Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã triệu long, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêu chảy, đặc biệt tiêu chảy cấp là một vấn đề sức khỏe đang được quan tâm rộng rãi trên thế giới [16).tiêu chảy là một bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, bệnh lây qua đường tiêu hóa. Bệnh thường gặp ở các khu dân cư có điều kiện sống không đảm bảo, trình độ dân trí thấp, kiến thức về phòng chống tiêu chảy còn hạn chế. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em các nước đang phát triển. Ở những nước này, người ta ước tính hàng năm có tới 1,3 ngàn triệu lượt trẻ em <5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy và 4 triệu trẻ chết vì bệnh này. Trên toàn thế giới, hàng năm, mỗi trẻ mắc 3,3 lượt tiêu chảy, nhưng ở một số vùng, mỗi năm trung bình mắc vượt quá 9 đợt Ở Việt Nam, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnh tiêu chảy đã có nhiều cải thiện, tuy nhiên tiêu chảy vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm. Theo thông báo dịch năm 2002, tiêu chảy vẫn là một trong 5 bệnh truyền nhiễm có số người mắc cao nhất [20]; [21]. Ngoài vấn đề tỉ lệ mắc và tử vong cao, bệnh tiêu chảy còn là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển về cả thể chất và tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác. Các chi phí thuốc, trang thiết bị và nhân lực cho vấn đề sức khỏe này là rất lớn, chưa tính đến thời gian sức lực mà mỗi gia đình phải mất. Như vậy tiêu chảy vẫn còn là gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia, gia đình và xã hội phải chi một khoản kinh phí không nhỏ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khi bị tiêu chảy. Hiện nay với các phương pháp điều trị tiêu chảy đơn giản và hiệu quả có thể làm giảm rõ rệt số lượng tử vong do tiêu chảy đồng thời làm giảm sự nhập viện không cần thiết của hầu hết các trường hợp. Các phương pháp này ngày càng được phổ biến rộng hơn tại cộng đồng, đã đóng góp thành công đáng kể 2 vào việc khống chế các bệnh tiêu chảy, làm giảm tỉ lệ mắc, tỉ lệ tử vong do tiêu chảy gây ra. Mọi hành vi về sức khỏe đều có giá trị rất lớn đến việc giảm tỷ lệ mắc và chết của một bệnh. Việc điều trị một bệnh chỉ được giải quyết một cách triệt để khi cá nhân đó nhận ra những gì cần phải làm để thay đổi hành vi sức khỏe có hại do chính mình gây ra [24]. Muốn thực hiện có hiệu quả công tác phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em tại một cộng đồng thì phải tìm hiểu các hành vi hiện có của các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi liên quan đến tỉ lệ mắc tiêu chảy của cộng đồng đó [38]. Tại Quảng Trị mặc dù chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy đã và vẫn được triển khai trong nhiều năm nay nhưng thời gian qua tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi còn khá phổ biến trong cộng đồng, đặc biệt là tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong do hành vi và việc thực hiện biện pháp phòng bệnh của các bà mẹ chưa thật kỹ lưỡng, do tập quán thói quen, sự hiểu biết, môi trường sống, các yếu tố khách quan…, vì vậy, sự hiểu biết của cộng đồng về các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy là rất quan trọng. Đứng trước thực tế đó, để tìm hiểu tình hình mắc bệnh tiêu chảy và các yếu tố liên quan, chúng tôi muốn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Triệu Long, huyện Triệu phong, tỉnh Quảng Trị. 2. Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh tiêu chảy trẻ em của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Triệu Phong, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. 3. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 3 tuổi tại địa phương nghiên cứu. 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. TIÊU CHẢY TRẺ EM 1.1.1. Định nghĩa bệnh tiêu chảy Tiêu chảy là hiện tượng đi cầu nhiều lần trong ngày, chủ yếu là phân nhão, lỏng hay nước. Độ rắn mềm của phân do thành phần nước trong phân quyết định: Phân có 85% nước gọi là nhão; phân có 88% nước gọi là lỏng: phân có 90% nước gọi là lỏng như nước [32]. Theo OMS, tiêu chảy được định nghĩa là đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước trên 3 lần trong 24 giờ, phân lỏng là phân không thành khuôn. Tuy nhiên rất khó đưa ra một định nghĩa chính xác về bệnh tiêu chảy, bởi vì số lần ỉa, khối lượng phân phụ thuộc nhiều vào chế độ ăn uống và thay đổi tập quán của mỗi nước. Các bà mẹ còn có thể dùng các từ ngữ khác nhau để mô tả tiêu chảy, chẳng hạn như: phân lỏng tóe nước, có máu hoặc mũi, hoặc có nôn. Điều lưu ý là đối với trẻ bú mẹ thường đi mỗi ngày một vài lần phân nhão thì không thể xem là tiêu chảy, đối với những trẻ này, xác định tiêu chảy thực tế là phải dựa vào tăng số lần hoặc tăng mức độ lỏng của phân mà các bà mẹ cho là bất thường. Có hai khái niệm cần phân biệt với tiêu chảy, đó là: - Phân bình thường được tống nhanh không phải là tiêu chảy. - Trẻ sơ sinh được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ thường có phân mềm, không phải là tiêu chảy [theo WHO-1993]. 1.1.2. Tại sao tiêu chảy nguy hiểm Hai mối nguy hiểm chính của tiêu chảy là suy dinh dưỡng và tử vong. Tử vong do tiêu chảy hầu hết thường gây ra bởi vì mất một lượng lớn muối và nước từ cơ thể. Mặt khác, khi trẻ bị tiêu chảy, trẻ ăn ít đi và khả năng hấp thu 2 các chất dinh dưỡng bị giảm, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể lại tăng do nhiễm trùng, chính những yếu tố đó góp phần làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng và bệnh cảnh lâm sàng càng trở nên phức tạp hơn tạo thành một vòng xoắn bệnh lý: Suy dinh dưỡng - Tiêu chảy - Suy dinh dưỡng. Chưa kể việc các bà mẹ không nuôi dưỡng con của họ một cách bình thường khi chúng bị tiêu chảy, ngay cả những ngày sau khi tình trạng tiêu chảy của chúng đã được cải thiện [WHO-1993]. 