Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi tại huyện tân châu- tỉnh an giang năm 2009

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Ước mơ lâu đời của loài người là sống trường thọ, hơn nửa thế kỷ trước đây người ta còn nói với nhau rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (người thọ 70 xưa nay hiếm). Thế nhưng cùng với sự tiến bộ về khoa học công nghệ, đời sống vật chất của con người ngày càng hoàn thiện, các kỹ thuật y học ngày càng tiến bộ, tuổi thọ của con người ngày càng tăng, dẫn đến số người cao tuổi trong cộng đồng ngày càng tăng tạo ra quá trình tích tuổi. Quá trình tích tuổi trong dân cư đã đặt loài người trước thách thức mới, một loạt vấn đề phức tạp về tâm lý xã hội nhu cầu phục vụ đời sống bảo vệ sức khoẻ, chăm sóc lúc đau ốm,…. Đứng trước hiện tượng mới này, ngay các nước tiên tiến về mặt kinh tế khoa học kỹ thuật, tổ chức xã hội cũng chưa được chuẩn bị đầy đủ, đang còn trong thời kỳ tìm kiếm phương án giải quyết đồng bộ và tối ưu. Trong tiến trình lão hoá, con người có những biến đổi sâu sắc về hình thái, cấu trúc sinh hoá các tế bào cũng như về hoạt động chức năng của các nội tạng. Do những biến đổi này, một chế độ dinh dưỡng phù hợp với cơ thể khi còn ở lứa tuổi trẻ dần dần trở nên không thích hợp đối với lứa tuổi trung niên. Ðến lứa tuổi từ 60 trở lên nếu không được điều chỉnh một cách tương xứng, thực hiện chế độ ăn không tốt sẽ không đảm bảo trạng thái sức khoẻ bình thường, vì đã chứa đựng những yếu tố gây bệnh, có nhiều bất ổn dẫn đến bệnh tật, gây tàn phế hoặc tử vong [27],[76], [83]. Người cao tuổi là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt về dinh dưỡng vì cơ thể thường đã bị lão hoá. Chức năng của các cơ quan, bộ phận đều bị suy giảm và thường hay mắc các bệnh mạn tính. Chế độ ăn và cách ăn uống sao cho phù hợp với người cao tuổi là hết sức quan trọng [75]. Vì vậy, nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng người cao tuổi là đáp ứng tính giá trị xã hội. 2 Việt Nam cũng đang đối mặt với quá trình tích tuổi, quan tâm đến vấn đề này Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, chiến lược để cả cộng đồng cùng thực hiện chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho người cao tuổi. Nhưng mỗi địa phương đều có những đặc điểm khác nhau, nên cần có những nghiên cứu về người cao tuổi theo từng vùng và lãnh thổ khác nhau. Huyện Tân Châu – tỉnh An Giang là huyện cù lao ở biên giới Tây – Nam Việt Nam giáp với nước bạn Campuchia và thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu vẫn mang đặc điểm khí hậu và hoạt động sinh hoạt nông nghiệp của vùng đồng bằng. Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, số người cao tuổi đang ngày một gia tăng, nhưng hiện chưa có nghiên cứu nào xác định tình trạng dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân- béo phì của người cao tuổi tại địa phương, cũng như tìm hiểu các yếu tố liên quan để kịp thời cải thiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại địa phương trong những giai đoạn tiếp theo, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình trạng dinh dƣỡng ở ngƣời cao tuổi tại huyện Tân Châu- tỉnh An Giang năm 2009” với hai mục tiêu cụ thể như sau. 1. Phân loại tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi. 2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi tại huyện Tân Châu- tỉnh An Giang, năm 2009. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.KHÁI NIỆM VỀ NGƢỜI CAO TUỔI Cho tới nay vẫn còn thiếu một định nghĩa đầy đủ về tuổi già. Có thể gọi người già hay người cao tuổi (NCT) là những người mà khả năng chức phận cơ thể suy giảm dẫn tới giảm rõ rệt khả năng lao động trí óc và chân tay cùng với các biểu hiện bên ngoài. Việc phân chia già trẻ theo tuổi không phản ánh tính chính xác quá trình sinh học. Có người nhiều tuổi nhưng trong vẫn trẻ, khoẻ mạnh. Trái lại cũng có người chưa nhiều tuổi nhưng đã có nhiều biểu hiện của sự già. Tiến trình lão hoá do rất nhiều nguyên nhân đã và đang được nghiên cứu. Vì vậy, sự phân chia theo tuổi chỉ có tính chất ước lệ và chỉ có giá trị tương đối [9],[32],[35],[57]. Hiện nay khái niệm tuổi già hay người cao tuổi được một số nước trên thế giới, trong đó có một số nước châu Âu và ngay cả nước Mỹ đã đề nghị sử dụng đối với người trên 65 tuổi [32], [83],[86]. Theo Tổ chức y tế thế giới, sự sắp xếp các lứa tuổi như sau: - 45 đến 59: tuổi trung niên - 60 đến 74: người nhiều tuổi - 75 đến 90: tuổi già - Trên 90 : người già sống lâu Cách quy định trên đây hiện đang được nhiều nước áp dụng [32],[35]. Ở Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký sắc lệnh công bố Pháp lệnh Người Cao Tuổi vào ngày 12/05/2000 [73]. Sau 9 năm thực hiện pháp lệnh, Quốc Hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã hệ thống, chỉnh sửa và công bố thay thế pháp lệnh bằng Luật Người cao tuổi vào ngày 23/11/2009 [54]. Trong đó, quy định rõ: “ Người cao tuổi (NCT) được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. 