Nghiên cứu về chiến tranh tiền tệ

  • Số trang: 10 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Ngắm nhìn lại tổng quan bối cảnh quốc tế trong những ngày gần đây đó là thế  giới đang phải quay cuồng với các vấn đề nợ công Châu Âu, bất ổn tại Hàn Quốc, đe  dọa thắt chặt tiền tệ của Trung Quốc, hàng loạt thị trường hàng hóa thế giới dao động  mạnh, những tin xấu liên tục dồn dập như vậy đã làm kinh tế thế giới rung lắc dữ dội   trong suốt những ngày vừa qua. Những mối quan tâm nổi cộm đó dường như đã làm thị  trường tạm quên đi một vấn đề đã từng rất nóng bỏng, chưa hề được giải quyết, hiện   nay vẫn còn âm ỉ và có thể sẽ kéo dài dai dẳng liên quan đến sự mất cân bằng thương   mại toàn cầu: đó chính là một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba mang tên “Chiến tranh  tiền tệ” – một cuộc chiến nơi đồng tiền là súng đạn và mức sát thương của nó không   hề nhỏ. Vậy cuộc chiến ấy là gì và độ khốc liệt của nó đến mức nào và thực sự nó đã   xảy ra chưa mà đã làm cho nền kinh tế  toàn cầu phải chao đảo. Và vấn đề  thực sự  nằm ở đâu, ngay sau đây chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu. Chương 1: CHIẾN TRANH TIỀN TỆ 1 1.1. Khái niệm chiến tranh tiền tệ Chiến tranh tiền tệ là việc các nước dùng chính sách tiền tệ của mình nhằm làm   cho đồng tiền của nước mình được định giá thấp hơn so với đồng tiền của các nước  khác. Theo báo Le Monde của Pháp ra ngày 23/10, một cuộc chiến tiền tệ dễ dẫn đến  chiến tranh thương mại. Để bảo vệ sản phẩm của mình và công ăn việc làm của dân   chúng, các nước sẽ  sử  dụng các vũ khí như  hỗ  trợ  xuất khẩu, đồng thời áp đặt thuế  hải quan và quota để giới hạn nhập khẩu. Các bên sẽ trả đũa nhau. 1.2. Lịch sử về chiến tranh tiền tệ Quay trở  lại với quá khứ, trong lịch sử  kinh tế  thế  giới, đã nhiều lần diễn ra   cuộc chiến tranh tiền tệ, chúng ta có thể kể đến như  đầu những năm 1930, sau khủng  hoảng kinh tế thế giới 1929­1933, khi các nước phải áp mức thuế cao và qui định hạn  ngạch đối với hàng nhập khẩu, hậu quả là hàng hóa tồn đọng, nhưng không nước nào  được lợi và kinh tế  toàn cầu đã sụp đổ. “Luật Hawley – Smooth của Mỹ  thông qua   ngày 17/6/1930 đã tăng thuế  trên 20.000 mặt hàng nhập khẩu, làm lượng hàng nhập   khẩu từ  châu Âu giảm 70%, nhưng xuất khẩu của Mỹ cũng giảm tương tự  vì bị  châu   Âu trả đũa”. Khi khủng hoảng kinh tế và tiền tệ khiến các nền kinh tế lớn phá bỏ chế  độ “bản vị  vàng”, thực hiện chính sách hạ  tỉ  giá đẩy mạnh xuất khẩu, tranh cướp thị  trường, làm đại suy thoái trở  nên tồi tệ  hơn nữa. Các quốc gia lúc bấy giờ  đua nhau  dựng lên những rào cản thương mại, khiến lượng hàng hóa lưu thông trên toàn cầu   giảm sút nghiêm trọng. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh  thế giới thứ hai, và hậu quả cũng như  mức độ sát thương mà nó gây ra và để  lại như  thế nào thì không ai trong chúng ta là không biết đến và cảm thấy kinh hoàng. Hay như  câu chuyện đồng Yên vào thập niên 1980. Năm 1979 trường Đại học   Harvard Mỹ xuất bản cuốn “Nhật Bản đứng đầu thế giới”, cuốn sách đã thu hút đông  đảo độc giả  và giới kinh tế Mỹ. Nhưng ngay sau đó thì Nhật Bản trở  thành mục tiêu   số  1 để  Mỹ  kiềm chế, trừng phạt, thể  hiện rõ nhất là “Hiệp định Plaza” năm 1985:  năm nước Pháp, Đức, Nhật, Anh, Mỹ đồng ý định giá lại đồng Đô la Mỹ  trong tương   quan với đồng Yên Nhật và đồng Mark Đức vì lúc đó hàng hóa của Nhật đang tràn   ngập thị trường nhờ giá rẻ và Mỹ đang chịu cảnh thâm hụt mậu dịch lớn với nước này.  Ngay lập tức đồng Yên lên giá mạnh, từ 239 Yên/1 Đô la vào năm 1985 lên 128 Yên/1  Đô la vào năm 1988, một mức tăng gần gấp đôi và điều này làm cho kinh tế Nhật điêu   đứng từ đó tới hiện nay. 1.3. Nguyên nhân và đặc điểm của cuộc chiến tranh tiền tệ lần này Cuộc chiến tranh tiền tệ lần này âm ỉ từ  cuối thế kỷ 20 đến đầu thế  kỷ  21 khi   hai thực thể kinh tế lớn là Trung Quốc và Mỹ tiến hành các biện pháp trừng phạt kinh  tế  lẫn nhau mà phía Mỹ  cho rằng Trung Quốc thực hiện chính sách “thao túng tỉ  giá”  2 để  xuất siêu sang Mỹ, làm cán cân thương mại hai nước không cân bằng. Theo Bộ  thương mại Mỹ, tới cuối năm 2006 tổng ngạch xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ tới   235,5 tỉ USD, riêng năm 2006 nhập siêu của Mỹ với Trung Quốc tới 177,4 tỉ USD. Vì   vậy, Mỹ ra sức đấu tranh đòi Trung Quốc tăng tỉ giá đồng Nhân dân tệ (NDT) từ 25%­ 30% so với đồng USD để  giảm nhập siêu cho Mỹ. Yêu cầu này đã được EU và các   nước khác đồng tình  ủng hộ, bởi EU cũng cùng chung cảnh ngộ  với Mỹ.   Năm 2006,  EU nhập siêu của Trung Quốc là 128 tỉ  EUR, năm 2007 tới 170 tỉ  EUR, năm 2008 tuy   có giảm nhưng vẫn lên tới 160 tỉ EUR. Trước yêu cầu của Mỹ  và EU, phía Trung Quốc kiên quyết phản đối và lập  trường này dường như không thể lay chuyển. Bởi vậy, cuộc chiến về tỉ giá giữa Mỹ ­   Trung Quốc và EU ­ Trung Quốc luôn căng thẳng và gay gắt kể từ năm 2003 tới nay. Nhìn chung, tình hình kinh tế  hiện nay không mấy khả  quan khi các quốc gia   đang thi nhau tìm cách ghìm giá đồng tiền của mình: Ngân hàng Trung ương Nhật Bản  và Trung Quốc tung tiền ra mua ngoại tệ, trong khi đó Mỹ  thì có thể  in thêm tiền.  Những nước đang vươn lên như  Brazil, Thái Lan… cũng có biện pháp nhằm giảm  luồng vốn đầu cơ  bằng cách đánh thuế  trên cổ  phiếu mà các nhà đầu tư  ngoại quốc   mua vào. Những lời chỉ  trích tố  cáo nhau ngày càng nhiều: ngoài Trung Quốc luôn bị  từ  Mỹ đến châu Âu, Nhật Bản chỉ trích là thao túng đồng tiền của mình, thì vừa qua Hàn  Quốc bị  Nhật tố  cáo ghìm giá đồng won. Châu Âu chỉ  trích Trung Quốc nhưng cũng  khá bất an khi nhìn tỉ giá đồng euro quá cao so với đồng USD trong thời gian qua. Ta có thể tóm gọn lại dấu hiệu hay đặc điểm nổi bật của Chiến tranh tiền tệ  lần này là các nước đua nhau hạ thấp tỉ giá đồng tiền của mình so với ngoại tệ mạnh   để  tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu, từ  đó góp phần phục hồi kinh tế  đất nước sau   khủng hoảng.  