1.1.3. Phân loại tiêu chảy Tiêu chảy được phân loại tùy thuộc vào thời gian của nó, một đợt tiêu chảy kéo dài ít hơn 2 tuần là tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài 2 tuần hay hơn là tiêu chảy kéo dài [WHO-1993]. Theo Chu Văn Tường, bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em thường diễn ra dưới 5 ngày. Trong một nghiên cứu của bác sỹ Phan Thị Kim Ngân về tình hình tiêu chảy của trẻ em tại Bệnh Viện Trung Ương Huế, tần suất tiêu chảy kéo dài trong các bệnh nhi tiêu chảy là: 2,82%, tập trung nhiều ở trẻ dưới 24 tháng [29]. Cũng trong một nghiên cứu khác của Phan Thị Kim Ngân về thời gian tiêu chảy thì tiêu chảy cấp dưới 3 ngày chiếm 21,09%, thời gian trung bình của một đợt tiêu chảy cấp là 5,53 - 2,55 ngày. Theo Nguyễn Thị Kim Tiến, phần lớn thời gian tiêu chảy từ 1 - 4 ngày, chiếm 78%, tiêu chảy kéo dài trên 14 ngày chỉ chiếm 0,8% [35]. Ngày nay, người ta xác định ba hội chứng lâm sàng khác nhau của tiêu chảy gồm: -Tiêu chảy phân lỏng cấp tính. - Hội chứng lỵ. - Tiêu chảy kéo dài [WHO-Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy]. Qua nghiên cứu của Đào Mạnh Hùng tại Bênh viện đa khoa Kon Tum cho thấy sự phân bố như sau: tiêu chảy phân lỏng cấp tính chiếm 47,29%; hội chứng lỵ chiếm 51,25%; tiêu chảy kéo dài chiếm 1,48% [19]. 3 1.1.4. Dịch tễ học bệnh tiêu chảy 1.1.4.1. Các đường lây truyền Tác nhân gây tiêu chảy thường lây truyền bằng đường phân – miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm. 1.1.4.2. Một số hành vi làm gia tăng sự lan truyền tác nhân gây bệnh tiêu chảy - Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu tiên của cuộc đời. Theo WHO, những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu tiên của cuộc đời có nguy cơ mắc tiêu chảy gấp nhiều lần so với những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn, nguy cơ tử vong do tiêu chảy của những trẻ này cũng lớn hơn một cách đáng kể. Nguyễn Thị Kim Tiến đã xác định trẻ không bú mẹ có nguy cơ mắc tiêu chảy gấp 1,6 lần so với trẻ được bú mẹ. Vai trò của sữa mẹ rất quan trọng trong việc bảo vệ trẻ nhỏ đối với bệnh tiêu chảy. Sữa mẹ có chứa Globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%) và các loại thuốc khác IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnh đường ruột và một số bệnh do virus [35]. - Tập quán cai sữa sớm (trước 1 tuổi): Cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sẽ làm giảm chỉ số mắc và sự trầm trọng của một số bệnh tiêu chảy như lỵ trực trùng và tả [32];[39]. Theo Phan Thị Kim Ngân, tỷ lệ tiêu chảy cấp của trẻ em ngưng bú mẹ là 3,6% trong khi đó tỷ lệ tiêu chảy kéo dài là 15,46%,vậy có thể xem việc ngưng bú mẹ sớm là nguy cơ của tiêu chảy kéo dài [28]. Đối với những tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài ở nhóm không bú mẹ là 1,27%, nhóm cai sữa dưới 10 tháng tuổi là 12,76% [29]. - Cho trẻ bú sữa bình: Khi cho sữa vào một bình không sạch thì sẽ bị ô nhiễm, nếu trẻ không bú hết sữa trong bình thì sự phát triển của vi khuẩn sẽ xảy ra. Theo nghiên cứu của Bùi An Bình cho thấy trẻ bú bình có nguy cơ 4 tiêu chảy hơn trẻ ăn bằng chén thìa là 26,66% [3]. -Tập quán cho ăn sam sớm trước 4 tháng tuổi: Cho ăn sam không đúng, quá sớm hay quá muộn đều dễ dẫn đến tiêu chảy suy dinh dưỡng. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn tại một phường của thành phố Thái Nguyên cho kết quả: Ăn bột dưới 4 tháng là yếu tố nguy cơ của tiêu chảy trẻ em [30]. - Trữ thức ăn đã nấu ở nhiệt độ phòng: Khi thức ăn nấu xong được trữ để dùng, sau đó thức ăn có thể dễ dàng bị ô nhiễm do tiếp xúc ở bề mặt hoặc vật chứa đựng. Nếu thức ăn được trữ vài giờ ở nhiệt độ phòng thì vi khuẩn trong đó sẽ nhân lên nhiều lần [33]. Theo GS Đỗ Gia Cảnh, nguy cơ mắc bệnh tả là không ăn thức ăn ngay sau khi nấu chín, ăn các loại thức ăn để quá 3 giờ không đun lại [9]. - Dùng nước uống đã bị nhiễm vi khuẩn đường ruột: Nước có thể bị nhiễm bẩn ngay tại nguồn của nó hoặc trong suốt quá trình dự trữ tại nhà. Sự ô nhiễm tại nhà là do bảo quản hoặc sử dụng không hợp vê sinh [40]. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 1995, tỉ lệ mắc tiêu chảy trên toàn thế giới khoảng 1 tỉ lượt/năm, trong đó chết 3,3 triệu/năm, có liên quan đến nước không an toàn và vệ sinh [44]. - Không rửa tay sau khi đi ngoài, sau khi xử lý phân, trước khi chuẩn bị thức ăn: Thói quen rửa tay là một hành vi tốt bảo vệ sức khỏe chung, đặc biệt có hiệu lực đối với việc phòng tiêu chảy. - Không xử lý phân (đặc biệt là phân trẻ nhỏ) một cách hợp vệ sinh: Nhiều người thường cho rằng phân trẻ em là không nguy hiểm, nhưng thực ra, chúng chứa rất nhiều virus và vi khuẩn gây bệnh. Phân súc vật cũng chứa nhiều vi sinh vật có thể truyền bệnh cho người. 1.1.4.3. Các yếu tố vật chủ liên quan đến sự gia tăng chỉ số mắc, mức độ trầm trọng, thời gian bị bệnh tiêu chảy - Suy dinh dưỡng: Tiêu chảy và suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với 5 nhau nhất là đối với những trẻ suy dinh dưỡng nặng, những trẻ đó sự hồi phục niêm mạc ruột bị chậm trễ do thiếu Vitamin A, giảm sức đề kháng của cơ thể. Sự nghiêm trọng, kéo dài và nguy cơ dễ tử vong do tiêu chảy sẽ gia tăng đối với những trẻ bị suy dinh dưỡng. Ngược lại điều này sẽ làm cho tình trạng suy dinh dưỡng trở nên trầm trọng hơn [40];[32];[33]. Theo nghiên cứu của BS Phan Thị Kim Ngân cho thấy trong số tiêu chảy kéo dài ở các bệnh nhi điều trị tại Bệnh Viện Trung Ương Huế từ năm 1990- 1994 có 85,1% trường hợp suy dinh dưỡng, trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm 53,19% [29]. - Sởi: Tiêu chảy và lỵ thường gặp ở trẻ đang bị sởi hoặc mới khỏi bệnh sởi trong vòng 4 tuần lễ, do trong thời gian này hệ thống miễn dịch bị tổn thương. Nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Kim Tiến về mối tương quan giữa tiêm phòng sởi và tiêu chảy cho thấy trẻ chưa tiêm phòng sởi có nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy gấp 2 lần trẻ đã tiêm phòng sởi [35]. - Bệnh suy giảm miễn dịch hoặc ức chế miễn dịch: Tình trạng này có thể tạm thời do một số bệnh nhiễm vi rus (như sởi), hoặc có thể kéo dài như ở những người có hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV/AIDS). Nếu tình trạng ức chế miễn dịch nặng thì tiêu chảy có thể xảy ra do các tác nhân bất thường và bệnh cũng có thể kéo dài. - Tuổi: Hầu hết tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu cuộc đời. Chỉ số mắc bệnh cao nhất là ở nhóm trẻ 6-11 tháng, khi mới tập ăn sam [7];[40];[32]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh cho điều này, một nghiên cứu cộng đồng trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Hố Chí Minh của Lê Thế Thự cho thấy số mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 2 tuổi là 87%, ở trẻ dưới 5 tuổi là 69%. Theo Lê Hoàng Ninh và cộng sự đã xác định tỉ lệ chết do tiêu chảy ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi là 14,7%, nhóm trẻ từ 1- 4 tuổi 12%, nhóm dưới 5 tuổi là 13,55% [33]. 