4 1.2. TÌNH HÌNH VÀ QUY MÔ DÂN SỐ NGƢỜI CAO TUỔI 1.2.1. Số ngƣời cao tuổi trên thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới ( WHO) năm 1950, người cao tuổi mới chỉ có 214 triệu, năm 1970 số người 60 tuổi trở lên trên toàn cầu là 291 triệu, chiếm 8% toàn dân số thế giới. Năm 1975 đã là 346 triệu, đến năm 2000 là 590 triệu. Tỷ lệ này tăng nhanh hơn ở các nước đang phát triển, từ 5,4% lên 7%, từ 137 triệu năm 1970 lên 354 triệu năm 2000, có nghĩa tăng 2,6 lần [32]. Năm 2008, theo báo cáo thống kê của WHO số người trên 60 tuổi đã chiếm tỷ lệ 11% dân số toàn cầu. Trong đó, khu vực châu Âu có tỷ lệ cao nhất đã lên đến 19%, vùng Tây Thái Bình Dương 12% và thấp nhất là Châu Phi chỉ có tỷ lệ 5% dân số [88]. Riêng tại Mỹ, số người trên 65 tuổi đã là 38,9 triệu người chiếm tỷ lệ 12,8% dân số toàn nước Mỹ [86]. Mức tăng hàng năm của tỷ trọng người cao tuổi là 2,6%, nhanh gấp ba lần mức tăng dân số. Dự báo đến năm 2045 lần đầu tiên số lượng người già sẽ vượt số lượng trẻ em. Tại hầu hết các quốc gia, dân số trên 80 tuổi tăng nhanh hơn các nhóm tuổi khác và sẽ tiếp tục tăng nhanh cho tới năm 2050, điều này cho thấy một nhu cầu đang tăng về chăm sóc lâu dài [32]. Hiện nay, tuổi trung vị của thế giới là 28 tuổi. Nigeria thuộc miền trung bắc châu Phi là quốc gia có dân số trẻ nhất với tuổi trung vị là 15; Nhật Bản là quốc gia có dân số già nhất với tuổi trung vị là 44. Trên toàn thế giới, tuổi trung vị sẽ tăng lên 10 tuổi trong 4 thập kỷ tới [32]. Điều này làm tăng thêm nhu cầu về chăm sóc và gánh nặng cho nhóm dân số trong độ tuổi lao động nhằm hỗ trợ những người nghỉ hưu. Xu hướng này sẽ tác động tới tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, thị trường lao động, lương hưu, thuế, đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng tới thu xếp cuộc sống, nhu cầu nhà ở, di cư và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Tiến trình già hoá dân số là một hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra ở tất cả các lãnh thổ trên thế giới và ảnh hưởng đến các quốc gia, dân tộc. Dân 5 số cao tuổi ở nhiều nước trên thế giới đang tăng nhanh và sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới, cả về số lượng cũng như tỷ lệ trong tổng dân số. Xu hướng dân số này chủ yếu là do tác động của tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ ngày càng tăng [70],[78]. 1.2.2. Ảnh hƣởng tuổi thọ của con ngƣời lên dân số ngƣời cao tuổi về giới Tuổi thọ trung bình của con người là hy vọng sống ở vào lúc mới sinh. Số người cao tuổi tăng và tỷ lệ người cao tuổi trong dân số chung tăng là do tuổi thọ trung bình được nâng cao[32],[84]. Bảng 1.1. Nước có tuổi thọ trung bình cao nhất và thấp nhất (2005) [69] Cao nhất Thấp nhất Nhật 82 Bốt-soa-na Ai-xơ-len 81 Lê-sô-tô Thuỵ Điển 81 Soa-di-lân Ôx-trây-li-a 80 Dăm-bi-a Ca-na-đa 80 Ăng-gô-la Pháp 80 Si-ê-ra Lê-ôn I-ta-li-a 80 Dim-ba-bu-ê Na-uy 80 Áp-ga-ni-xtan Tây Ban Nha 80 Li-bê-ri-a Thuỵ sĩ 80 Mô-dăm-bích Bảng 1.2.Tuổi thọ trung bình theo giới (năm 1980) [69] Nƣớc Bungari Balan Cộng hoà dân chủ Đức (củ) Rumani Tiệp khắc Hungari Cuba Liên Xô (củ) Mông cổ Nam 68,70 66,90 68,60 67,40 66,70 66,64 66,30 64,00 64,00 35 35 35 37 40 40 41 42 42 42 Nữ 73,90 75,50 74,40 72,00 73,60 72,42 73,50 74,00 65,00 6 Nhìn chung nữ giới cao tuổi thọ cao hơn nam giới, tình trạng đó dẫn đến tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ trong số người cao tuổi [32]. Bảng 1.3. Số nam có so với 100 nữ theo độ tuổi, loại nước Năm Dự báo 2025 1975 Nƣớc đang Nƣớc Nƣớc đang Nƣớc phát triển phát triển phát triển phát triển 60 - 69 96 74 94 78 70 - 79 88 62 86 75  80 78 48 73 53 Độ tuổi Ở các nước đang phát triển số nam thấp hơn nữ không nhiều bằng ở các nước phát triển. Ví dụ vào năm 1975 ở độ tuổi 60-69 tuổi cứ 100 nữ thì có 96 nam ở các nước đang phát triển và 74 nam ở các nước phát triển. Ở các nước phát triển từ lứa tuổi 80 trở đi, cứ khoảng 2 nữ thì có 1 nam. So sánh giữa hai thời kỳ 2025 và 1975 thì số nam ở các nước đang phát triển giảm dần 96 còn 94 và 88 còn 75, trong lúc đó ở các nước phát triển tỷ số đó tăng dần (từ 74 lên 78, và từ 62 lên 75, và từ 48 lên 53) [32]. Riêng tại Mỹ, số người trên 65 tuổi đã có tỷ lệ 136 nữ (22,4 triệu người) so với 100 nam (16,5 triệu người) trong năm 2008. Tỷ lệ nữ với nam này tăng lên theo từng nhóm tuổi, nếu ở nhóm 65- 74 tuổi là 114 thì tăng lên 207 ở nhóm từ 85 tuổi trở lên [86]. 