1.4. Hậu quả Hậu quả nhãn tiền của Chiến tranh tiền tệ là gây nguy hại tới buôn bán quốc tế  và cản trở  phục hồi kinh tế  thế giới. Việc tăng nhanh chóng giá trị  tiền tệ làm giảm  trầm trọng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu, tạo ra mối đe dọa nghiêm  trọng   đối   với   các   nền   kinh   tế   “dựa   dẫm”   xuất   khẩu   như   Hàn   Quốc,   Nhật   Bản,  Brazil.v.v. Ngoài ảnh hưởng đối với xuất khẩu do tỷ giá liên tục tăng cao, các nền kinh tế  mới nổi còn lo ngại tỷ giá tăng mạnh sẽ đẩy nhanh các khoản tiền nóng chảy vào thị  trường mới nổi, từng bước thổi cao giá tiền tệ và tài sản, càng làm tăng nguy cơ bùng  nổ khủng hoảng tài chính lần hai. Báo cáo của Standard Chartered cho biết, châu Á và   châu Âu sẽ vấp phải nguy cơ giá tài sản tăng, dòng chảy của vốn tăng. 3 Như đã nói, đây là một cuộc chiến mà đồng tiền là súng đạn và mức sát thương   là không thể lường trước được. Chương 2: CHIẾN TRANH TIỀN TỆ VÀ TÁC  ĐỘNG CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH 2.1. Quỹ tiền tệ quốc tế IMF 2.1.1. Một vài đặc điểm và mục đích của IMF 2.1.1.1. Đặc điểm IMF được thai nghén từ  phiên họp của Liên Hợp Quốc tháng 7 năm 1944 tại  Bretton Woods, New Hampshire, Hoa Kỳ. 45quốc gia thành viên có mặt trong phiên họp  đã tìm kiếm một cơ  cấu hợp tác kinh tế  có thể  tránh được sự  lặp lại các chính sách   kinh tế sai lầm từng dẫn tới cuộc đại khủng hoảng thập kỷ 30. Và sau đó, IMF chính  thức ra đời vào tháng 12 năm 1945 và đi vào hoạt động ngày 1/3/1947. Hiện nay IMF có   187 quốc gia thành viên. Số  lượng nhân viên khoảng 2400 người, hoạt động trên 141   nước. Nguồn vốn của IMF: chủ  yếu là vốn cổ  phần của các nước thành viên và tích  lũy của IMF. Ban đầu, mức cổ phần đóng góp phụ thuộc vào tỷ trọng kim ngạch xuất  nhập khẩu của nước đó so với kim ngạch xuất nhập khẩu của thế giới. Ngoài ra, trong   trường hợp cần thiết, IMF cũng có thể  vay vốn trên thị  trường tài chính quốc tế  để  phục vụ cho các hoạt động của mình. Đến tháng 8/2009, tổng vốn cổ phần của IMF là   325 tỉ USD.           Cơ cấu tổ chức : Cơ cấu hiện hành của IMF gồm có Hội đồng Thống đốc, Ban   Giám đốc Điều hành, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc và các cán bộ Quỹ. 2.1.1.2. Mục tiêu hoạt động ­ Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách nhiệm  cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề tiền tệ quốc tế.  ­ Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế và   nhờ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu nhập thực tế  và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thành viên, coi đó là mục tiêu quan  trọng nhất của chính sách kinh tế. ­ Tăng cường ổn định ngoại hối nhằm duy trì một cách có trật tự hoạt động giao   dịch ngoại hối giữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ để cạnh tranh. 