Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại hà nội luận văn ths. du lịch

  • Số trang: 163 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 68 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 7932 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI VÀ NHÂN VĂN ================== TẠ TRANG NHUNG NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM Xà HỘI CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI VÀ NHÂN VĂN ================== TẠ TRANG NHUNG NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM Xà HỘI CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐỨC THANH Hà Nội - 2014 MỤC LỤC DANH MỤC SƠ ĐỒ .......................................................................................... 4 DANH MỤC BIỂU ĐỒ ...................................................................................... 4 CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................... 6 MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 7 1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 7 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 8 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 24 4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 25 5. Bố cục đề tài ..................................................................................................... 26 CHƢƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM Xà HỘI CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH ........................................................................... 27 1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội ..................................................................... 28 1.2. Ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội ............................................ 28 1.3. Khái quát về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành ................. 30 1.4. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lữ hành ............................. 33 1.4.1. Trách nhiệm trong quản lý nội bộ ...................................................... 36 1.4.2. Trách nhiệm với đối tác ..................................................................... 38 1.4.3. Trách nhiệm với khách hàng ............................................................. 39 1.4.4. Trách nhiệm với môi trường............................................................... 40 1.4.5. Trách nhiệm với cộng đồng ................................................................ 41 Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 44 CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM Xà HỘI CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI ................................................... 46 2.1. Giới thiệu về các doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội ..................................... 46 2.1.1. Khái quát chung ................................................................................. 46 1 2.1.2. Công ty du lịch Vietinbank Travel ..................................................... 52 2.1.3. Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist ........................................... 53 2.1.4. Công ty du lịch Vietnam Today Travel ............................................. 54 2.1.5. Công ty du lịch Sun Travel ................................................................. 55 2.2. Thực trạng trách nhiệm xã hội trong quản lý nội bộ ..................................... 56 2.2.1. Thực trạng chung ............................................................................... 56 2.2.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel ............................. 61 2.2.3. Thực trạng tại Công ty Dịch vụ lữ hành Saigon Tourist ................... 64 2.2.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel ...................... 67 2.2.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel ........................................ 69 2.3. Thực trạng trách nhiệm xã hội với đối tác ................................................... 71 2.3.1. Thực trạng chung ............................................................................... 