1.2.3. Ngƣời cao tuổi ở Việt Nam Qua số liệu thống kê cơ sở và các đợt tổng điều tra dân số các năm 1979, 1989, 1999, cho thấy số lượng người cao tuổi ở Việt Nam ngày càng tăng và tỷ lệ so với tổng dân số cũng tăng. 7 Bảng 1.4.Một số đặc điểm về người cao tuổi ở nước ta [4],[5],[32]. Tuổi thọ trung bình  60 tuổi  100 tuổi 1960 (Ở Miền Bắc) 814.591 (5%) 710 30,0 1974 (Ở Miền Bắc) 1.645.659 (6,9%) 903 58,0 Năm Dân số Nam Nữ Chung 1979 52.806.090 3.728.110(7,06%) 2.731 63,6 67,8 66,7 1989 64.429.624 4.632.490(7,19%) 2.432 65,7 69,3 68,2 1999 76.327.919 6.201.000(8,12%) 3.695 66,5 70.1 68,9 70,2 75,6 72,8 2009 [4] 86.789.573 9,0% Do tỷ lệ người già tăng lên trong khi tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh trong 10 năm qua, “chỉ số già hoá” của dân số Việt Nam đã tăng 11 điểm phần trăm sau 10 năm (từ 24,5% năm 1999 lên 35,9%). Chỉ số già hoá của nước ta hiện nay cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%), tương đương với mức già hoá của In-đô-nê-xia và Phi-líp-pin, nhưng thấp hơn mức của Xinh-ga-po (85%) và Thái Lan (52%) [4]. Cần lưu ý rằng người cao tuổi là một lực lượng vẫn còn có thể đóng góp sức lao động chứ không phải “chân yếu tay run” và không làm được việc gì. Thực tế, ngày càng nhiều người cao tuổi tham gia các công việc quan trọng trong xã hội sau khi đã về hưu: tình nguyện viên, truyền đạt kinh nghiệm và kiến thức cho người trẻ, giúp đỡ gia đình các công việc nhà… Ở Châu Phi, những bệnh nhân AIDS được cha mẹ họ chăm sóc, khi họ qua đời con của họ lại tiếp tục được ông bà chăm sóc. Ở Tây Ban Nha, người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, đã chăm sóc các bệnh nhân, những người không nơi nương tựa. Những đóng góp to lớn ấy chỉ có thể được bảo đảm nếu người cao tuổi có đầy đủ sức khoẻ. Tuy nhiên, một trong những mối lo ngại lớn hiện nay là cùng với sự già đi của dân số là sự gia tăng các bệnh mạn tính ở người cao tuổi: bệnh tăng 8 huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường, alzheimer, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính… Theo thống kê, phần lớn người cao tuổi lại đang sống tại các nước đang phát triển. Để người cao tuổi vẫn có thể tham gia tích cực đóng góp sức lao động cần phải có những chính sách phù hợp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi. Hội nghị Toàn cầu về tích tuổi lần 7 ở Singapore, Tổ chức Sức khoẻ Thế giới đã khuyến cáo thực hiện “Chăm sóc sức khoẻ ban đầu thân thiện với lứa tuổi” tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu của cộng đồng với nhiệm vụ là truyền thông giáo dục sức khoẻ; huấn luyện kỹ năng, thói quen, hành vi có lợi đối với sức khoẻ cho người cao tuổi và chăm sóc khoẻ cho họ. Theo Tổ chức Sức khoẻ Thế giới: “Người cao tuổi khoẻ mạnh chính là một nguồn lực quan trọng cho gia đình, cộng đồng và nền kinh tế”. Chính vì lẽ đó cần có nhiều nghiên cứu về tích tuổi và đề ra các giải pháp kéo dài cuộc sống khoẻ cho người cao tuổi. Đảng, Quốc Hội, Nhà Nước và Chính Phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản để khẳng định vai trò của người cao tuổi trong xã hội và đề ra nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe người chủ tuổi [3],[78]. Để thực hiện các chủ trương và chính sách đó, ngày 05/8/2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định về việc thành lập Uỷ Ban quốc gia về Người Cao tuổi Việt Nam [59]. Đến ngày 21/ 11/ 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2005-2010. Trong mục tiêu cụ thể của chương trình hành động có nêu: “ Tăng cường sức khoẻ về thể chất và tinh thần của người cao tuổi, nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi” và trong các hoạt động chủ yếu để thực hiện Chương trình thì có mục: “ d/ Hoạt động nâng cao sức khoẻ” cho Người cao tuổi [60]. Đồng thời, ngày 26/05/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định chọn ngày sáu tháng sáu hằng năm làm “Ngày truyền thống Người Cao tuổi Việt Nam” [61]. 