4 ­ Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước thành   viên và xóa bỏ các hạn chế về ngoại hối gây phương hại tới sự tăng trưởng của mậu  dịch quốc tế. ­ Tạo niềm tin cho các nước thành viên bằng cách cung cấp cho họ  nguồn lực  dự  trữ  của quỹ  được đảm bảo an toàn và tạo cơ  hội cho họ  sửa chữa mất cân đối  trong cán cân thanh toán quốc tế. ­ Rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanh toán của  các nước thành viên. ­ Thúc đẩy sự  hợp tác tiền tệ  quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở  rộng và tăng trưởng thương mại quốc tế một cách cân đối; tăng cường ổn định tỷ giá;   hỗ trợ  cho việc thành lập hệ thống thanh toán đa phương; cho các nước hội viên tạm   thời sử dụng các nguồn vốn chung của Quỹ với những đảm bảo thích hợp; và rút ngắn   thời gian và giảm bớt mức độ  mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế  của các   nước hội viên. 2.1.2. Các biện pháp ngăn ngừa chiến tranh tiền tệ của IMF Tổng giám đốc IMF Dominique Strauss­Kahn cho rằng, các chính phủ  đang tạo  ra nguy cơ châm ngòi cho một cuộc chiến tranh tiền tệ khi cố gắng dùng công cụ tỷ giá  để giải quyết những khó khăn của nền kinh tế trong nước. Trong thông cáo chung phát  đi sau cuộc họp của IMF diễn ra tại Washington, định chế này chỉ gián tiếp đề cập tới  những căng thẳng đang gia tăng xung quanh vấn đề  tỷ  giá. Thậm chí, trong thông cáo   này, IMF tuyên bố sẽ tăng cường giám sát các nền kinh tế phát triển. “Sự giám sát chặt  chẽ hơn để phát hiện bất ổn ở những nền kinh tế phát triển lớn là một ưu tiên”, thông  cáo của IMF có đoạn viết. Dù các biện pháp giám sát vẫn chưa được vạch ra cụ thể nhưng Giám đốc điều   hành IMF Dominique Strauss­Kahn có ý tưởng là IMF sẽ rà soát 5 khu vực kinh tế lớn   nhất gồm Mỹ,  Nhật Bản,  Trung Quốc,  Eurozone  và  Anh,  đồng thời đánh giá   ảnh   hưởng từ chính sách của các khu vực này đối với nền kinh tế toàn cầu. IMF cũng đã nhiều lần lên tiếng khẳng định đồng NDT đang bị  định giá thấp,  động thái này khiến cho áp lực đối với nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới xung quanh vấn   đề  tỉ  giá đồng nhân dân tệ  ngày càng gia tăng, thế  nhưng điều này cũng chẳng khiến  phía Trung Quốc quan tâm. Giới lãnh đạo IMF cho rằng tổ chức này cần hoạt động tích cực hơn để  kiểm  soát dòng chảy tư bản và biến động tỉ giá hối đoái. Cũng theo tuyên bố chính thức của  hội nghị, trước tình hình bất ổn của kinh tế toàn cầu, chủ nghĩa bảo hộ cần được loại   bỏ bằng mọi giá. 5 2.1.3. Đánh giá vai trò của IMF trong cuộc chiến tiền tệ Vai trò của IMF chỉ  dừng lại  ở  chỗ  cảnh báo, kêu gọi chứ  chưa có một biện  pháp cứng rắn tích cực nào hay nói cách khác, IMF đã không hoàn thành trách nhiệm  của mình. Điều 4 quy định về  hoạt động của IMF đã chỉ  rõ, tổ  chức này phải thực   hiện nhiệm vụ  giám sát nghiêm ngặt và chấp nhận các nguyên tắc cụ  thể để  quản lý  giao dịch ngoại hối. Tuy vậy những điều này đã không được thực thi. Sự thiếu hụt một  cơ chế rõ ràng để can thiệp và áp dụng luật đã buộc G­20 phải hành động. Thay vì để  G­20 là nơi thí nghiệm chính sách, IMF cần thực hiện những nguyên tắc căn bản trong   điều 4 của mình. Như một phần của trách nhiệm giám sát,  IMF cần tính