1.1.4.4. Các yếu tố thuộc về bà mẹ và mức sống hộ gia đình - Nghiên cứu của Nguyễn Thành Quang cho rằng: Bà mẹ chưa có kiến thức về phòng chống bệnh tiêu chảy là một trong các nguyên nhân quan trọng 6 làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ em [37]. - Trình độ học vấn của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức phòng bệnh tiêu chảy, cách chăm sóc trẻ từ đó ảnh hưởng tới nguy cơ mắc tiêu chảy. Nghề nghiệp của mẹ có ảnh hưởng tới thời gian cho trẻ bú, thời gian và cách chăm sóc trẻ, mức thu nhập hộ gia đình từ đó có ảnh hưởng khả năng mắc tiêu chảy. 1.1.4.5. Tính chất mùa Người ta nhận thấy tình trạng tiêu chảy trẻ em có sự khác biệt theo mùa ở nhiều địa dư khác nhau. Ở những vùng ôn đới, tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa nóng, ngược lại tiêu chảy do virus, đặc biệt là Rota virus lại xảy ra cao điểm vào mùa đông. Ở những vùng nhiệt đới, tiêu chảy do Rota virus xảy ra quanh năm nhưng tăng vào các tháng khô và lạnh, ngược lại tiêu chảy do vi khuẩn lại xuất hiện cao điểm vào giao điểm giữa mùa mưa và nóng. Tỷ lệ mắc tiêu chảy kéo dài cũng dao động theo mùa giống như tiêu chảy cấp [45]. Ở Việt Nam, trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Đào cho thấy tỉ lệ mắc tiêu chảy trẻ em ĐakLak từ 1994-1995 xảy ra cao điểm vào tháng 4, 5, 6 trong năm [14]. 1.1.4.6. Các nhiễm trùng không triệu chứng Những người nhiễm trùng không triệu chứng đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan các mầm bệnh đường ruột, đặc biệt là họ không biết mình bị nhiễm trùng, không quan tâm đến vệ sinh, đi lại từ nơi này sang nơi khác một cách bình thường. Tỉ lệ này cao hơn ở trẻ trên 2 tuổi nhờ có sự phát triển miễn dịch chủ động. Kết quả xét nghiệm người lành trong vụ dịch tả tại Thái Bình năm 2000 của Nguyễn Đồng Lịch cho thấy tỉ lệ người lành có mầm bệnh dương tính từ 5,71% đến 12,5%[24]. 1.1.4.7. Các vụ dịch Tiêu chảy là bệnh phổ biến ở trẻ em trên nhiều nước và có thể ảnh hưởng 7 nghiêm trọng lên tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ[34]. Nó là bệnh có mặt ở khắp nơi trên thế giới và liên quan đến môi trường sống. Loài người đã từng gánh chịu những tổn thất to lớn do những vụ dịch và đại dịch tiêu chảy gây ra. Theo ghi nhận từ năm 1817 đến nay, trên thế giới đã có 7 vụ đại dịch do tả gây ra, gây thương vong cho hàng triệu người. Các vụ dịch lan từ Ấn Độ đến các nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Đại Dương. Ngoài ra, còn có một số vụ dịch lỵ trực khuẩn ở Trung Mỹ, Trung Phi và Nam Phi. Ở Việt Nam, trước năm 1950 các vụ dịch tả do Vibrio cholerae cổ điển gây ra. Năm 1980, tỉ lệ mắc bệnh tả có giảm dần đến 1982, tỉ lệ mắc chung là 7/1.000 [2]. Theo kết quả của Nguyễn Thu Yến, từ năm 1986-2000 cho thấy bệnh có xu hướng giảm rõ rệt từ tỉ lệ 9,13/100.000 xuống còn 0,14/100.000, bệnh xảy ra chủ yếu ở miền Trung và miền Nam [43]. 