9 1.3. BIẾN ĐỔI VỀ HÌNH THÁI TRONG QUÁ TRÌNH TÍCH TUỔI 1.3.1. Biến đổi về chiều cao của cơ thể Chiều cao đứng cho biết hình thái, thể lực cũng như tầm vóc của mỗi người. Riêng chiều cao đứng không cho phép đánh giá dinh dưỡng mà nó phải kết hợp với một hay nhiều kích thước, nhất là cân nặng để lập ra chỉ số dinh dưỡng và thể lực [2],[28],[81],[82]. Chiều cao của cơ thể đạt mức tối đa khi sự phát triển được hoàn tất, thời điểm này được đánh dấu bằng sự xương hoá ở các sụn đầu xương (cartilages épiphysaires) vào lứa tuổi từ 18-21 đối với người Châu Âu, có thể muộn hơn ở người Châu Á. Sau đó chiều cao giảm dần trung bình cứ sau 10 năm thì giảm độ 1cm. Ví dụ: ở một người mà sự phát triển đạt mức hoàn chỉnh lúc 28 đến 30 tuổi, nếu người ấy sống đến 80 tuổi tức 50 năm sau khi trưởng thành thì lúc ấy chiều cao của cơ thể có thể giảm bớt 5cm. Sự giảm thiểu này chịu ảnh hưởng lớn lao của nề nếp của hoạt động thể lực, truyền thống luyện tập, tập quán ăn uống. Do đó các số liệu có thể rất khác nhau tuỳ theo dân cư, địa phương, cá nhân [35],[81]. 1.3.2. Biến đổi về cân nặng của cơ thể Cân nặng là một kích thước tổng hợp cơ bản không thể thiếu được để đánh giá về nhiều mặt như thể lực, dinh dưỡng, sự tăng trưởng. Tuy nhiên, riêng cân nặng không cho phép đánh giá thể lực hay dinh dưỡng mà nó phải kết hợp với một hay nhiều kích thước khác như chiều cao để lập ra các chỉ số đánh giá thể lực, hay dinh dưỡng [2],[28],[81],[82]. Ở người khoẻ mạnh khối lượng của cơ thể đạt mức tối đa vào tuổi 50, giữ mức tương đối ổn định cho đến lứa tuổi 70, sau đó giảm dần [35],[81]. Những biến động trong các tham số về chiều cao và cân nặng là phản ánh tổng quát và đại thể của những biến đổi do tích tuổi tế bào, phân tử và dưới phân tử. Có thể xác nhận biến đổi này qua các tham số về biến đổi cấu trúc và biến đổi chuyển hoá [81],[82],[84[. 10 1.4. KHÁI NIỆM VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [28]. TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tuỳ theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý,… và mức độ hoạt động của thể lực và trí lực. TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và hoạt động của cơ thể, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thừa hoặc thiếu dinh dưỡng) là có thể hiện vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai. TTDD của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng, mà ta có thể so sánh với các số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác [28]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc (FAO) đều khuyến nghị dùng Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index=BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành. Công thức tính: Cân nặng (kg) Cách tính BMI = (Chiều cao)2 (m) Bảng 1.5. Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WHO [81],[87]. Khoảng BMI Phân Loại < 18,5 SDD 18,5 - 24,99 Bình thường 25 - 29,99 Thừa cân 30 - 34,99 Béo phì độ 1 35 - 39,99 Béo phì độ 2 ≥ 40 Béo phì độ 3 11 Theo tiểu ban công tác về béo phì của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình dương (WPRO) và Hội Đái tháo đường Châu Á, các nguy cơ của béo phì tăng lên ở ngưỡng BMI thấp hơn so với phân loại quốc tế, do đó đã đề nghị thang phân loại sau: Bảng 1.6. Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WPRO Khoảng BMI Phân Loại < 18,5 SDD 18,5 - 22,99 Bình thường 23 - 24,99 Thừa cân 25 - 29,99 Béo phì độ 1 30 - 34,99 Béo phì độ 2 ≥ 35 Béo phì độ 3 Ngoài ra, để đánh giá mức độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của một quần thể trong cộng đồng [2], Tổ chức Y tế Thế giới (WHO- 1995) đã khuyến nghị dùng các ngưỡng sau đây : - Tỷ lệ thấp 5- 9% quần thể có BMI < 18,5 - Tỷ lệ vừa 10- 19% quần thể có BMI <18,5 - Tỷ lệ cao 20- 39% quần thể có BMI <18,5 - Tỷ lệ rất cao ≥40% quần thể có BMI <18,5 1.5. SUY DINH DƢỠNG 1.5.1. Khái niệm suy dinh dƣỡng Suy dinh dưỡng là tình trạng gây ra do sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà cơ thể cần thiết, việc này có thể là do ăn quá ít hoặc ăn không đồng đều các thực phẩm căn bản như đạm, chất béo, chất bột đường, các vitamin và khoáng vi lượng khác. Ngoài ra, còn có thể do cấu trúc cơ thể thay đổi dẫn đến kém hấp thu hoặc không hấp thu các chất dinh dưỡng[16],[20]. Mặc dù gọi là suy dinh dưỡng protein năng lượng, nhưng đây không 12 chỉ là thiếu protein và thiếu năng lượng mà còn thường kết hợp thiếu nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng. Bệnh thường thấy ở trẻ nhỏ, nhưng cũng có thể thấy ở trẻ lớn và nhất là rất nhiều người cao tuổi cũng mắc phải không phải