toán giới hạn  của cân bằng trung gian trong giao dịch trên thị  trường tiền tệ. Cùng với World Bank,  IMF nên hỗ trợ các nước thành viên định ra các mức dự trữ ngoại hối tối  ưu cho mục   tiêu tăng trưởng bền vững. Những hành động tích trữ  ngoại hối vượt quá mức  cần  được tổ chức giám sát cảnh cáo. Làm sao để những nguyên tắc cơ bản này được thực hiện? Rõ ràng Trung Quốc  cần góp sức để giúp IMF hoạt động ổn định hơn. Trong khi đó,  nước này lại tiếp tục  can thiệp sai hướng, chống lại xu thế cân bằng. Tỷ  giá đồng NDT cần cao hơn mức  hiện nay thì mới có thể  duy trì mức phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế  toàn   cầu. Ngân hàng Trung  ương Trung Quốc đang nắm giữ mức dự  trữ  cao hơn nhiều so  với ngưỡng cần thiết, đồng thời Trung Quốc cũng coi thường các lời kêu gọi của IMF   về vấn đề đồng NDT. 2.2. Ngân hàng thế giới WB 2.2.1. Khái quát WB là một tổ chức tài chính đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy  phát  triển kinh tế và xã hội  ở  các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao  động ở các nước này. WB là tổ chức liên kết chặt chẽ với 5 thành viên thuộc hệ thống LHQ gồm: ­ Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD): được thành lập năm 1945.  Hiện nay có 187 thành viên. ­ Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA): được t hành lập năm 1960. Hiện nay có 170  thành viên, đồng thời là thành viên của IBRD. ­ Công ty Tài chính Quốc tế  (IFC): được thành lập năm 1956. Hiện nay có 182  thành viên, đồng thời là thành viên của IBRD. ­ Cơ  quan Bão Lãnh Đầu Tư  Đa Phương (MIGA): được thành lập năm 1988.   Hiện nay có 175 thành viên, đồng thời là thành viên của IBRD. 6 ­ Trung tâm Quốc tế  Giải quyết Tranh chấp Đầu tư  (ICSID):   thành lập năm  1966. Hiện nay có 144 thành viên, đồng thời là thành viên của IBRD. Các nước tham gia WB phải có điều kiện tiên quyết là thành viên của IMF. Mỗi  thành viên làm một vai trò riêng biệt trong nhiệm vụ chống lại đói nghèo và cải thiện  mức sống của người dân các nước đang phát triển. Thuật ngữ “World Bank” (WB) chỉ  bao gồm 2 tổ chức là IBRD và IDA, 3 tổ chức còn lại có cơ cấu tổ chức tương đối độc   lập với WB. 2.2.2. Cơ cấu tổ chức Hội đồng Thống Đốc (hay Hội đồng quản trị): là cơ quan lãnh đạo cao nhất của  WB.  Mỗi nước thành viên cử  một đại diện của nước mình làm thành viên của Hội   đồng Thống đốc, thường  là Bộ  trưởng tài chính hoặc Thống đốc Ngân hàng trung  ương của các nước thành viên.  Ban Giám đốc Điều hành: các thống đốc chia nhiệm vụ cụ thể cho 24 Giám đốc  điều hành, những người có mặt thường xuyên tại Ngân hàng. Năm cổ đông lớn nhất là  Pháp, Đức, Nhật Bản, Anh Quốc và Hoa Kỳ  bổ  nhiệm mỗi nước một giám đốc điều  hành, trong khi các nước thành viên khác được đại diện bởi 19 giám đốc điều hành. Họ  thường họp ít nhất hai lần một tuần để  giám sát kinh doanh của Ngân hàng, bao gồm  cả  phê duyệt các khoản vay và bảo lãnh, các chính sách mới, ngân sách hành chính,  chiến lược hỗ trợ quốc gia, cho vay