72 2.3.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel .............................. 75 2.3.3. Thực trạng tại Công ty Dịch vụ lữ hành Saigon Tourist ................... 77 2.3.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel ........................ 79 2.3.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel ......................................... 80 2.4. Thực trạng trách nhiệm xã hội với khách hàng ............................................ 82 2.4.1. Thực trạng chung ............................................................................... 82 2.4.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel .............................. 85 2.4.3. Thực trạng tại Công ty Dịch vụ lữ hành Saigon Tourist .................... 87 2.4.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel ...................... 89 2.4.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel ........................................ 91 2.5. Thực trạng trách nhiệm xã hội với môi trường ............................................. 93 2.6. Thực trạng trách nhiệm xã hội với cộng đồng ............................................. 101 2.6.1. Thực trạng chung ............................................................................... 101 2.6.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel .............................. 105 2.6.3. Thực trạng tại Công ty dịch vụ lữ hành Saigon Tourist ..................... 106 2 2.6.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel ....................... 107 2.6.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel .......................................... 108 Tiểu kết chương 2 ......................................................................................... 109 CHƢƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG TRÁCH NHIỆM Xà HỘI CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI .......... 111 3.1. Nhận xét chung và căn cứ đề xuất giải pháp ............................................... 111 3.2. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội trong quản lý nội bộ ......... 118 3.3. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với đối tác ....................... 122 3.4. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với khách hàng ................. 125 3.5. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với môi trường ................. 128 3.6. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với cộng đồng .................. 130 Tiểu kết chương 3 ......................................................................................... 133 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 134 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 136 PHỤ LỤC ............................................................................................................ i Phụ lục 1 : Tổng hợp kết quả bảng hỏi ............................................................ Bảng 1 : Tổng hợp kết quả phỏng vấn dành cho lãnh đạo 4 doanh nghiệp ......... Bảng 2 : Tổng hợp bảng hỏi phỏng vấn dành cho nhân viên 4 doanh nghiệp… .. Bảng 3 : Tổng hợp bảng hỏi phỏng vấn dành cho khách hàng của 4 doanh nghiệp ................................................................................................................... Phụ Lục 2 : Giới thiệu về chƣơng trình “Thắp sáng niềm tin” của công ty Sài Gòn Tourist .................................................................................................. Phụ lục 3 : Một số hình ảnh về việc thực hiện TNXH tại các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam ........................................................................................... 3 DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Mô hình Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ................................... 35 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 : Biểu đồ minh họa ý kiến nhận xét về chế độ đãi ngộ của công ty giữa lãnh đạo và nhân viên của bốn doanh nghiệp .............................................. 