do nguồn cung các chất dinh dưỡng thiếu, mà chủ yếu là thiếu nguồn vi chất dinh dưỡng dẫn đến kém hấp thu gây nên suy dinh dưỡng. Chính vì vậy, nên thống nhất dùng từ chung là suy dinh dưỡng ở người cao tuổi. 1.5.2. Suy dinh dƣỡng ở ngƣời cao tuổi Ở người cao tuổi, các hoạt động chuyển hoá và dinh dưỡng bị suy giảm. Khả năng cảm thụ cũng bị giảm: mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi kém, vị giác, xúc giác không nhạy. Lượng men tiêu hoá, nhu động ruột, hoạt động gan thận giảm. Chức năng chuyển hoá giải độc kém. Tất cả đều ảnh hưởng đến sự tiêu hoá thức ăn [46]. Bắt đầu từ tuổi 60, trọng lượng cơ thể giảm trung bình 0,5% mỗi năm. Cấu tạo cơ thể cũng bị ảnh hưởng bởi tuổi tác: mô mỡ tăng và khối lượng cơ giảm khi tuổi tăng [38]. Người cao tuổi hoạt động ít hơn, nên khối cơ cũng giảm đi 1/3 so với thời trẻ. Từ 30 đến 40% NCT trên 75 tuổi giảm hơn 10% thể trọng. ở Mỹ, đã có khoảng 5% đến 12% NCT bị suy dinh dưỡng ở cộng đồng, chiếm 11% bệnh nhân NCT điều trị ngoại trú, 20% mang nhiều yếu tố nguy cơ trong quần thể NCT [84]. Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng là yếu tố quan trọng cho một sức khoẻ tốt của mọi người, mọi lứa tuổi, nhất là người cao niên. Đặc biệt, NCT thường bị suy dinh dưỡng là do thiếu nguồn cung cấp vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể, bởi chế độ dinh dưỡng không đa dạng và ít được quan tâm. Theo thống kê, có tới một phần ba (1/3) những người trên 65 tuổi bị suy dinh dưỡng, nhất là về chất đạm. Suy dinh dưỡng có ảnh hưởng quan trọng tới sức khoẻ, bệnh tật và là nguy cơ đưa tới tử vong của nhóm người cao tuổi [16]. 13 Suy dinh dưỡng ở người cao tuổi là do cân nặng giảm và được coi là bị sụt cân ngoài ý muốn khi giảm từ 5 đến 10% sức nặng cơ thể trong vòng sáu tháng tới một năm. Nên việc khám sức khoẻ định kỳ cho người cao tuổi nhất là giám sát cân nặng sẽ giúp phát hiện sụt cân bất thường liên quan đến các bệnh nguy hiểm nhất là ung thư, đái tháo đường,... [38],[82],[84]. Một số nghiên cứu cho thấy: sụt cân nhiều ngoài ý muốn kết hợp với một tỷ lệ tử vong là 25% trong vòng 18 tháng sau; sụt cân đáng kể ở người cao tuổi có tỷ lệ tử vong là 9 - 38% trong khoảng thời gian 2-3 năm sau [35],[38],[81],[83]. 1.6. THỪA CÂN- BÉO PHÌ 1.6.1. Khái niệm về thừa cân- béo phì Trong một thế giới mà sự cung cấp thực phẩm chỉ thực hiện từng đợt, sự tồn tại rất cần đến một khả năng dự trữ năng lượng dư chưa cần sử dụng ngay. Nên các kho mỡ dự trữ được phân phối rộng khắp cơ thể, nó dự trữ năng lượng dưới dạng triglycerid, khi cần nó phóng thích năng lượng dưới dạng các acid béo để vận chuyển và dễ sử dụng tại các nơi khác. Tuy nhiên, khi có nhiều dạng thực phẩm, có lối sống ít vận động hơn, cũng do ảnh hưởng của di truyền mà hệ thống sinh lý lại tăng hoạt động dự trữ mỡ, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ con người [83]. Thừa khối mỡ là bệnh rất phổ biến trong thời đại ngày nay, đặc biệt ở người cao tuổi, đó là bệnh thừa cân (overweight). Dịch tễ học hiện đại cho biết thừa cân là một yếu tố nguy cơ rất lớn, tác hại sâu xa, thúc đẩy trạng thái già trước tuổi, các bệnh nhiễm mỡ xơ mạch, bệnh tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường và các bệnh chứng cổ điển của chúng. Có nhiều khái niệm về thừa cân và béo phì. Tuy nhiên, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra định nghĩa về thừa cân và béo phì như sau: - Thừa là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. - Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [36].[83],[89]. 14 1.6.2. Khái niệm về béo bụng Ngoài cách phân loại thừa cân béo phì theo BMI mà Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình dương (WPRO) và Hội Đái tháo đường Châu Á khuyến cáo, tỷ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố mỡ. Do đó chỉ số này được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì. Khi tỷ số vòng eo/vòng mông vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì được coi là béo trung tâm [89]. Người ta còn nhận thấy số đo vòng eo thường không liên quan đến chiều cao, có liên quan chặt chẽ đến BMI và tỷ số vòng eo/vòng mông và vì thế được coi như là chỉ tiêu đơn giản để đánh giá số lượng mỡ bụng và mỡ toàn bộ cơ thể. Người ta thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng eo ≥ 90 cm đối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ [31],[87]. Chỉ số vòng bụng hay còn gọi là chỉ số vòng eo, được đo bằng thước dây không co dãn ngang hai điểm giữa của khoảng cách giữa xương sườn cuối và bở trên mào chậu phải và trái, theo đường nách giữa [2]. 