và các quyết định tài chính. Chủ tịch Ngân hàng Thế giới: là người đứng đầu của Ban Giám đốc Điều hành  và chịu trách nhiệm quản lý tổng thể của Ngân hàng.  2.2.3. WB và chiến tranh tiền tệ Trước tình hình ngày càng căng thẳng của chiến tranh tiền tệ, gây ra tình trạng   mất cân đối thương mại và bất ổn trên thị trường vốn, Chủ tịch WB rất lo ngại với hệ  thống tiền tệ quốc tế khi Mỹ và các nước khác đổ lỗi cho Trung Quốc giữ NDT không   đúng giá trị thực. Tại hội nghị thượng đỉnh G20 diễn ra tại Seoul (Hàn Quốc),  Chủ tịch  Ngân hàng Thế giới (WB) Robert Zoellick kêu gọi G20 khôi phục chế độ bản vị vàng,   xem vàng như chiếc mỏ neo định hướng các hoạt động tiền tệ toàn cầu, để tránh xuất   hiện tình trạng tương tự như tranh chấp tỷ giá giữa Trung Quốc và Mỹ. Bản vị vàng là  chế  độ  tiền tệ  mà phương tiện tính toán kinh tế  tiêu chuẩn được  ấn định bằng hàm   lượng vàng. Theo ông Zoellick, thế  giới cần cách thức quản lý mới nhằm đạt được   thành công của cái mà ông gọi là hệ thống “Bretton Woods II”. Hệ thống này sẽ dùng  vàng làm yếu tố tham chiếu kỳ vọng của thị trường đối với lạm phát, giảm phát, giá trị  tiền tệ tương lai. Theo ông Zoellick, hệ thống này có thể sẽ liên quan chủ yếu đến đô  la Mỹ, euro, yên Nhật, bảng Anh và nhân dân tệ để tiến đến quốc tế hóa. Ông Zoellick còn cho biết trên tờ  Financial Times (Anh) ngày 8­11 nên kết thúc   việc lấy đô la Mỹ làm mỏ neo cho tiền tệ của các nước. Việc áp dụng chế độ  bản vị  7 vàng sẽ góp phần trang bị lại nền kinh tế thế giới trong thời điểm căng thẳng tỷ giá và  chính sách tiền tệ của Mỹ. 2.3. Cục dự trữ liên bang Mỹ FED  2.3.1. Khái quát: Cục dự  trữ  liên bang (tiếng Anh: Federal Reserve System – FED) là ngân hàng  trung ương của Hoa Kỳ. FED bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên  bang" của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913. FED bề  ngoài là ngân hàng của chính phủ, bao gồm Hội đồng thống đốc đóng  tại thủ  đô Washington được chỉ  định bởi  Tổng thống Hoa Kỳ, Ủy ban thị  trường, 12  Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một phần ở  các ngân hàng dự  trữ  liên bang khu vực. Chủ tịch Hội đồng thống đốc của FED hiện   nay là Ben Bernanke. 2.3.2. Cơ cấu tổ chức: ­ Hội đồng thống đốc (the Board of Governors of the Federal Reserve System). ­ Ủy ban thị trường ((Federal Open Market Committee ­ FOMC). ­ Các Ngân hàng của FED. ­ Các ngân hàng thành viên (có cổ phần tại các chi nhánh). Mỗi ngân hàng khu vực và ngân hàng thành viên của Cục dự  trữ  liên bang FED   tuân thủ sự giám sát của Hội đồng thống đốc. Bảy thành viên của Hội đồng thống đốc   được chỉ  định bởi Tổng thống Hoa Kỳ  và phê chuẩn bởi Quốc hội. Các thành viên   được lựa chọn cho nhiệm kỳ 14 năm (trừ  khi bị  phế  truất bởi Tổng thống) và không   phục vụ quá một nhiệm kỳ. Tuy nhiên, một thành viên nếu được chỉ định để phục vụ  nốt phần chưa hoàn tất của thành viên khác có thể phục vụ tiếp một nhiệm kỳ 14 năm  nữa, ví dụ  cựu chủ  tịch Hội đồng là Alan