Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi huyện a lưới, tỉnh thừa thiên huế

  • Số trang: 49 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 43 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính hay ARI (Acute Respiratory Infection) là một căn bệnh rất phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hầu hết các nước đang phát triển. Tại hội nghị Tham khảo Quốc tế về chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) lần thứ nhất tổ chức tại Washington năm 1991, cho biết hàng năm trên thế giới có khoảng 4,3 triệu trẻ em <5 tuổi đã chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, trong đó chủ yếu do viêm phổi. Đến tháng 7 năm 1997, hội nghị quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) tại Canberra đã tổng kết là tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới chiếm 19% tử vong ở trẻ em <5 tuổi [4], [7]. Do vậy, từ năm 1982 Tổ chức Y tế thế giới đã có một chương trình toàn cầu về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, năm 1983 nhóm tư vấn chuyên môn kỹ thuật của chương trình đã được thành lập tại Geneva [32] Tại Việt Nam, chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Quốc gia bắt đầu thực hiện năm 1984 nhằm mục tiêu chủ yếu là giảm tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó đặc biệt là viêm phổi [7]. Sau một thời gian nghiên cứu và triển khai, tỷ lệ tử vong từ 1 đến 5 tuổi có giảm rõ rệt. Tuy vậy, tỷ lệ tử vong dưới 1 tuổi vẫn còn cao kể cả khu vực cộng đồng và bệnh viện [2], [9] Với sự phát triển của đất nước, đời sống nhân dân được nâng cao và chất lượng cuộc sống được cải thiện, dịch vụ Y tế có nhiều tiến bộ và mở rộng, kỷ năng chẩn đoán và xử trí các bệnh cấp tính ở trẻ em các tuyến Y tế đặc biệt là Y tế cơ sở đã được nâng cao do chương trình được triển khai mở rộng, nguồn thuốc phong phú và cung cầu tương đối đầy đủ, nhưng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em vẫn là nguyên nhân có số mắc và tử vong cao nhất ở nhóm dưới 5 tuổi, nhất là những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu vùng xa [7]. Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi còn cao năm 2009 là 19,50 %, trong đó có huyện A Lưới là một huyện miền núi nghèo của tỉnh, tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi chiếm rất cao năm 2009 là 35.00 %, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi vẫn là một vấn đề sức khỏe cần được ưu tiên [16]. Để góp phần đánh giá thêm tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và các yếu tố nguy cơ sau nhiều năm thực hiên chương trình phòng chồng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Quốc gia, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm mục tiêu sau 1. Xác định tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế 2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ em dưới 5 tuổi. Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nhiễm khuẩn hô hấp vẫn còn là nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước đang phát triển. Tần suất nhiễm vi khuẩn so với nhiễm virus đường hô hấp dưới ở các nước đang phát triển khó xác định vì thiếu sự đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của của đa số các xét nghiệm phát hiện nhiễm khuẩn. Tỷ lệ bệnh hô hấp dưới gây bởi vi khuẩn so với virus thay đổi từ chưa đến 15% cho đến hơn 50% [6]. 