58 Biểu đồ 2 : Biểu đồ minh họa tỷ lệ nhận xét về điều kiện làm việc giữa lãnh đạo và nhân viên của bốn doanh nghiệp .............................................................. 60 Biểu đồ 3 : Biểu đồ minh họa tỷ lệ nhận xét về thông tin tài chính của doanh nghiệp giữa lãnh đạo và nhân viên của bốn doanh nghiệp .................................. 61 Biểu đồ 4 : Biểu đồ minh họa tỷ lệ nhận xét điều kiện làm việc giữa lãnh đạo và nhân viên của Vietinbank travel ...................................................................... 63 Biểu đồ 5 : Biểu đồ minh họa về đánh giá trách nhiệm xã hội đối với nhân viên của lãnh đạo và nhân viên Vietnam Today Travel........................................ 69 Biểu đồ 6 : Biểu đồ so sánh đánh giá của lãnh đạo và nhân viên về việc thực hiện cam kết với đối tác của doanh nghiệp .......................................................... 73 Biểu đồ 7 : Biểu đồ minh họa tần suất trung bình về việc kiểm tra chất lượng dịch vụ thực tế của đối tác cung ứng dịch vụ của lãnh đạo Doanh nghiệp ........... 74 Biểu đồ 8 : Biểu đồ minh họa đánh giá của lãnh đạo / nhân viên / khách hàng về chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp lữ hành.................................................. 85 Biểu đồ 9 : Biểu đồ minh họa tổng hợp ý kiến của lãnh đạo/nhân viên/khách hàng của 4 doanh nghiệp về việc thực hiện hướng dẫn cho du khách về việc bảo vệ môi trường tự nhiên trước chuyến du lịch của doanh nghiệp. .................. 95 4 Biểu đồ 10 : Biểu đồ minh họa đánh giá của nhân viên 4 doanh nghiệp về việc thực hiện hướng dẫn giữ gìn, bảo vệ môi trường của doanh nghiệp dành cho nhân viên và đối tác. ....................................................................................... 97 Biểu đồ 11 : Biểu đồ minh họa mức chi trung bình cho việc tham gia bảo vệ môi trường tự nhiên của doanh nghiệp trong 1 năm ............................................. 100 Biểu đồ 12 : Biểu đồ minh họa tổng hợp ý kiến của lãnh đạo và nhân viên 4 doanh nghiệp về việc sử dụng lao động và sản phẩm địa phương........................ 104 5 CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT Trong luận văn của mình, tác giả có sử dụng một số từ viết tắt. Để tiện cho người đọc theo dõi và hiểu được rõ các từ này, tác giả xin chú thích các từ viết tắt được sử dụng nhiều trong luận văn như sau : CSR Corporate Social Responsibility – Trách nhiệm xã hội DN Doanh nghiệp NHCT VN Ngân hàng Công thương Việt Nam PGS.TS Phó giáo sư – Tiến sĩ TNXH Trách nhiệm xã hội Tr. Trang TOI Tour Operator Initiative – Hiệp hội các Doanh nghiệp Lữ hành WTO World Tourism Organizaton - Tổ chức Du lịch Thế giới 6 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (TNXH) là một khái niệm ra đời từ những năm đầu của thập kỷ 50. Tuy là một vấn đề tương đối mới nhưng TNXH ngày càng được quan tâm rộng rãi trên thế giới và cả tại Việt Nam. Việc thực hiện TNXH đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư một nguồn vốn nhất định song trước đòi hỏi của xã hội việc thực thi TNXH đã dần trở thành yêu cầu không thể bỏ qua của mỗi doanh nghiệp. Bên cạnh chất lượng sản phẩm là một yêu cầu tiên quyết, uy tín và vị thế của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào việc thực thi TNXH của doanh nghiệp đối với cộng đồng, nhân viên, khách hàng và đối tác của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp du lịch lữ hành cũng không nằm ngoài quy luật đó nhất là trong thực tế du lịch lại là ngành dịch vụ mang tính xã hội cao. Việc kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành không mang tính tách biệt mà có tác động đáng kể tới một số lượng lao động và công việc của các ngành nghề khác. Hà Nội là trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của cả nước, đồng thời cũng là điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến với Việt Nam. Số lượng các doanh nghiệp lữ hành tập trung tại Hà Nội khá lớn với nhiều quy mô và loại hình hoạt động đa dạng. Việc nghiên cứu TNXH tại các doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội có thể phần nào