Greenspan đã phục vụ  19 năm từ  1987 đến  2006. Ủy ban thị  trường gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc và 5 đại diện từ  các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Luôn có một đại diện của ngân hàng FED tại   Quận 2, thành phố  New York là thành viên trong  Ủy ban này (hiện tại là Timonthy  Geithner). Thành viên từ  các ngân hàng khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3  năm.  2.3.3. FED và chiến tranh tiền tệ Ngay khi cuộc khủng hoảng nợ công  ở  châu Âu lắng xuống vào cuối nửa đầu  2010, đồng USD bắt đầu yếu đi nhanh chóng khi cục Dự trữ liên bang Mỹ kiên quyết   8 lập trường nới lỏng tiền tệ, thậm chí áp dụng chính sách nới lỏng số  lượng (QE) để  kích thích kinh tế. Lúc này các nước trên thế  giới thi nhau giảm giá đồng tiền nội tệ  của mình bằng cách đẩy đồng USD ra khỏi hệ  thống tài chính nhằm tăng xuất khẩu,   cải thiện cán cân thương mại của mình. Đối với các nước thuộc khối PIIGS( Hy Lạp,   Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ireland) thì việc đồng USD giảm giá càng làm cho khả  năng vỡ  nợ  của các nước này giảm đi. Các nước trong khu vực mới nổi như  Brazil,   Hàn Quốc, Thái Lan và Philipine đều có những biện pháp ngăn chặn dòng tiền nóng  này. Cùng với việc neo giá đồng CNY vào đồng USD đã được Trung Quốc sử dụng   từ  cuối năm 2008 nhằm giữ  giá đồng CNY  ở  mức thấp, thuận lợi cho việc tạo ra   thặng dư  cán cân thương mại. Điều này tác động làm tăng thâm hụt cán cân thương   mại của Mỹ và làm cho căng thẳng đồng tiền giữa hai nước này tăng lên. Cùng lúc này, tình trạng thất nghiệp  ở  Mỹ  cũng tăng cao cùng tình trạng lạm  phát đã khiến FED đi đến quyết định tung ra gói định lượng 600 tỷ bằng USD để  mua  trái phiếu của bộ tài chính trong khoảng thời gian từ nay đến hết tháng 6/2011. Chủ tịch FED đang cố gắng vực dậy tăng trưởng kinh tế Mỹ khi lãi suất cơ bản  gần 0% và 1,7 nghìn tỷ USD mua trái phiếu nhưng vẫn không thể giải quyết được vấn   đề thất nghiệp và khiến các quan chức kinh tế vẫn “điên đầu” với khả năng giảm phát. Nếu tính cả  trái phiếu được mua bằng tiền từ  thế  chấp, FED sẽ  mua tổng số  khoảng 850 đến 900 tỷ  USD trái phiếu trong khoảng thời gian từ  nay đến hết tháng   6/2011, như vậy tương đương khoảng 110 tỷ USD/tháng. 86% trái phiếu được mua sẽ  tập trung chủ yếu vào thời hạn 2,5 đến 10 năm.  Tuy nhiên, Chủ  tịch FED đã đưa ra quyết định về  gói kích thích mới bất chấp  5/18 nhà hoạch định chính sách cao cấp nhất tại FED phản đối hay thể  hiện sự  nghi  ngờ về hiệu quả của chính sách này.  