1.1. KHÁI NIỆM VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Theo quy định của tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) ở trẻ em là bao gồm các trường hợp nhiễm trùng ở: - Đường hô hấp trên gồm: - Tai giữa - Mũi - họng. - Nắp thanh quản, mốc chia đường hô hấp trên và dưới. - Đường hô hấp dưới gồm: - Thanh quản - Phế quản - Phế nang. 1.1.1. Định nghĩa NKHHCT bao gồm các nhiễm trùng ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, bao gồm mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi. Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [6],[7]. 1.2. MỘT SỐ PHÂN LOẠI NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH 1.2.1 Phân loại theo vị trí giải phẫu Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cuối cùng thống nhất với chuyên gia của TCYTTG là lấy nắp thanh quản làm ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới - Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: Tổn thương phía trên nắp thanh quản thường hay gặp (chiếm khoảng 96%)và nhẹ gồm: + Viêm mũi-họng cấp, viêm V.A. + Viêm Amygdales + Viêm tai giữa cấp + Viêm xoang cấp + Các trường hợp ho cảm lạnh - Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới: Tổn thương dưới nắp thanh quản ít gặp hơn, nhưng thường là nặng, bao gồm: + Viêm thanh quản + Viêm khí quản + Viêm phế quản + Viêm tiểu phế quản + Viêm phổi 1.2.2. Phân loại theo mức độ nặng nhẹ Phân loại này thực tế hay dùng để đánh giá và xử trí kịp thời các trường hợp NKHHCT. NKHHCT ở trẻ em có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng như sốt, chảy mũi nước, ho, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, thở khò khè, tím tái… Theo TCYTTG thì có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh [2], [6] - Không viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp thể nhẹ): Trẻ có dấu hiệu ho, chảy mũi nước, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực - Viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp thể vừa): Trẻ có dấu hiệu khở nhanh, không có rút lõm lồng ngực - Viêm phổi nặng (nhiễm khuẩn hô hấp thể nặng): Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực - Bệnh rất nặng: Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu nguy hiểm sau: Không uống được, co giật, ngũ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng. Ở trẻ em dưới 2 tháng tuổi có dấu hiệu bỏ bú, sốt hoặc hạ nhiệt, thở khò khè 1.3. TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH TRẺ EM 1.3.1. Tình hình nghiên cứu về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trên thế giới Hiện nay tại các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm trùng chiếm 74% trường hợp ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó NKHHC là nguyên nhân hàng đầu, cao hơn nhiều so với các bệnh tiêu chảy và các bệnh phòng ngừa được bằng tiêm chủng. Theo số liệu TCYTTG của Hội Nghị quốc tế tại Canberra (1997) số đợt NKHHCT hàng năm tại khu vực thành phố Baghdad (Irak) là 39,3%, Luân Đôn (Anh) 35,5%, Brazil(41,8%), Australia(34,0%), Ethiopia (25,5%). Tỷ lệ đến khám bệnh vì NKHHCT tại các cơ sở y tế ở một số nước như sau: Bangladesh (35,8%), Myanmar (31.5%), Pakistan (33,6%), Zambia (35,0%), Khoa