phản ánh về cách nhìn nhận và thực trạng TNXH của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Việt Nam. Nhìn chung việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp du lịch nói chung và các doanh nghiệp lữ hành nói riêng tại Việt Nam cho đến nay vẫn đang là một vấn đề mới và chưa thực sự được nhìn nhận đúng và đầy đủ. Số lượng các doanh nghiệp lữ hành thực thi các hoạt động trách nhiệm xã hội còn chưa nhiều và chưa toàn diện 7 mà chỉ tập trung vào một khía cạnh nhất định trong tổng thế cấu trúc của TNXH. Chính vì vậy, việc nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Hà Nội là một việc làm cấp bách và thiết thực. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (hay còn gọi là Coporate Social Responsibility - CSR) là một thuật ngữ ra đời từ những năm 50 của thế kỷ 20. Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này trải dài theo từng giai đoạn và từng khía cạnh của vấn đề. Trên thế giới Có rất nhiều cá nhân, tổ chức đã đưa ra định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về TNXH được công nhận trên toàn thế giới. Định nghĩa về trách nhiệm xã hội có sự thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử, từ những năm 50 của thế kỷ 20 cho đến thời điểm hiện tại. Bản chất TNXH là một khái niệm có tính động, nội dung của TNXH phản ánh và bị ảnh hưởng bởi tình hình xã hội trong từng giai đoạn khác nhau, cho nên TNXH cũng phải điều chỉnh tùy theo bối cảnh xã hội. Vì vậy thật khó để nắm bắt và đưa ra một định nghĩa cuối cùng, đầy đủ nhất về TNXH. Khái niệm TNXH của doanh nghiệp lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1953 qua cuốn sách của tác giả Bowen “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”. Quan niệm đầu tiên về TNXH của Bowen được định nghĩa là :“Thực hiện các chính sách, ra các quyết định hoặc làm theo những chuỗi hành động cần thiết cho các mục tiêu và giá trị của xã hội”[9, tr. 50] Các tác giả Keith Davis và Joseph McGuire có cùng quan điểm về TNXH khi cho rằng :“TNXH là những quyết định và hành động của doanh nhân được đưa ra có ít nhất một phần lý do ngoài lợi ích kinh tế và kỹ thuật 8 của doanh nghiệp” [14, tr. 72] và”Ý tưởng của TNXH đề xuất rằng doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ về kinh tế và pháp luật mà còn phải có những trách nhiệm với xã hội vượt ngoài những nghĩa vụ đó” [32, tr. 15] Tuy nhiên hai tác giả Theodore Levitt và Milton Friedman lại có những ý kiến tiêu cực về TNXH khi họ không ủng hộ xu hướng này khi cho rằng doanh nghiệp không cần phải bắt buộc có trách nhiệm với xã hôi. Năm 1958, Theodore Levitt cho rằng :“mối quan tâm về xã hội và phúc lợi chung không phải là trách nhiệm của doanh nghiệp mà là chính quyền, và công việc của doanh nghiệp là quan tâm đến những khía cạnh vật chất nhiều hơn phúc lợi” [30, tr. 45]. Ông e ngại rằng sự chú ý đến trách nhiệm xã hội sẽ làm giảm động cơ lợi nhuận điều rất cần thiết cho sự thành công kinh doanh. Tác giả Friedman (1970) đưa ra ý kiến của ông :”Chỉ có một và chỉ một TNXH của doanh nhân – đó là sử dụng nguồn lực của họ và tham gia vào các hoạt động được thiết kế để gia tăng lợi nhuận miễn là vẫn nằm trong khuôn khổ các quy tắc của luật chơi, điều mà được nói rằng, tham gia vào cuộc cạnh tranh mở và tự do không có sự gian lận và lừa gạt”[21, tr. 126]. Kết luận của Friedman gây ra nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu về TNXH thời kỳ những năm 1970. Trong khi đó, hai tác giả Eells và Walton (1974) lại đưa ra một định nghĩa về TNXH hoàn toàn khác với Friedman khi hai ông cho rằng doanh nghiệp cần phải có sự quan tâm tới việc hỗ trợ và cải thiện phúc lợi xã hội: “Theo nghĩa rộng nhất, TNXH đại điện cho mối quan tâm tới nhu cầu và mục tiêu của xã hội mà vượt ngoài lợi ích kinh tế đơn thuần. Trong phạm vi các hệ thống kinh doanh ngày nay chỉ có thể tồn tại trong một xã hội tự do hoạt động hiệu quả. Phong trào của TNXH đại diện cho mối quan tâm rộng rãi về vai trò của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ và cải thiện phúc lợi xã hội”[15, tr. 50] 9 Hội đồng kinh tế xã hội SER (Social Economic Council) đã đưa ra định nghĩa Trách nhiệm xã hội như sau : “Cốt lõi của Trách nhiệm xã hội là sự quan tâm từ các hoạt động của doanh nghiệp đến hiệu quả xã hội, trách nhiệm xã hội không chỉ dựa trên nền tảng đạo đức. Có hai nhân tố quyết định liệu một công ty có thực sự có trách nhiệm xã hội hay không . 