Trong tình hình nợ  công và khiếm hụt ngân sách của Mỹ  và các nước châu Âu  đang  ở  mức không thể  chấp nhận được thì một quyết định bơm  ồ   ạt tiền này trước   mắt sẽ gia tăng món nợ công khổng lồ hiện có (gần 100% GDP). Việc bơm 600 tỷ USD tất nhiên làm giảm giá đồng USD và khuyến khích xuất  khẩu của Mỹ nhưng đồng thời lại gây ảnh hưởng đến đến các nước khác. Thực vậy,   việc đồng USD mất giá sẽ   ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị  các công khố  phiếu được   một số nước mua với khối lượng lớn như: Trung Quốc (868 tỷ USD), Nhật B ản (836   tỷ), Anh (448 tỷ), các quốc gia xuất khẩu dầu (226 tỷ). Nó cũng ảnh hưởng trực tiếp  đến giá trị khối dự trữ ngoại tệ 2600 tỷ USD của Trung Quốc. Sau khi FED công bố  quyết định bơm tiền, đồng Euro đã tăng giá liên tục  ảnh   hưởng đến xuất khẩu của Âu châu sang Mỹ, nhất là đối với một số nước yếu về kinh  tế như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ireland, Ý. 9 Theo ông Liu Shijin, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thuộc Hội đồng Nhà   nước Trung Quốc cho rằng quyết định làm suy yếu đồng USD của Mỹ sẽ dẫn đến rối   loạn lớn trong hệ thống tiền tệ toàn cầu và cuộc chiến tiền tệ là khó tránh. Hậu quả  đối với Trung Quốc là tăng trưởng kinh tế  nước này trong từ  3 đến 5 năm tới sẽ  chỉ  còn khoảng 7% so với mức 10% hiện nay. Mức tăng trưởng dưới 8% của kinh tế  Trung Quốc được đánh giá là không đủ để bảo đảm ổn định xã hội và tạo việc làm. 2.4. Ngân hàng trung ương Trung Quốc PBOC 2.4.1. Khái quát Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) là Ngân hàng Trung  ương của Cộng  hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các định chế  tài chính của nước này. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc có lượng tài sản tài chính  nhiều hơn bất cứ định chế tài chính công cộng nào trong lịch sử thế giới. 2.4.2. Cơ cấu tổ chức Bộ máy điều hành tối cao của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc gồm Thống đốc  và một số Phó thống đốc. Vị trí Thống đốc được bổ nhiệm hay bãi nhiệm bởi Chủ tịch  nước.  Ứng viên vào vị  trí Thống đốc được đề  xuất bởi Thủ  tướng và phê chuẩn bởi  Quốc hội. Khi Quốc hội không tổ  chức kỳ  họp,  Ủy ban thường vụ  Quốc hội sẽ phê  chuẩn   việc   bổ   nhiệm   này.   Các   Phó   thống   đốc   do   Thủ   tướng   bổ   nhiệm  hoặc   bãi   nhiệm. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc áp dụng hệ thống trách nhiệm tập trung của  Thống đốc, theo đó Thống đốc quản lý công việc chung của toàn ngân hàng, các Phó  thống đốc trợ giúp Thống đốc hoàn thành trách nhiệm. Thống đốc đương nhiệm là ông Chu Tiểu Xuyên.  2.4.3. PBOC và chiến tranh tiền tệ  2.4.3.1. Nguyên nhân PBOC định giá thấp đồng NDT Từ  trước đến nay Trung Quốc (TQ) luôn duy trì “cơ  chế  tỷ  giá ngoại hối có  kiểm soát” thực chất là kiềm chế tỷ giá đồng NDT dưới mức giá trị  thực để  thúc đẩy   xuất khẩu. Tỷ  giá thấp là một ‘vũ khí’ lợi hại bên cạnh những thuận lợi trong nước   như là giá nhân công rẻ và sự hỗ trợ của nhà nước. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho   rằng cơ  chế  đó đem lại sự  tăng trưởng thần kỳ  cho kinh tế  Trung Quốc trong mấy   thập niên qua. Việc nâng giá NDT cũng có những mặt tích cực, trước hết là giảm căng thẳng  xung quanh câu chuyện tỷ giá trong thời gian gần đây và nguy cơ  chiến tranh thương   mại và điều này gây bất lợi cho các bên. Hơn hết Chính phủ hiểu rõ tăng giá NDT làm  10
- Xem thêm -