Nhi, BV Huế 25,3% [7] Năm 1991 tại hội nghị Washington đã thông báo số lần mắc bệnh viêm phổi mỗi năm trong 100 trẻ ở Ấn độ là 13,0, Kenia là 18,0, Thái lan là 7,0 , Mỹ là 3,0. Số lần mắc hàng năm ở Costarica là 5,9 (trẻ dưới 5 tuổi), và 7,2 (trẻ từ 1- 2 tuổi), ở Nigeria là 7,5, Ấn Độ là 5,6 và 5,3, Mỹ là 4,5 và 5,0. Chúng ta thấy tỷ lệ mắc NKHHCT mọi thể (nặng, nhẹ ) không có sự chênh lệch nhiều giũa các quốc gia nhưng số lần mắc viêm phổi là những thể nặng dể đưa đến tử vong ở các nước nghèo đang phát triển cao gấp 5 lần so với Hoa Kỳ [4], [7]. Các số liệu trên chứng tỏ NKHHC là bệnh phổ biến các nước đang phát triển, bệnh có tỷ lệ mắc nhiều và tỷ lệ tử vong cao. 1.3.2. Tình hình về trẻ em nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở Việt Nam Ở nước ta hiện nay kinh tế đang trên đường phát triển, hệ thống và dịch vụ y tế đã có nhiều tiến bộ, rất nhiều các chương trình, dự án về y tế được triển khai, trong đó có chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em nói chung đã có kết quả tương đối tốt. Tuy vậy hiện nay NKHHCT vẫn là nguyên nhân gây mắc bệnh và tử vong cao nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Đặc biệt là những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa [4], [19]. NKHHCT phổ biến ở thành thị hơn là nông thôn, tỉ lệ mắc bệnh ở nước ta tăng lên vào tháng 4,5 và tháng 9, 10 (Viên Lao và Bệnh Phổi 1984).Nguyên nhân có thể do yếu tố ấm nóng, gió mùa Việt Nam. - Trung bình 1 xã 8000 dân có 1000 trẻ dưới 5 tuổi, hàng năm sẽ có khoảng 1600 - 1800 lượt mắc NKHHCT, trong đó khoảng 400 - 450 lượt là viêm phổi và khoảng 40 - 50 lượt viêm phổi nặng. - Bệnh viện St. Paul (Hà Nội) từ 1987 - 1989 : số trẻ đến khám do bệnh hô hấp là 37.416, do bệnh tiêu hóa 8.481. Số vào điều trị do bệnh hô hấp là 6.115, do bệnh tiêu hóa 2.287. Số tử vong do bệnh hô hấp là 530, do bệnh tiêu hoá là 52. Tỉ lệ tử vong trong điều trị do bệnh hô hấp là 8,6%, do bệnh tiêu hoá là 2,5%. - T.P. Hồ Chí Minh (1991): số trẻ đến khám do bệnh hô hấp là 138.020, do bệnh tiêu chảy 31.092. Số vào viện do bệnh hô hấp là 24.258, do bệnh tiêu chảy 12.182. [4], [6], [11], Đào Minh Tuấn (2010) nghiên cứu nguyên nhân dịch tễ học lâm sàng viêm phổi nặng tại Khoa Hô hấp bệnh viện Nhi Trung ương năm 2008 [24]. Nguyễn Thị Vân Anh (2007), khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong và trong quá trình điều trị viêm phổi ở trẻ em tại Khoa Nhi bệnh viện bạch Mai năm 2006 [1] Danh Tý, Bùi Quốc Thắng (2008) khảo sát 384 trường hợp nhập Khoa cấp cứu Bênh viện Nhi đồng 1. Nguyên nhân suy hô hấp cấp chủ yếu tập trung vào sơ sinh (45,1%), trẻ < 5 tuổi (48,4%), tử vong 16,9% [25] Kết quả điều tra tại cộng đồng của dự án NKHHCT trẻ em cho thấy tần xuất mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 4 – 5 lần/ trẻ/ năm . Ước tính ở nước ta hiện nay có 9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thì mỗi năm có khoảng 36 – 45 triệu lượt trẻ mắc NKHHCT ở các thể [8],[23]. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm tỷ lệ cao nhất (40- 50%) trong tổng số trẻ đến khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Hiện nay tại các cơ sở chữa bệnh từ tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, đến tuyến huyện đều quá tải do trẻ mắc NKHHCT vào điều trị [6]. Điều tra tại nhà 760 trẻ 5 tuổi dân tộc Sán Dìu và Mông về tình hình mắc bệnh và thu thập thông tin về một số nguy cơ nhận thấy tỷ lệ mắc bệnh NKHHCT tại xã Sán Diều (27,2%), H'Mông (25,3%) theo Phan Trung Kiên, Lê Thị Nga (Đại học Y Dược Thái Nguyên) [13] Theo Hồ Dụy (2005) nghiên cứu tình hình NKHHC ở trẻ < 5 tuổi tại Hải Lăng, Quảng Trị tỷ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi là 32,12%[10] Nguyễn Ngọc phúc (2006) điều tra tại 8 xã/phường tỉnh Bình Định NKHHCT là 37,44%, tiêu chảy 9,47 %, các nhiễm trùng khác 9,4%, bệnh khác 5,09 % ở trẻ dưới 5 tuổi [18] Điều tra về mắc bệnh NKHHCT trẻ dưới 5 tuổi tại xã Cát Lâm-Phù Cát-Bình Định trẻ mắc bệnh NKHHCT là 38,82%, tiêu chảy 10,29%, Bệnh khác 6,18% của Phan Sỹ Hòa (2006) [12] * Tại Thừa Thiên Huế Thừa Thiên Huế là một tỉnh nghèo ở miền trung, tình hình thời tiết hết sức khắc nghiệt luôn chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, công nông nghiệp phát triển chậm, đời sống kinh tế nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ trẻ NKHHCT còn phổ biến 19,50 % [19] A lưới là huyện miền núi, nằm ở phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 70 km đường bộ, dân số: 42.894 người, trong đó có 70% dân tộc thiểu số, 30% dân tộc kinh, số trẻ dưới 5 tuổi 4150 trẻ. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, có 18/21 xã có chương trình 135 (xã đặc biệt khó khăn). Thu nhập bình quân 5,6 triệu đồng/người/năm (nguồn số liệu phòng thống kê huyện năm 2008). Phương tiện sinh hoạt còn quá hạn chế: Nhà cửa, nguồn nước hợp vệ sinh, hố xí hợp vệ sinh chỉ 55%, nhà tắm... làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người đặc biệt trẻ em. Trình độ dân trí còn hạn chế, cộng đồng còn thụ động trong việc tham gia các chương trình Y tế. Kiến thức của nhân viên Y tế xã và Y tế thôn bản còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của cộng đồng. Việc phối hợp liên ngành về các chương trình, dự án trên địa bàn chưa đồng bộ. Trong cộng đồng còn tồn tại nhiều phong tục tập quán và thói quen không có lợi cho sức khỏe của trẻ em nói riêng và người dân nói chung. Hằng năm có nhiều bệnh tật như ỉa chảy, lỵ, suy dinh dưỡng,... đã ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và tình trạng NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi. Để đánh giá các hoạt động có liên quan đến NKHHCT, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần đánh giá tỷ lệ NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan, đồng thời kiến nghị một số giải pháp can thiệp trước những thách thức tại huyện A lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009. 1.4. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM KHUẪN HÔ HẤP CẤP TÍNH TRẺ EM 1.4.1. Nhận thức và hành vi bà mẹ về NKHHCT Theo TCYTTG có đến 75% bệnh NKHHCT được điều trị, chăm sóc tại nhà. Vì phần lớn NKHHCT, sự hiểu biết về bệnh và có hành vi đúng là vô cùng quan trọng để phòng bệnh, phát hiện sớm NKHHCT và đưa trẻ đến cơ sở Y tế kịp thời. Nghiên cứu 393 bà mẹ có con dưới 5 tuổi Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh (2006), của Lý Văn Xuân, Phạm Ngọc Hà [ 28] cho thấy tỷ lệ bà mẹ biết biết đúng dấu hiệu về NKHHCT (42,0%), biết đúng các dấu hiệu viêm phổi (48,6%), biết đúng nơi khám bệnh NKHHCT (98%). Nguyễn Thanh Long (2002), đánh giá hiệu quả của việc hướng dẫn phòng NKHHCT ở trẻ của < 5 tuổi cho 255 bà mẹ thuộc xã Hương Hồ Thừa Thiên Huế. Các bà mẹ được phỏng vấn về các kiến thức liên quan phòng chống NKHHCT trước và sau can thiệp cho kết quả các bà mẹ về 2 lĩnh vực phòng và xử trí NKHHCT đã có sự tiến bộ rõ rệt ( p< 0,01) [14], [15]. 