1. Mục tiêu của công ty hướng tới ba nhân tố cơ bản là: con người, hành tinh, lợi nhuận. Và với mục tiêu đó, bên cạnh các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, công ty hướng tới trách nhiệm đóng góp cho sự phồn vinh của xã hội trong một thời gian dài. 2. Mối quan hệ của công ty với các tổ chức, đối tác được duy trì dựa trên nền tảng của sự minh bạch và đối thoại thẳng thắn mà dựa vào đó có thể đưa ra những câu trả lời thỏa đáng cho mọi thắc mắc của cộng đồng xã hội” [16, tr. 30] Năm 1998, tại một hội thảo về TNXH tại Hà Lan “Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển Bền vững – WBSD” đã đưa ra định nghĩa về Trách nhiệm xã hội : “Trách nhiệm xã hội là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp nhằm cư xử theo các chuẩn mực đạo đức , tích cực đóng góp cho việc phát triển kinh tế đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân công và gia đình họ nói riêng cũng như cộng đồng địa phương và xã hội nói chung” [16, tr. 31]. Hai nhà nghiên cứu xã hội Matten và Moon (2005) cho rằng: “TNXH là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác nhau như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”[33, tr. 58] 10 Các định nghĩa dưới đây có nét tương đồng khi đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp với đối tác, các bên liên quan với doanh nghiệp trong khái niệm TNXH. Năm 2001, Ủy ban Châu Âu (EU Commission) đã xác định TNXH là : "Một khái niệm theo đó các doanh nghiệp tích hợp vấn đề xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện". Học giả Campbell năm 2006 đưa ra cách hiểu của ông về TNXH : “Tôi coi doanh nghiệp đang thực hiện những hành động trách nhiệm khi họ làm hai điều. Thứ nhất, họ không làm điều gì gây tổn hại đến các bên liên quan. Thứ hai, nếu họ làm hại các bên liên quan, sau đó họ phải khắc phục nó bất cứ khi nào nó được phát hiện và chú ý những vấn đề đó” [37, tr. 14]. Đồng quan điểm, hai nhà nghiên cứu Basu and Palazzo (2008) cho rằng :“Chúng ta có thể định nghĩa TNXH như là một quá trình mà các nhà quản lý và các doanh nghiệp nghĩ và thảo luận về mối quan hệ với các bên liên quan cũng như vai trò của họ trong mối quan hệ đến sản phẩm chung, cùng với định hướng hành vi với sự tôn trọng cho việc thỏa mãn và đạt được những vai trò và mối quan hệ đó” [31, tr. 150] Gần đây nhất, tại hội thảo tháng 10 năm 2011 về vấn đề Đổi mới chiến lược EU giai đoạn 2011-2014 về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp , Ủy ban Châu Âu đã đưa ra thêm một định nghĩa mới về TNXH. Theo định nghĩa mới này của họ : “TNXH là trách nhiệm của doanh nghiệp với những tác động của họ đối với xã hội” [Website : http://ec.europa.eu/index_en.htm] Tôn trọng luật pháp và thoả ước tập thể giữa các đối tác xã hội, là một điều kiện tiên quyết để đáp ứng các trách nhiệm đó. Để đáp ứng đầy đủ TNXH, doanh nghiệp cần có ở một quá trình hội nhập xã hội, về môi trường, đạo đức, nhân quyền và sự quan tâm đến người tiêu dùng vào hoạt động kinh doanh và chiến lược cốt lõi trong hợp tác chặt chẽ với các bên liên quan của họ . 11 Tại Việt Nam, định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới, được các doanh nghiệp Việt Nam chấp nhận và coi như đó là cách hiểu toàn diện nhất về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. : “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility hay CSR) được hiểu là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội". Trong thập niên 50, TNXH mới chỉ đơn thuần là việc làm của doanh nhân – người quản lý doanh nghiệp thực hiện những hành động từ thiện với xã hội. TNXH trong giai đoạn này mới chỉ dừng ở ở mức độ cá nhân người quản lý chứ chưa đặt bản thân doanh nghiệp vào khái niệm này. Nhận thức trong cộng đồng về TNXH giai đoạn những năm 50 còn khá mơ hồ và chưa hình thành những