1.6.3. Thừa cân béo phì và tăng huyết áp. Ở bệnh béo phì, khi có béo bụng (béo phì týp nam) liên quan trực tiếp đến bệnh tim mạch và đái tháo đường. Chết sớm ở bệnh nhân béo phì, nhất là ở nam giới, chủ yếu là do biến chứng thoái hóa mạch của bệnh tăng huyết áp[9]. Vì lẻ đó nghiên cứu về tình trạng thừa cân béo phì ở người cao tuổi, thật là thiếu sót nếu không nghiên cứu về tình trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi. Bệnh tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới. THA không chỉ có ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà cũng có ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), xếp THA là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu và là một bệnh phổ biến ở người cao tuổi [1], [16]. Phân độ THA theo báo cáo lần thứ VII của Liên Ủy Quốc Gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA năm 2003 (JNC VII). Tuy nhiên 15 trong khuyến cáo 2008 về chẩn đoán, điều trị tăng huyết áp ở người lớn, Hội Tim mạch học Việt Nam vẫn sử dụng cách phân loại đã công bố trong khuyến cáo năm 2007. Đây là khuyến cáo dựa vào phân loại của WHO/ISH năm 1999, năm 2005, JNC VI 1997 và đặc biệt của ESC/BSH 2003. Việc phân loại bao gồm: tối ưu, bình thường, bình thường cao, ba giai đoạn của tăng huyết áp nhẹ, vừa, nặng [26],[50]. Theo quan niệm hiện nay của TCYTTG thì huyết áp thấp hơn (HATT/HATTr=120/80mmHg) được xem là huyết áp tối ưu không gây hại cho sức khoẻ. 1.6.4. Thừa cân- béo phì ở ngƣời cao tuổi Tuổi tác lại làm biến đổi cơ thể theo chiều hướng dễ thừa cân, chiều cao giảm dần, khối cơ giảm đi, tích tụ mỡ bất thường. Hai đòn bẫy dọn đường đi đến thừa cân cần được xem xét một cách nghiêm khắc là thiếu vận động và ăn thừa. Tư liệu của Liên Xô củ cho biết hiện nay 2/3 dân cư không tập thể dục, cứ 2 người dân là có một người thừa cân,… ở những người cao tuổi tỷ lệ người thừa cân là 53% ở nam giới và 64% ở nữ giới (M. Mohr, 1975)[35]. Ngày nay, béo phì được biết đến như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở nhiều nước Đông Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Ở nhiều nước phát triển, tỷ lệ người béo lên tới 30 hoặc 40%, nhất là ở độ tuổi trung niên và chống béo phì trở thành một mục tiêu sức khỏe cộng đồng quan trọng. Ở Mỹ, tỷ lệ dân số thừa cân [Chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 25] hoặc béo phì (BMI ≥ 30) tăng một cách rõ rệt hơn 20 năm qua; năm 2000, có 67% nam giới thừa cân trong đó 27,7% béo phì, phụ nữ thừa cân ít hơn 62% nhưng béo phì nhiều hơn 34% [31]. Tỷ lệ thừa cân – béo phì thì cũng rất cao ở Australia, tỷ lệ thừa cân ở nam giới từ 44% năm 1992 lên 62,3% năm 1997 và 63% năm 1999 và ở nữ từ 30% năm 1992 lên 46,6% năm 1997 và 47% năm 1999. Ở hầu hết các nước Châu Âu, tỷ lệ béo phì người trưởng thành từ 10 – 25%. Theo cuộc điều tra về 16 sức khỏe năm 1998 ở Đức, tại Tây Đức: tỷ lệ thừa cân ở tuổi 18-79 tuổi là 52% ở phụ nữ và 67%ở nam giới, béo phì là 18% ở nam và 24,5% ở nữ, trong khi đó tỷ lệ thừa cân ở Đông Đức còn cao hơn ở Tây Đức. Béo phì thật sự là vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu ở các nước đã phát triển [31]. Không những ở các nước và khu vực nói trên nơi tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành dao động từ 13% đến trên 20% mà ngay cả ở những nước đang phát triển, thậm chí ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, thừa cân - béo phì đang có xu hướng tăng nhanh. Các điều tra gần đây ở Thái Lan cho thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì là 16%. Tỷ lệ béo phì ở Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc tương ứng là 16,5%; 8,6% và 4,3%. Đáng chú ý là gần đây Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái bình dương đã thống nhất khuyến nghị lấy ngưỡng BMI ≥ 23 được coi là thừa cân áp dụng cho người Châu Á [87]. Khuyến nghị đó dựa trên các nghiên cứu ở Châu Á cho thấy tỷ lệ mỡ cơ thể ở người Châu Á cao hơn hẳn so với người da trắng có cùng BMI. Chính tỷ lệ mỡ cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng béo phì và các hậu quả của nó. Ở nước ta, những thay đổi về ăn uống và lối sống đã quá rõ nét trong mấy năm trở lại đây, được phản ánh qua kết quả tổng điều tra dinh dưỡng năm 2000 do Viện Dinh dưỡng tiến hành. Một bộ phận dân cư đã tiêu thụ nhiều thức ăn động vật, nhất là thịt. Các thức ăn có chưa nhiều chất béo và thức ăn chế biến sẵn năng lượng