1.4.2. Suy dinh dưỡng Các yếu tố dinh dưỡng có thể ảnh hưởng tới NKHHCT bao gồm cân nặng lúc sinh, tình trạng dinh dưỡng, sữa mẹ, nồng độ vitamin A và các vi chất dinh dưỡng khác. Trẻ em suy dinh dưỡng đáp ứng miễn dịch kém và dễ bị nhiễm khuẩn hơn so với trẻ không bị suy dinh dưỡng. Theo y văn và nghiên cứu các nhiều tác giả về liên quan giữa suy dinh dưỡng với NKHHCT cho rằng SDD ở trẻ là yếu tố có nguy cơ cao gây NKHHCT. Sau khi can thiệp vào vấn đề suy dinh dưỡng, số đợt mắc NKHHCT trung bình ở nhóm trẻ can thiệp đã giảm xuống 2,24 lần so với nhóm không được can thiệp [2],[6], [22]. Suy Dinh Dưỡng dễ bị viêm phổi và thời gian viêm phổi kéo dài hơn trẻ không SDD (Tạ Thị Ánh Hoa,1997) [11] Phan Sỹ Hòa (2006) nghiên cứu ở 340 trẻ cho thấy nhóm trẻ SDD mắc NKHHCT (56,72%) cao hơn nhiều so với nhóm không SDD (34,43%) [12]. Hồ Dụy (2005) nghiên cứu 386 trẻ < 5 tuổi tại Quảng Trị nhóm trẻ SDD mắc NKHHCT (42%) cao hơn với nhóm không SDD (30,65%) 1.4.3. Thiếu sữa mẹ Sữa mẹ có thể bảo vệ trẻ chống lại NKHHCT thông qua một số cơ chế như là: sữa mẹ có chứa các chất kháng khuẩn và kháng virus, tế bào hoạt tính miễn dịch và các chất kích thích hệ thống miễn dịch của trẻ. Một nghiên cứu đã cung cấp thông tin về tử vong đặc hiệu do nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp dưới liên quan tới trẻ nuôi bằng sữa mẹ, những đứa trẻ được nuôi bằng sữa nhân tạo có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 1,6 lần và những đứa trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ thì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 3,6 lần so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ. Tất cả các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng trẻ em không được nuôi sữa mẹ có nguy cơ vào viện do NKHHCT cao gấp từ 1,5 đến 4 lần. Nguyễn Ngọc Phúc (2006) nghiên cứu NKHHCT ở Bình Định cho thấy trẻ không được bú sữa mẹ hay mẹ vì lý do nào đó thiếu sữa cho con bú thì con mắc NKHHCT chiếm tỷ lệ 72,00% cao hơn nhóm trẻ được bú sữa mẹ đầy đủ (50,96%) [18] 1.4.4. Thuốc lá Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), một nửa những người nghiện thuốc lá hiện nay (khoảng 650 triệu người trong tổng số 1,3 tỷ người hút thuốc) sẽ bị chết sớm vì các bệnh liên quan đến hút thuốc. Đáng báo động hơn là hàng trăm ngàn người chưa bao giờ hút thuốc vẫn phải chết mỗi năm vì những bệnh do hít phải khói thuốc của người khác (hút thuốc thụ động). Khói thuốc thụ động là mối nguy cơ sức khoẻ cho tất cả những người tiếp xúc, Khói thuốc cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch, đột quỵ, các bệnh đường hô hấp, ung thư phổi và nhiều bệnh khác ở người hút thuốc thụ động. Trong đó, trẻ em, phụ nữ, người già là những đối tượng đặc biệt nhạy cảm với khói thuốc. Tạ Thị Ánh Hoa (1997), nguy cơ viêm phổi cao gấp 2 lần ở trẻ thường xuyên phơi nhiễm khói thuốc lá [11]. Mai Anh