khái niệm cụ thể về TNXH. Theo nhà nghiên cứu William C. Frederick, một người có nhiều năm nghiên cứu về TNXH, có ba ý tưởng cốt lõi về TNXH nổi bật trong những năm 1950 là : ý thức của người quản lý với những tài sản công cộng, cân bằng các yếu tố cạnh tranh với nguồn lực của công ty, và hoạt động từ thiện của công ty - hỗ trợ kinh doanh cho cộng đồng [20, tr. 530] Các doanh nghiệp cũng chưa nhận biết và kết nối được lợi ích doanh nghiệp với việc thực hiện TNXH. Chủ thể của TNXH trong giai đoạn này mới chỉ là những hành động từ thiện cho cộng đồng. Chuyển tiếp sang giai đoạn những năm 60, nền tảng cho TNXH trong giai đoạn này đã được phát triển bởi sự thay đổi nhanh chóng của môi trường xã hội và áp lực từ cộng đồng, đặc biệt là từ những nhà hoạt động xã hội. Giai đoạn này diễn ra nhiều các phong trào xã hội quan trọng chủ yếu về 12 quyền dân sự, quyền của phụ nữ, quyền lợi của người tiêu dùng và phong trào bảo vệ môi trường. Một phân tích sau đó của Patrick Murphy cho rằng những năm 1960 và đầu những năm 1970 là thời đại" nâng cao nhận thức” và “phổ biến” của TNXH. Đây là giai đoạn đánh dấu việc thay đổi ý thức xã hội và công nhận trách nhiệm chung, sự tham gia của cộng đồng trong các vấn đề xã hội, mối quan tâm về các đô thị bị tàn phá, xóa bỏ phân biệt chủng tộc, giảm thiểu ô nhiễm và thời kỳ tiếp tục diễn ra các hoạt động từ thiện trong đó tập trung vào đóng góp từ thiện của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bắt đầu ý thức được kỳ vọng của xã hội và doanh nghiệp đã đi sâu hơn vào những hoạt động xã hội. Tuy nhiên hoạt động TNXH của doanh nghiệp thời kỳ này chưa thực sự mạnh mẽ mà mới dừng ở mức độ “dè chừng” từng bước một. Ngoài các hoạt động từ thiện với cộng đồng, chủ thể được đề cập đến trong khái niệm TNXH trong giai đoạn này đã bao gồm cả những hoạt động liên quan đến nhân quyền, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội…Một đặc tính của TNXH trong những năm 1960 là không có bất kỳ sự liên kết nào giữa trách nhiệm xã hội với hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản của khái niệm TNXH so với cách hiểu về TNXH ngày nay. Cho đến những năm 70 có thêm nhiều hơn các cuộc tranh luận về trách nhiệm của doanh nghiệp với quyền lợi của người lao động, do trong thời kỳ này chính phủ đã phải chịu quá nhiều trách nhiệm cho các khoản phúc lợi xã hội và cơ sở vật chất. Chủ đề đạo đức trong kinh doanh ngày càng có vai trò quan trọng trong những năm 70. TNXH giai đoạn này đã nâng lên một tầm cao mới đó là việc đòi hỏi các doanh nghiệp phải cần có trách nhiệm với cộng đồng xã hội ngoài mục đích lợi nhuận kinh tế và ngoài nghĩa vụ tuân thủ pháp luật thông thường. Tính trách nhiệm với cộng đồng trở thành một tính chất quan trọng trong bản thân khái niệm TNXH. Tuy nhiên, vào thập niên 70 này, 13 doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chủ động thực hiện các vai trò xã hội của mình do sức ép từ cộng đồng chưa thực sự đủ lớn để làm thay đổi hoàn toàn nhận thức và hành động của doanh nghiệp. Nhà nghiên cứu Frederick gọi những năm 1980 là sự khởi đầu của giai đoạn của “đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp”, trong đó đã tập trung vào thúc đẩy nền văn hóa đạo đức của công ty. Phát triển so với thập kỷ trước, việc kết hợp chặt chẽ TNXH với các hoạt động tài chính công ty đã trở thành một việc làm được các doanh nghiệp chú trọng hơn. Yếu tố đạo đức trong kinh doanh và việc kết hợp hoạt động tài chính là hai chủ điểm quan trọng của TNXH trong giai đoạn này. Đến những năm 90 của thế kỷ 20 các nhà chính trị muốn có một sự đổi mới trong tư duy và doanh nghiệp phải tham gia nhiều hơn vào các hoạt động. Đã có một sự trao quyền và điều chỉnh trong thời kỳ này để bản thân các doanh nghiệp nhận thấy sự gia tăng yêu cầu về trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp mình ở một mức độ cao hơn hẳn so với những thời kỳ trước đó. Tuy nhiên phải đến hội nghị về “Phát triển bền vững trên thế giới” được tổ chức tại Rio de Janero (Braxin) năm 1992, vấn đề này mới chính thức thu hút được sự quan tâm của cả cộng đồng và các tổ chức cá nhân. 