cao cũng được tiêu thụ nhiều hơn. Đây là hệ quả thường thấy của phát triển kinh tế và phân bố thực phẩm trong nền kinh tế thị trường . Mặt khác, do điều kiện sống, điều kiện lao động đã có nhiều thay đổi như phương tiện đi lại (trước đây chủ yếu là xe đạp, nay chủ yếu là xe máy, ô tô, phương tiện công cộng), điều kiện làm việc (tĩnh tại),… đã góp phần làm tăng tỷ lệ thừa cân – béo phì và điều đáng lưu ý là tỷ lệ có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Trước năm 2000, tỷ lệ thừa cân ở nữ từ 45-49 tuổi ở khu vực thành phố trong toàn quốc là 9,9%. Nghiên cứu của Tạ Văn Bình và 17 cộng sự năm 2001 cho thấy tỷ lệ đối tượng có BMI ≥ 23 là 38,5%, trong đó số đối tượng có BMI ≥ 23 là 1,6% . Điều tra năm 2002 của Viện Dinh dưỡng của cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì đang tăng nhanh và trên các đối tượng thừa cân, béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hóa như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol, LDL-C,… [31]. Song song với thừa cân béo phì thì diển tiến của bệnh tăng huyết áp ngày càng phức tạp. Tỷ lệ người bị bệnh tăng huyết áp tại Việt Nam đang ngày càng tăng. Nếu như năm 1960, tỷ lệ người bị bệnh tăng huyết áp ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là 1% và hơn 30 năm sau (1992), thì tỷ lệ này đã là 11,7%, tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung bình 0,33%. Năm 2002, tỷ lệ người bi bệnh tăng huyết áp đã tăng đến 16,3%, trung bình mỗi năm tăng 0,46%. Tốc độ gia tăng về tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng tăng cao. Tỷ lệ THA ở vùng thành thị là 22,7%, nông thôn (12,3%). Với dân số 84 triệu người tính đến năn 2007, Việt Nam ước tính có khoảng 6,85 triệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người bị THA, nếu không có các biện pháp phòng chống triệu người Việt Nam bị THA [13]. Các biến chứng của THA là rất nặng nề như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa... Những biến chứng này có ảnh hưởng lớn đến người bệnh, gây tàn phế và trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất của gia đình bệnh nhân và xã hội. Bệnh tăng huyết áp là nguyên nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não (TBMMN) nhồi máu cơ tim, suy tim… Như vậy, hàng năm chúng ta phải chi một khoản kinh phí rất lớn tới cả ngàn tỷ đồng để trực tiếp điều trị bệnh và phục vụ những người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do TBMMN, nhồi máu cơ tim, suy tim … Thực hiện lối sống lành mạnh phù hợp là một biện pháp chính để phòng ngừa thừa cân béo phì cũng như bệnh tăng huyết áp. 18 1.7. VẤN ĐỀ NUÔI DƢỠNG NGƢỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM. Ở Việt Nam, điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khoẻ của người cao tuổi. NCT sống ở khu vực nông thôn có sức khoẻ tốt hơn. Điều này cho thấy môi trường sống ở khu vực đô thị ồn ào, náo nhiệt, ô nhiễm có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ NCT. Nhờ những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, sức khoẻ và đời sống của người cao tuổi tại các tỉnh đã được cải thiện rõ rệt. Sức khoẻ người cao tuổi tuy đã được nâng cao dần song tình trạng các cụ mắc phải các chứng bệnh nguy hiểm vẫn còn khá phổ biến [3]. Mặc dù trình độ học vấn hay chuyên môn của người cao tuổi đang ngày được nâng lên theo thời gian và thể hiện rõ qua các nhóm tuổi nhưng thực tế cho thấy vẫn có một số lượng không nhỏ các cụ vẫn còn mù chữ, đặc biệt là các cụ ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn. Chính hạn chế này đã gây nhiều khó khăn cho người cao tuổi khi tham gia vào các hoạt động xã hội, phát triển kinh tế gia đình. Công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng người cao tuổi hoạt động đơn lẻ, tự phát là phổ biến [3]. Điều kiện sống của người cao tuổi đang dần được cải thiện cùng với điều kiện sống của toàn xã hội. Tình trạng nhà ở của người cao tuổi tương đối tốt, tại các địa phương nhiều ngôi nhà tình nghĩa cho các cụ là người có công đã được xây dựng. Mức chi sinh hoạt hàng tháng tính bình quân cho 1 người cao tuổi ở nông thôn còn thấp và có sự chênh lệch lớn so với khu vực thành thị. Sự khác biệt về phát triển giữa các tỉnh đã có những ảnh hưởng rõ rệt đến điều kiện sống của người cao tuổi và khoảng cách này cần được thu hẹp. Đời sống văn hoá tinh thần của người cao tuổi hiện khá đa dạng và thường xuyên được cải thiện. Hoạt động văn hoá phổ biến của người cao tuổi là đọc sách, báo và nghe đài, xem tivi. Đây là những hoạt động văn hoá thông tin thường ngày của người cao tuổi và là những hoạt động thích hợp với NCT. Tuy nhiên các hoạt động này còn mang tính tự phát và đơn lẻ không có tổ chức [3]. 