Tuấn (2008) khảo sát 552 trẻ < 5 tuổi ở các xã miền núi Bắc Kạn cho thấy Nhóm trẻ sống trong các hộ gia đình có người lớn hút thuốc lá, lào trong nhà có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn 1,39 lần so với trẻ nhóm sống trong các hộ gia đình có người lớn hút thuốc lá, lào trong nhà [ 22] 1.4.5. Tiêm chủng Theo TCYTTG ước tính hàng năm có khoảng 10 triệu trẻ em chết do 6 bệnh truyền nhiễm: Lao, ho gà, uốn ván, bạch hầu, sởi, bại liệt. Tình trạng tiêm chủng của trẻ có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ mắc NKHHCT. Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2008) cho biết các trẻ được tiêm chủng không đủ hoặc đủ nhưng không đúng lịch có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn hẳn (gấp 7,92 lần) các trẻ được tiêm chủng đủ và đúng lịch [22] Phan Sỹ Hòa (2006) nghiên cứu ở 340 trẻ cho thấy nhóm trẻ không được tiêm chủng mắc NKHHCT (50,0%) cao hơn nhiều so với nhóm không được tiêm chủng đầy đủ (38,62%) [12] Nguyễn Ngọc Phúc (2006) nghiên cứu NKHHCT ở Bình Định cho thấy trẻ không được tiêm chủng đầy đủ mắc NKHHCT chiếm tỷ lệ 72,00% cao hơn nhóm trẻ được bú sữa mẹ đầy đủ (50,96%) [18] 1.4.6. Số người trong gia đình Nguy cơ NKHHCT tăng lên theo diện tích nhà và theo số người trong gia đình, gia đình đông con có từ 3 con trở lên mắc NKHHCT 38,20% [18]. Gia đình có từ 5 con trở lên mắc NKHHCT cao 2,47% lần hơn gia đình có 1 con và 2,06 lần hơn gia đình có 02 con ( Bùi Đức Dương, Tô Anh Toán, 2001 ) [8] 1.4.7. Các yếu tố khác Ngoài các yếu tố trên theo TCYTTG thì điều kiện kinh tế thấp, nhà ở chật chội, đông người, trình độ học vấn người mẹ… là những yếu tố nguy cơ gây NKHHCT. Suy dinh dưỡng Kinh tế gia đình Tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm Khói thuốc lá , khói bếp Trẻ đẻ non, sinh khó Thiếu sữa mẹ. Cân nặng lúc đẻ thấp Yếu tố nguy cơ củaNKHHCT Thiếu kiến thức nuôi dưỡng Chăm sóc trẻ kém Tuổi nhỏ Tiêm chủng không đầy đủ Ăn dặm sớm, ỉa chảy Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Quần thể nghiên cứu: trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện A lưới Trẻ dưới 5 tuổi là những trẻ sinh ra trong khoảng từ ngày 10 tháng 3 năm 2005 đến ngày 9 tháng 3 năm 2010. 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả, điều tra ngang 2.2.3. Cở mẫu 2 Sử dụng công thức: n Z  2 p (1  p) d2 Trong đó: n: Số mẫu tối thiểu cần tìm P: Ước đoán tỷ lệ NKHHC có trong quần thể nghiên cứu ( Từ mẫu thăm dò ta có p = 0,35 ) d: Sai số chọn. Chấp nhận sai số d = 0.05 ( 5 % ) Z 2  2 : Độ tin cậy: Với xác xuất 95 % có Z = 1,96 ( Tra từ bảng Z, tính được n = 349 ) Chọn mẫu 2 bậc nên cở mẫu hợp lý là 2n = 698. Thêm 10% sai số điều tra công đồng 698 + 70 = 768 Cỡ mẫu của nghiên cứu là: 768 trẻ 2.2.4. Chọn mẫu Chọn mẫu ngẫu nhiên, lập danh sách 21 xã/thị trấn huyện A lưới tỉnh Thừa Thiên Huế, bóc thăm ngẫu nhiên 3 xã/thị trấn trong huyện ,tỉnh Sử dụng mẫu ngẫu nhiên đơn: + Khung mẫu: Danh sách 883 trẻ < 5 tuổi của 3 xã : Hồng Thủy 299 trẻ; A Ngo 304 trẻ; A Đớt 280 trẻ ( dựa vào danh sách cân trẻ đánh giá dinh dưỡng năm 2008 ) + Lập danh sách các trẻ dưới 5 tuôi trong xã và các bà mẹ có trong xã. Mỗi xã chọn 250 trẻ + Dùng bảng số ngẫu nhiên đơn chọn ra n trẻ để đưa vào mẫu nghiên cứu 2.2.5. Nội dung nghiên cứu 2.2.5.1. Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi - Tỷ lệ chung trẻ em NKHHCT. - Tỷ lệ trẻ NKHHCT theo giới, theo tuổi. - Tỷ lệ trẻ mắc các bệnh khác. 2.2.5.2. Tình hình một số các yếu tố liên quan đến trẻ nhiễm khuẫn hô hấp cấp tính Về phía trẻ + Cân nặng lúc sinh + Tuổi thai lúc sinh + Tình trạng lúc sinh trẻ + Sữa mẹ + Thời gian ăn dặm + Tình trạng dinh dưỡng + Yếu tố tiêm chủng Về phía mẹ + Trình độ học vấn của bà mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ + Kiến thức của bà mẹ về NKHHCT + Cách xử trí khi trẻ bị NKHHCT Về phía gia đình + Số con trong gia đình + Kinh tế + Địa điểm chăm sóc trẻ + Người chăm sóc trẻ + Khói thuốc lá + Nơi điều trị đầu tiên khi trẻ bị NKHHCT 2.2.6. Một số định nghĩa về chỉ số nghiên cứu 2.2.6.1. Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ( Phân loại nhiễm khuẫn hô hấp cấp tính theo tổ chức y tế thế giới ) + Trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi Triệu chứng Chẩn đoán Xử trí - Không uống được - Co giật - Ngủ li bì khó đánh thức - Thở rít khi nằm yên - Suy dinh dưỡng nặng - Bệnh rất nặng ( khi chỉ cần có 1 trong 5 triệu chứng trên ) - Chuyển ngay đi bệnh viện - Tiêm ngay một liều kháng sinh - Dùng thuốc hạ nhiệt (nếu có sốt) - Điều trị thở sò sè (nếu có) - Nếu ở vùng sốt rét: Thì cho thuốc chống sốt rét Triệu chứng * Dấu rút lõm lồng * Thở nhanh Chẩn đoán Xử trí * Không rút lõm ngực lồng ngực Viêm phổi nặng * Gửi ngay đi bệnh Viêm phổi * Chăm sóc tại * Không thở nhanh Không viêm phổi * Nếu ho trên 30 viện nhà ngày thì gửi đi * Tiêm ngay một liều * Cho một liều khám kháng sinh kháng sinh * Điều trị viêm tai , * Điều trị sốt và sò sè * Điều trị sốt và viêm họng (nếu có) (nếu có) sò sè (nếu có) * Khám và chữa Nếu không có điều Nhắc bà mẹ bế bệnh khác kiện chuyễn tuyến trên, con trở lại sau 2 * Chăm sóc tại nhà có thể điều trị bằng ngày hoặc sớm * Điều trị sốt và sò kháng sinh và theo dõi hơn nếu trẻ trở sè (nếu có) sát. nên xấu đi. Khám lại sau 2 ngày dùng kháng sinh Triệu * Không uống được * Thở chậm chứng *Có dấu rút lõm * Đỡ sốt Xử trí *Có dấu nguy cơ khác Chuyển đi bệnh viện * Ăn được Đổi kháng sinh hoặc Điều trị tiếp kháng chuyển viện. sinh cho đủ 5 ngày. + Trẻ dưới 2 tháng tuổi Triệu * Bú kém * Co giật chứng * Ngủ li bì khó đánh thức * Thở rít lúc nằm Chẩn đoán Xử trí * Sốt cao hoặc lạnh toát toàn thân Bệnh rất trầm trọng ( khi chỉ cần có 1 trong 5 triệu chứng trên ) * Chuyển ngay đi bệnh viện * Tiêm ngay một liều kháng sinh Triệu * Giữ ấm cho trẻ *Rút lõm lồng ngực hoặc *Không rút lõm lồng ngực chứng Chẩn đoán Xử trí *Thở nhanh( > 60lần/phút ) Viêm phổi nặng *Chuyển ngay đi bệnh viện *Không thở nhanh Không viêm phổi *Hướng dẫn cho bà mẹ chăm sóc * Giữ ấm cho trẻ tại nhà * Tiêm ngay một liều kháng *Giữ ấm cho trẻ sinh. Nếu không có điều kiện *Tăng cường cho trẻ bú chuyển có thể điều trị bằng *Làm sạnh, thông mũi để trẻ dễ kháng sinh và phải theo dõi bú mẹ chặt chẽ *đưa ngay đến trạm y tế nếu thấy trẻ: - Khó thở hơn - Thở nhanh hơn - Bú khó khăn - Mệt nặng hơn 2.2.6.2. Tuổi Khi tiến hành điều tra, tuổi của trẻ cần được xác định tuổi thật của trẻ khi tiếp xúc với người mẹ. Nếu tuổi khai sinh không đúng với tuổi thật hoặc đứa trẻ không có tờ khai sinh, bà mẹ xác định ngày sinh dương lịch hoặc âm lịch. Trường hợp này cần phải đối chiếu phù hợp. Trong nghiên cứu này chúng tôi chia lô ra làm 3 đối tượng: 1 tuổi; 2 - 3 tuổi; 4 - 5 tuổi. 2.2.6.3. Tiêu chảy Khi số lần đi tiêu của trẻ trên 3 lần/ngày, phân nhiều nước, bất thường. 