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Đây cũng là tiền đề có ý nghĩa bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển và phổ biến rộng rãi hơn của khái niệm TNXH của doanh nghiệp. Phát triển bền vững trở thành một nội dung quan trọng của TNXH và vấn đề này tiếp tục được phát triển cho đến giai đoạn sau. 14 Đầu những năm 2000, sự phá sản của tập đoàn năng lượng khổng lồ Eron báo động thời kỳ khủng hoảng tài chính chính thức diễn ra trên toàn thế giới vào năm 2008. Vụ việc Enron cùng một loạt biến cố tài chính khác dẫn đến sự quan ngại về đạo đức doanh nghiệp với sự thiếu minh bạch trong hoạt động của các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới.Việc này đã phần nào ảnh hưởng đến TNXH, mặc dù TNXH tiếp tục hành trình trở thành một khái niệm có tính hợp pháp doanh nghiệp, nhưng sự xuất hiện và sự lo lắng về đạo đức kinh doanh đã phần nào hạn chế sự tiếp tục tăng trưởng và phát triển của chủ đề trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên những tiến bộ đáng kể vẫn đã được thực hiện , đặc biệt là ở Anh và lục địa châu Âu [33, tr. 60]. Cho đến đầu những năm 2000, phát triển bền vững trở thành một phần không thể thiếu của tất cả các cuộc thảo luận về TNXH. Đồng thời với đó, TNXH trong giai đoạn những năm 2000 có một bước phát triển trong nội hàm, bên cạnh các vấn đề về môi trường, cộng đồng xã hội, phát triển bền vững… khái niệm TNXH trong giai đoạn này còn quan tâm đề cập đến một nhân tố rất quan trọng, đó chính là trách nhiệm của doanh nghiệp với đối tác, những bên liên quan trong hoạt động của họ. Việc thực hiện trách nhiệm với các đối tác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp đảm bảo lợi ích lâu dài cho cả hai bên và xã hội nói chung. Trong quãng thời gian đầu xuất hiện, TNXH được thực hiện thông qua thành ý cá nhân của những người chủ, người quản lý doanh nghiệp muốn làm những việc tốt cho xã hội, thể hiện qua các hành động từ thiện đóng góp cho cộng đồng của cá nhân họ và doanh nghiệp của họ. Đây là hoàn toàn là việc làm mang tính cá nhân chứ chưa chịu nhiều tác động từ ngoại cảnh và sức ép xã hội. Doanh nhân và doanh nghiệp làm từ thiện một cách tự nguyện và không trông mong vào những lợi ích trở lại dành cho doanh nghiệp. 15 Thập niên 60 và thập niên 70 của thế kỷ 20, do sức ép của các phong trào xã hội về nhân quyền, bảo vệ môi trường tự nhiên và đòi hỏi từ phía chính quyền về trách nhiệm của doanh nghiệp…các doanh nghiệp dần nhận thấy sự kỳ vọng của xã hội dành cho mình và đã có những động thái tham gia vào các hoạt động TNXH. Việc mở rộng các nội dung hoạt động trong khái niệm TNXH trong thời kỳ này cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp có thể phát huy nhiều hơn vai trò của mình trên các phương diện xã hội. Thời kỳ này việc thực thi TNXH của các doanh nghiệp dù vẫn dựa trên cơ sở tự nguyện là chủ yếu nhưng cũng đã bị chịu ảnh hưởng bởi những tác động từ môi trường ngoại cảnh xung quanh. Tuy nhiên, động lực dành cho doanh nghiệp thực hiện TNXH vẫn chưa nhiều vì họ vẫn chưa kết nối được việc làm TNXH sẽ dẫn đến những lợi ích cho doanh nghiệp của họ. Nói cách khác, trách nhiệm xã hội được thúc đẩy chủ yếu bởi bên ngoài, động cơ ý thức xã hội ,và các doanh nghiệp không tìm kiếm bất cứ điều gì cụ thể trở lại bên trong cho doanh nghiệp. Những năm 80, do đã có những phát triển trong việc nghiên cứu và mở rộng khái niệm TNXH, ngoài những ảnh hưởng tích cực mang lại cho cộng đồng, doanh nghiệp dần nhận thức được lợi ích kinh tế cho chính doanh nghiệp khi thực thi TNXH (tăng năng suất lao động khi sử dụng hệ thống sản xuất thân thiện môi trường, giảm chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân viên khi có một chính sách nội bộ tốt, tăng doanh thu khi có thể tận dụng được nguồn lao động địa phương…). Doanh nghiệp đã có những chú trọng hơn trong việc thực hiện TNXH. Giai đoạn này, đã có những động lực từ bên trong doanh nghiệp thúc đẩy họ tham gia và thực hiện các chính sách TNXH. Đến những năm 90, sức ép từ phía chính quyền muốn các doanh nghiệp chủ động hơn vào các hoạt động xã hội và