19 Mô hình gia đình nhiều thế hệ hiện nay đang được khuyến khích duy trì song việc dung hoà về lối sống, suy nghĩ giữa các thế hệ trong một gia đình luôn là vấn đề quan trọng. Tình trạng nhà ở chật chội, kinh tế của con cháu vẫn còn khó khăn cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cụ phải sống cô đơn song chiếm tỷ lệ không nhiều. Lý do con cái không muốn sống chung chiếm tỷ lệ nhỏ cần hạn chế tình trạng này, nhất là khi cơ chế thị trường đang có những ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống gia đình, đảm bảo cuộc sống gia đình cho người cao tuổi. Sự giúp đỡ của các thành viên trong gia đình hiện nay vẫn là chủ yếu, các tổ chức xã hội, các cơ quan đoàn thể vào cuộc vẫn chưa nhiều và chưa thực sự. Yếu tố kinh tế là một trong những nguyên nhân quan trọng tác động đến hình thức giúp đỡ của xã hôị đối với người cao tuổi. Các hình thức thăm hỏi động viên chiếm tỷ lệ cao ở khu vực nông thôn, còn giúp đỡ về vật chất ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn [3]. Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp và tác động của nền kinh tế thị trường trong mưu sinh cho cuộc sống, nên vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi tại gia đình vẫn còn nhiều bất cập. Người cao tuổi tại hộ gia đình chưa có chế độ ăn riêng, chưa được cập nhật các kiến thức về phòng chống các bệnh liên quan đến dinh dưỡng. 1.8. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ NUÔI DƢỠNG NGƢỜI CAO TUỔI 1.8.1. Chế độ ăn uống thích bợp Người cao tuổi trong gia đình cần có chế độ ăn riêng, những món ăn cho người già nên được chú ý từ khâu lựa chọn thực phẩm đến chế biến do khác biệt về đặc điểm cơ thể và nhu cầu dinh dưỡng [18]. Theo thời gian, một số bộ máy hoạt động của cơ thể NCT xuất hiện sự thay đổi. Các giác quan suy giảm hơn như: mắt nhìn mờ, mũi ngửi kém, cảm giác ở lưỡi cũng không còn nhạy làm cho việc ăn uống kém ngon. Hơn nữa, các chân răng bắt đầu yếu, cơ xương hàm teo nhão làm cho sức nhai bị giảm đi khá rõ. Các tuyến tiêu hóa, dạ dày, ruột gan đều giảm chức năng, dẫn đến 20 việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn bị ảnh hưởng, quá trình đào thải chất độc kém, táo bón xảy ra thường xuyên hơn. Hiểu biết những khó khăn trong ăn uống ở NCT, chúng ta có nhiều cách để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng phù hợp với đối tượng này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một đặc điểm ở NCT là do hoạt động ít, khối cơ bắp giảm nên nhu cầu về năng lượng và dinh dưỡng cũng giảm đi, vì vậy càng lớn tuổi càng ăn ít hơn lúc trẻ. Mục đích của dinh dưỡng lúc này là giúp cho NCT có được một cân nặng hợp lý nhất, để duy trì sức khỏe và không bị các nguy cơ của suy dinh dưỡng hay thừa cân, béo phì [19]. Ngoài việc ăn sao cho tốt, đúng khoa học, đảm bảo sức khỏe thì việc uống cũng không nên xem nhẹ. Nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể nên các cụ phải uống nước thường xuyên. Nguồn nước tốt nhất vẫn là nước lọc đun sôi để nguội. Ăn uống hợp lý, cân bằng là điều quan trọng để giúp các cụ tránh được nguy cơ phát triển bệnh tật, tăng tuổi thọ...[20]. Việc tham gia các tín ngưỡng là nhu cầu của số đông người cao tuổi, nhất là khu vực nông thôn. Tuy nhiên, tác động lớn đến vấn đề dinh dưỡng của người cao tuổi khi theo tín ngưỡng nào đó là việc thực hiện chế độ ăn chay tùy theo tôn giáo và cách thức thực hiện. Nếu theo đạo Hòa Hảo thì thường phải ăn chay trường (liên tục trong năm), theo đạo Cao Đài thì ăn chay tháng 10 ngày ( theo tháng âm lịch: ngày mùng 1, 8, 14,15, 18, 23, 24, 28, 29, 30, nếu tháng thiếu thì bắt đầu ăn chay ngày 27, 28, 29 và mùng 1), theo đạo Phật và Bữu Sơn Kỳ Hương thì ăn chay tháng 4 ngày (theo tháng âm lịch:14, 15 và 30, mùng 1 hoặc tháng thiếu 29, mùng 1) trừ các thầy tu, theo đạo Hồi thì mỗi năm thực hiện tháng ăn chay Ramadan (khoảng tháng 8 hằng năm). Ngoài ra, trong đời sống xã hội cũng có nhiều người có nhiều lý do để ăn chay và cách ăn khác nhau [14]. Đối với người cao tuổi nên hiểu rõ cách thức thực hiện ăn chay sau cho tốt, tránh thái quá dễ gây thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng hoặc thừa quá nhiều tinh bột dẫn đến các bệnh tật liên quan. Người cao tuổi cần phải ăn uống điều độ, nên ăn 3 hoặc 4 bữa ăn một
- Xem thêm -