2.2.6.4. Cân nặng lúc sinh - Đủ gram: Khi trẻ sinh ra cân nặng > 2.500gr - Thiếu gram: Khi trẻ sinh ra cân nặng < 2.500gr 2.2.6.5. Tuổi thai lúc sinh đẻ - Sinh thiếu tháng: Theo TCYTTG trẻ sinh ra sống được trước tuần 27 tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối. - Sinh đủ tháng: Là những trẻ sinh trong tháng từ tuần 38 -42 tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối. 2.2.6.6. Tình trạng sinh đẻ - Sinh khó: Khi sinh có can thiệp thủ thuật sản khoa. - Sinh thường: Khi sinh không có can thiệp thủ thuật sản khoa 2.2.6.7. Bú mẹ Thiếu sữa mẹ được định nghĩa là trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 - 6 tháng đầu hoặc cai sữa sớm hơn 18 tháng. 2.2.6.8. Tiêm chủng Tiêm chủng đầy đủ là trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đủ 6 loại văc xin ( lao, bại liệt, bạch hầu, uốn ván, ho gà, sởi ) và viêm gan B theo lịch. Tuy nhiên những trẻ dưới 1 tuổi đang tiêm phòng theo lịch ( nhưng chưa đủ 6 loại văc xin như trên ) Thì cũng được xem là tiêm chủng đầy đủ. 2.2.6.9. Thời gian ăn dặm Ăn dăm sớm là trẻ được cho ăn trước 4 tháng kể từ lúc sinh. 2.2.6.10. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ Dùng cân để cân và xác định trẻ có bị nhẹ cân so với tuổi hay không ( Theo tiêu chí của chương trình phòng chống SDD quốc gia ) gồm: Kênh A, Kênh B, Kênh C, Kênh D. Trẻ có cân nặng nằm ở kinh A là bình thường, trẻ nằm ở Kênh B, Kênh C, Kênh D. suy dinh dưỡng. 2.2.6.11. Trình độ học vấn người mẹ - Mù chữ: Không biết đọc và biết viết chữ. - Tiểu học: Học hết lớp 1 và/hoặc đến hết lớp 5 - Phổ thông cơ sở:Học hết lớp 6 và/hoặcđến hết lớp 9 - Phổ thông trung học: Học hết lớp 10 và/hoặcđến hết lớp 12 2.2.6.12. Kiến thức của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính - Kiến thức không đúng: Khi trẻ bị bệnh có kiêng ăn uống và không quan tâm chăm sóc trẻ, không kể đúng các dấu hiệu trẻ bệnh, các dấu hiệu theo dõi hô hấp trẻ hoặc các dấu hiệu trẻ mắc bệnh nặng. - Kiến thức đúng: Khi trẻ bị bệnh ăn uống đầy đủ và quan tâm chăm sóc trẻ, kể đúng các dấu hiệu trẻ bệnh, các dấu hiệu theo dõi hô hấp trẻ hoặc các dấu hiệu trẻ mắc bệnh nặng. 2.2.6.13. Số con trong gia đình Số con đông trong gia đình: Gia đình có từ 3 con trở lên. 2.2.6.14. Kinh tế gia đình - Nghèo: - Có sổ nghèo - Vay nợ ăn, uống và chữa bệnh (trong năm qua chưa trả được) - Không nghèo: Không thuộc diện trên. 2.2.6.15. Thuốc lá Nhà có một người hút thuốc lá thường xuyên hàng ngày, làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh trẻ.( ngày trên 10 điếu ) 2.2.7. Kỹ thuật thu thập số liệu - Khám trực tiếp trẻ - Phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi bằng bộ câu hỏi soạn sẵn + Điều tra viên là cán bộ y tế xã, huyện khám bệnh + Điều tra viên là các thành viên cô giáo tại các trường mẫu giáo ở các xã 2.2.8. Xử lý số liệu Phân tích, xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê y học thông thường với sự hỗ trợ của phần mềm Epi info. Test thống kê trong phân tích số liệu là test χ2.
- Xem thêm -