có sự gia tăng yêu cầu về TNXH của doanh nghiệp cao hơn hẳn so với những thời kỳ trước đó, thực tế này đã 16 khiến doanh nghiệp được đưa vào tình thế “phải” thực hiện TNXH nếu muốn duy trì mối quan hệ tốt với chính quyền. Hơn thế nữa, giai đoạn này ngoài chất lượng sản phẩm, xã hội cũng chú trọng hơn đến hình ảnh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các công tác xã hội. Thực hiện TNXH tốt chính là một kênh hoàn hảo để xây dựng hình ảnh đẹp đến với công chúng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, xu thế phát triển bền vững ra đời và song hành cùng TNXH như là một trong những tiêu chí của TNXH cũng thúc đẩy các doanh nghiệp vì phát triển theo hướng bền vững cũng là một con đường tương lai mà doanh nghiệp nào cũng muốn theo đuổi. Bước sang thế kỷ 21, thời kỳ cạnh tranh ngày càng khó khăn, việc xây dựng hình ảnh đẹp trong mắt công chúng càng quan trọng và TNXH trở thành một công cụ cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp giờ đây thực hiện TNXH không những vì xã hội nói chung mà còn vì chính doanh nghiệp của họ. Việc phá sản của tập đoàn năng lương khổng lồ Enron của Mỹ là báo hiệu cho cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài từ năm 2008 cho đến nay, phần nào làm cho công chúng mất lòng tin vào hệ thống doanh nghiệp. Chính vì vậy việc minh bạch tài chính kinh doanh, xây dựng một chính sách nội bộ tốt, quan hệ tốt với các đối tác kinh doanh và thực hiện các hoạt động đóng góp cho cộng đồng xã hội…là một việc làm thiết thực của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại. Thực hiện tốt TNXH một cách toàn diện là doanh nghiệp đã gây dựng cho bản thân doanh nghiệp một hình ảnh, một tương lai vững chắc và đóng góp cho xã hội những giá trị tích cực Giai đoạn trước và những năm 50 của thế kỷ 20 nhìn chung chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến TNXH, phần lớn các nghiên cứu trong giai đoạn này đề cập đến đạo đức trong kinh doanh – yếu tố bắt nguồn của TNXH. Tác phẩm nổi bật về THXH trong thời kỳ này là cuốn sách của tác giả Bowen “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” ra đời năm 1953. Cuối 17 năm 1958, tác giả Theodore Levitt khép lại thập niên 1950 bằng một bài báo cảnh báo thế giới kinh doanh về sự nguy hiểm của trách nhiệm xã hội. Levitt e ngại rằng sự chú ý đến trách nhiệm xã hội sẽ làm giảm động cơ lợi nhuận điều rất cần thiết cho sự thành công kinh doanh. Nhưng bất chấp cảnh báo của Levitt, TNXH vẫn phát triển phổ biến và hình thành trong những năm 1960. Giai đoạn chuyển tiếp từ những năm 1960 chuyển vào những năm 1970 ,các doanh nghiệp trong thời điểm này vẫn chưa có những động thái mạnh mẽ hơn trong việc thực hiện TNXH nhưng lại có một sự phát triển đáng kể trong việc nghiên cứu các cơ sở lý luận về TNXH. Chủ đề nổi bật được đề cập đến trong giai đoạn này là việc các tài liệu TNXH mở rộng đáng kể trong những năm 1960 và có xu hướng tập trung vào các vấn đề về ý nghĩa thực sự của trách nhiệm xã hội và tầm quan trọng của nó trong kinh doanh và xã hội. Giai đoạn này đã có thêm nhiều những cách hiểu và định nghĩa cũng như những nghiên cứu về TNXH được đưa ra. Các định nghĩa chính thức về trách nhiệm xã hội bắt đầu ra đời mạnh mẽ trong những năm 1970, và quỹ đạo chung là hướng tới sự nhấn mạnh về hiệu quả đối với xã hội của doanh nghiệp. Đồng thời với TNXH, thập niên 1970 cũng là thập kỷ ra đời những khái niệm liên quan và song hành của TNXH như “Sự đáp ứng xã hội của doanh nghiệp – Corporate social responsiveness” và “Corporate social performance – Hiệu quả xã hội doanh nghiệp” . Năm 1970 là năm ra đời của một trong những luận điểm gây nhiều tranh cãi về TNXH của tác giả Friedman Milton trong bài viết “TNXH của doanh nghiệp là làm tăng lợi nhuận của doanh nghiêp” đăng trên tạp chí New York Times ngày 13 tháng 9 năm 1970. Luận điểm này đồng thời cũng được coi là một trong những nguồn trích dẫn nhiều nhất về TNXH khi vấn đề này được đưa ra nghiên cứu. Tác giả Friedman cho rằng ”Chỉ có một và chỉ một TNXH của doanh nhân – đó là sử dụng nguồn lực của họ và tham gia vào các 18
- Xem thêm -