công ty hoạt động chuyên nghiệp trên thị trường nên các thông tin mà họ có được là các thông tin nhanh nhất và chính xác nhất vì họ vừa là người BLPH các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua và bán các chứng khoán. Một trong yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải được công khai trên thị trường dưới sự giám sát của các nhà quản lý thị trường. Việc cung cấp các thông tin vừa là quy định của pháp luật vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì các CTCK cần phải công khai và minh bạch 11 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH trong hoạt động của mình. Các thông tin mà CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và TCPH, thông tin về các NĐT... Nhờ các thông tin này mà các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường. Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai trò quan trọng đối với mọi chủ thể trên thị trường nói riêng và toàn thị trường nói chung. CTCK không chỉ đóng vai trò là trung gian mua bán, góp phần tạo ra hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá trên thị trường mà còn là nhân tố quan trọng giúp cho thị trường ổn định và phát triển. Tạo ra lợi ích kinh tế cho toàn xã hội thông qua việc làm giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy các luồng tiền nhãn rỗi đi vào hoạt động đầu tư cho sự phát triển của nền kinh tế 1.1.5. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán: 1.1.5.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán (in commission): Môi giới chứng khoán là các hoạt động mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng làm nhiệm vụ nhận lệnh mua, lệnh bán chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới. Nghiệp vụ môi giới, do đó còn được hiểu là làm đại diện – được ủy quyền thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số loại chứng khoán. Hoạt động môi giới tuân theo một số quy tắc: ký kết hợp đồng dịch vụ với khách hàng , mở tài khoản chứng khoán cho khách hàng, thanh toán và quyết toán các dịch vụ, cung cấp các giấy chứng nhận chứng khoán. Môi giới là hoạt động dịch vụ quan trọng của CTCK , nó đem lại phần lớn thu nhập(khoảng 30-50% tổng thu nhập) và tạo một cơ sở khách hàng quan trọng cho các CTCK khi thực hiện phân phối các loại chứng khoán mới phát hành trong các đợt bảo lãnh phát hành. Các CTCK khi thực hiện hoạt động môi giới phải tuân thủ nguyên tắc minh bạch, công khai, vì quyền lợi 12 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH của khách hàng. Đồng thời không được đưa ra các ý kiến tư vấn mang tính chất khẳng định về tiềm năng lợi nhuận hoặc phao tin nhằm thu hút khách hàng vào các mục đích riêng. Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các sản phẩm , dịch vụ tư vấn đầu từ và kết nối giữa người mua và người bán chứng khoán. 1.1.5.2. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán (in property): Tự doanh là hoạt động mua, bán chứng khoán cho mình để hưởng lợi nhuận từ việc đầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệch giá, cổ tức, lãi trái phiếu và các quyền khác kèm theo việc sở hữu chứng khoán. Hoạt động tự doanh công ty phải chịu trách nhiệm với quy định của mình, tự gánh chịu rủi ro từ quyết định mua hoặc bán chứng khoán của mình. Hoạt động này thường xong hành với hoạt động môi giới. Vì vậy khi thực hiên hai hoạt đông này có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và của khách hàng. Yêu cầu đối với CTCK trong hoạt động tự doanh - Tách biệt quản lý: giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới; giữa hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu CTCK với hoạt động kinh doanh của CTCK; giữa hoạt động tự doanh của chính công ty với hoạt động quản lý danh mục đầu tư để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. - Ưu tiên khách hàng: điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của CTCK. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán. - Bình ổn thị trường: mặc dù TTCK Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 8 năm, nhưng số lượng nhà đầu tư nhỏ, lẻ vẫn chiếm phần đông. Tâm lý và bản lĩnh nhà đầu tư chưa thực sự vững vàng, do vậy nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp (như CTCK) ít nhiều vẫn là tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thị trường. CTCK có thể thông qua hoạt động tự doanh của mình góp phần điều 13 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường. Chức năng bình ổn giá cả không phải là một quy định bắt buộc trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, tuy nhiên đây là nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp do Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán đặt ra trên thị trường và CTCK phải tuân thủ trong quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, CTCK còn phải tuân thủ một số quy định khác như giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư… Mục đích cũng là để tránh sự đổ vỡ của CTCK trong quá trình hoạt động, gây thiệt hại chung cho cả thị trường. 1.1.5.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán: Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hoặc toàn bộ số chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết, tổ chức việc phân phối chứng khoán giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Như vậy nhiệm vụ của người bảo lãnh phát hành là giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục khi chào bán chứng khoán, nhận mua chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết. Người bảo lãnh đóng vai trò quan trọng giúp cho người phát hành bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn một cách thuận lợi. Thông thường, để phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành cần phải có sự đảm bảo của một công ty nhỏ, và số lượng phát hành không lớn, thì chỉ cần có một tổ chức bảo lãnh phát hành. Nếu đó là công ty lớn và số lượng chứng khoán phát hành vượt quá khả năng của một tổ chức bảo lãnh thì cần có một tổ hợp bảo lãnh phát hành, bao gồm một hoặc một tổ chức bảo lãnh chính và một số tổ chức bảo lãnh phát hành thành viên.Các tổ chức bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành 14 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Các hình thức bảo lãnh sau: - Cam kết chắc chắn : là hình thức mà người bảo lãnh nhận mua toàn bộ số chứng khoán mới được phát hành theo giá thoả thuận với người phát hành và bán ra công chúng. Nếu như có số cổ phiếu không bán hết thì người bảo lãnh sẽ là người mua cho chính mình. Tiền bảo lãnh mà người bảo lãnh nhận được là số tiền chênh lệch giữa giá chào bán ra công chúng và giá thoả thuận với người phát hành. Hình thức bảo lãnh này thường áp dụng đối với nhà phát hành có uy tín. - Cố gắng tối đa: Đây là hình thức bảo lãnh mà người bảo lãnh sẽ cố gắng hết mức để bán số chứng khoán phát hành. Nếu chứng khoán đã phát hành không bán hết thì số chứng khoán này sẽ được trả lại cho người phát hành. Số tiền bảo lãnh phát hành được xác định theo số chứng khoán đã bán. Hình thức này thường được áp dụng với những công ty có uy tín chưa cao, hoặc công ty mới thành lập. - Bảo lãnh tất cả hoặc không: Trong trường hợp này công ty muốn một lượng vốn tối thiểu để đáp ứng nhu cầu kinh doanh mà công ty không thể sử dụng một lượng vốn ít hơn thế và công ty yêu cầu nhà bảo lãnh rằng: tất cả chứng khoán phải được bán hết, nếu không thì phải huỷ bỏ toàn bộ chứng khoán đã phân phối. - Tối thiểu và tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc khồng. Theo phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định, vượt trên mức ấy tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định. Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì đọt phát hành sẽ bị hủy bỏ. 1.1.5.4. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: Là hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng khoán, từ đó đưa ra các lời khuyên cho khách hàng.Tư vấn đầu tư bao gồm tư vấn mua 15 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH bán chứng khoán, tạo dựng danh mục đầu tư và quản trị điều hành tài sản đầu tư. Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. Hoạt động này có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động môi giới chứng khoán và hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Trong khi tiến hành hoạt động môi giới chứng khoán, nhân viên môi giới có thể tư vấn cho nhà đầu tư về thời gian mua bán, nắm giữ chứng khoán, giá trị của các loại chứng khoán, các diễn biến của thị trường Đối tượng của hoạt động tư vấn còn có thể là nhà phát hành. Hoạt động tư vấn cho nhà phát hành tương đối đa dạng, từ việc phân tích tình hình tài chính đến đánh giá giá trị của doanh nghiệp, tư vấn về loại chứng khoán phát hành hay giúp công ty cơ cấu lại nguồn vốn, thâu tóm hay sát nhập với các công ty khác. Vì hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh hiểu biết nên yêu cầu về vốn tối thiểu đối với hoạt động này không lớn nhưng những yêu cầu về nhân sự lại rất chặt chẽ. Những người làm công tác tư vấn phải có chuyên môn rất sâu đồng thời phải có kinh nghiệm thực tế trong thời gian công tác dài nhất định. Hoạt động tư vấn phát triển là nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động môi giới chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán phát triển, là thế mạnh trong cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán. 1.1.5.5 Các nghiệp vụ phụ trợ của công ty chứng khoán: * Lưu ký chứng khoán: là việc nhận kí gửi , bảo quản , chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán. * Hoạt động quản lý thu nhập chứng khoán (quản lý cổ tức) :Nghiệp vụ này của CTCK xuất phát tiwf nghiệp vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ lưu ký CTCK phải tổ chức theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi gửi báo cáo cho khách hàng. Tuy 16 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH nhiên trên thực tế các CTCK thường không trực tiếp quản lý mà sẽ lưu ký tại trung tâm lưu ký chứng khoán. * Hoạt động hỗ trợ tín dụng cho khách hàng Repo (mua bán chứng khoán có kì hạn) cho vay cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán… Repo là giao dịch mua bán lại chứng khoán có kỳ hạn được giao dịch trên thị trường tài chính. Đây là laoij giao dịch nhà đầu tư có thể mua và bán chứng khoán (trái phiêu, cổ phiếu…) của chính mình trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định với CTCK. Tức là, khi có nhu cầu về vốn trong thời gian nhất định mà không muốn bán số chứng khoán của mình, nhà đầu từ có thể kí hợp đồng Repo trong đó cam kết sẽ mua lại số chứng khoán đã bán này từ CTCK tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá nhất định xác định trước trong hợp đồng. Cho vay cầm cố chứng khoán là việc thế chấp chứng khoán(thường là cổ phiếu) để vay tiền của CTCK hoặc là ngân hàng trong một thời gian nhất định, mức vay được tính bằng 205-50% thị giá chứng khoán,tùy theo bên nhận cầm cố, trong thời hạn vay mà thị giá giảm xuống dưới một mức quy định thì người đi vay phải nộp thêm tiền để đảm bảo an toàn cho bên nhận cầm cố, nếu không bên nhận cầm cố có quyền thanh lý chứng khoán. ứng trước tiền bán chứng khoán : xuất phát từ ngày thanh toán T + 3 (sau 3 ngày kể từ ngày bán chứng khoán tiền mới về tài khoản của khách hàng) CTCK thường phối hợp với ngân hàng để cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán, phí cho vay thường được tính theo tỷ lệ %/ngày của khoản ứng trước (thường từ 0,03%-0,05%/ngày) và quy định mức tối thiểu cho một lần ứng trước. dịch vụ này giúp khách hàng tăng vòng quay vốn, nhanh chóng đưa tiền vào kinh doanh chứng khoán, khắc phục nhược điểm T + 3. 17 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 1.2. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán: 1.2.1. Khái niệm: MGCK là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí. Môi giới là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó. 1.2.2. Đặc điểm : MGCK là một trong những hoạt động đặc trưng và cơ bản của CTCK. Bằng cách rút ngắn khoảng thời gian gặp gỡ giữa người mua và người bán, tiết kiệm chi phí giao dịch, nhất là đối với những hàng hoá mà người mua và người bán không dễ gặp nhau, hoạt động môi giới trở thành khâu trung gian thúc đảy quá trình lưu thông hàng hoá. Nhưng MGCK không chỉ đơn thuần là hoạt động trung gian đưa sản phẩm, dịch vụ từ người bán đến người mua. Những đặc trưng riêng của một thị trường cao cấp, những sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng và phức tạp đã tạo nên những đặc điểm nhất định mà chỉ hoạt động MGCK mới có: • MGCK là hoạt động khá an toàn và có thu nhập tương đối ổn định. Và CTCK chỉ đóng vai trò là trung gian đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm về kết quả giao dịch của mình. Việc nhân viên MGCK tư vấn chỉ dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, có thể không hoàn toàn chính xác và khách hàng chính là người đưa ra quyết định cuối cùng. Nhân viên MGCK và CTCK không phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời tư vấn của mình. 18 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Là trung gian đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng, CTCK được hưởng một tỷ lệ phần trăm hoa hồng tính trên tổng giá trị giao dịch (phí môi giới) và sau khi trừ đi các chi phí sẽ trở thành thu nhập của công ty chứng khoán. • MGCK là sản phẩm của một thị trường cao cấp, là hàng hoá đặc biệt mà người mua không thể đánh giá trực tiếp chất lượng của chúng bằng giác quan như các loại hàng hoá thông thường khác. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Thu nhập mà chứng khoán đem lại cho nhà đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào tình hình tài chính của tổ chức phát hành chứng khoán đó và diễn biến phức tạp của thị trường chứng khoán. Vì vậy, để đánh giá chất lượng của chứng khoán hay khả năng đem lại thu nhập của chứng khoán cần phải có một hệ thông thu thập và xử lý thông tin cũng như những kỹ năng cần thiết và không phải bất kỳ nhà đầu tư nào cũng làm được điều này. Bởi vậy mà họ phải tìm đến những chuyên gia trong lĩnh vực này, những người được trang bị đầy đủ công cụ và kỹ năng để phân tích, đánh giá các sản phẩm tài chính, từ đó cung cấp những ý kiến tư vấn cho khách hàng. Người bán chứng khoán cũng phải tìm đến những nhà môi giới để được tư vấn về thời điểm bán, giá bán để có thể bán được chứng khoán của mình một cách thuận lợi. Mặt khác, để thị trường chứng khoán có thể hoạt động lành mạnh, hiệu quả, có trật tự thì các lệnh giao dịch phải được tập trung vào các đầu mối lớn là CTCK mà đại diện là các nhân viên MGCK . Như vậy, MGCK trở thành hoạt động không thể thiếu của thị trường chứng khoán. • Hoạt động MGCK có tính độc lập với các hoạt động khác của CTCK và có tác động thúc đẩy các hoạt động khác phát triển. Trong quá trình đưa ra lời tư vấn cho khách hàng nhân viên môi giới còn có thể giới thiệu với khách hàng các dịch vụ khác của công ty, cũng như tư vấn cho khách hàng sử dụng các dịch vụ mà công ty cung cấp một cách hợp lý. Đây là nhân tố quan trọng 19 LỚP :CQ46/17.02 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH để tạo nên hình ảnh và uy tín của công ty, tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động khác trong CTCK . 1.2.3. Phân loại: * Theo loại dịch vụ cung cấp: Môi giới dịch vụ đầy đủ: Nhân viên MGCK có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho khách hàng: đại diện cho khách hàng mua hoặc bán chứng khoán, thay mặt khách hàng giải quyết những vấn đề liên quan đến chứng khoán, đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên, kịp thời đưa ra những kiến nghị cần thiết cho khách hàng. Môi giới giảm giá: Nhân viên môi giới chỉ cung cấp một số ít dịch vụ, tuỳ theo sự uỷ nhiệm của khách hàng, hoạt động chủ yếu của họ là giúp khách hàng thực hiện các lệnh mua hoặc bán chứng khoán. Những người MGCK này thích hợp với các nhà đầu tư tự mình đưa ra các quyết định mua bán mà không muốn lời khuyên hay kết quả nghiên cứu của nhà môi giới. Với loại hình này, nhà đầu tư dễ gặp rủi ro nhưng mức phí hoa hồng môi giới sẽ thấp hơn. * Theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán: Nhà môi giới chứng khoán chuyên môn: mỗi chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán chỉ được buôn bán trên một vị trí nhất định trong phòng giao dịch, vị trí này được gọi là quầy. Trong mỗi quầy có một số nhà môi giới được gọi là nhà môi giới chuyên môn, họ chịu trách nhiệm mua bán một loại chứng khoán nhất định đã được Hội đồng quản trị của Sở giao dịch chứng khoán phân công. Họ có 2 chức năng chủ yếu: thực hiện các lệnh và tạo thị trường. Thông thường các nhà môi giới này thực hiện giao dịch theo hạn mức và họ đóng vai trò là một nhà MGCK và nhận được các khoản phí môi giới hoặc tiền hoa hồng trên các dịch vụ mà họ cung cấp. Ngoài ra, họ còn hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với loại cổ phiếu mà họ 20 LỚP :CQ46/17.02
- Xem thêm -