1.1.5. Căn nguyên của tiêu chảy 1.1.5.1. Rotavirus Chương trình CDD của tổ chức y tế Thế giới(WHO) đã tiến hành nghiên cứu dài hạn (1987-1992) về nhiễm Rotavirus của trẻ em dưới 2 tuổi ở Achentina, Cộng Hoà Trung Phi, Colombia, Hồng Kông, Ấn Độ và Srilanca đã nhận thấy: Rotavirus gây tiêu chảy là nhiễm trùng phổ biến ở trẻ em dưới 1 tuổi, chiếm 12-25% các trường hợp [45]. Nó là tác nhân quan trọng nhất gây tiêu chảy nặng và đe doạ tính mạng trẻ em dưới 2 tuổi trên toàn thế giới. Ở các nước phát triển có 35-52% trẻ em bị tiêu chảy cấp do Rotavirus. Ở các nước đang phát triển Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp và tử vong cho trẻ em dưới 1 tuổi [17]. Khoảng 1/3 số trẻ dưới 2 tuổi bị ít nhất 1 đợt tiêu chảy do Rotavirus, nó có khả năng lây lan trực tiếp từ người sang người [45]. 1.1.5.2. ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli) ETEC chiếm 10-20% các trường hợp [40];[45]. Nó là tác nhân quan 8 trọng gây tiêu chảy cấp phân toé nước cả trẻ em và người lớn tại các nước đang phát triển, ETEC lây lan chủ yếu qua nước và thực phẩm bị ô nhiễm [40]. 1.1.5.3. Shigella Shigella chiếm 5-15% các trường hợp [41];[45]. Nó là tác nhân quan trọng nhất gây bệnh lỵ, đã được tìm thấy trong khoảng 60% các đợt lỵ do Shigella lây lan chủ yếu trực tiếp từ người. Trong hầu hết các đợt lỵ nặng, có thể xuất hiện phân tóe nước. 1.1.5.4. Campylobacter jejuni Campylobacter jejuni chiếm 10-15% các trường hợp [41];[45]. Nó lây lan qua tiếp xúc phân,nước uống bẩn, dùng thực phẩm bị ô nhiễm. C.Jejuni có thể gây tiêu chảy tóe nước (chiếm 2/3 trường hợp) hoặc hội chứng lỵ (chiếm 1/3 các trường hợp). 1.1.5.5. Vibrio cholerae 01 Vibrio cholerae chiếm 5-10% ở những vùng lưu hành dịch [41];[45]. Có hai typ sinh vật và hai typ huyết thanh. V.Cholerae 01 gây tiêu chảy không qua xâm nhập mà qua trung gian độc tố tả, làm xuất tiết ồ ạt nước và điện giải ở ruột non. Tiêu chảy có thể nặng dẫn tới tình trạng mất nước và trụy mạch trong vòng vài giờ nếu không bồi phụ nước và điện giải kịp thời. Trong những vùng lưu hành dịch, trẻ em cũng bị tả nhiều như người lớn [45]. 1.1.5.6. Salmonella Salmonella (non typhoid) chiếm 1-5% các trường hợp [41]. Hầu hết nhiễm Salmonella không gây thương hàn là do lây từ súc vật nhiễm trùng hoặc các thức ăn động vật đã bị ô nhiễm. Tiêu chảy do Salmonella thường là phân tóe nước, nhưng đôi khi cũng có biểu hiện như hội chứng lỵ 1.1.5.7. Cryptosporidia Cryptosporidia (đơn bào) chiếm 5-15% các trường hợp [17]. Nó là một 9 ký sinh trùng thuộc họ Coccidian gây bệnh ở trẻ nhỏ, ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch và nhiều loại gia súc. Triệu chứng tiêu chảy thường không nặng và không kéo dài (trừ những bệnh nhân có suy giảm miễn dịch do suy dinh dưỡng hay do AIDS)[18];[39]. 1.1.5.8. Không tìm thấy tác nhân gây bệnh Các trường hợp này chiếm 20-30% [40];[52]. Hiện nay một căn nguyên gây tiêu chảy mới đang được công bố đó là Cyclospra, là một ký sinh trùng cấu hình giống như Crytopridium nhưng kích thước to hơn. Cyclospora gây nên tiêu chảy kéo dài, tỉ lệ mắc bệnh là 0,2% trên tổng số dân nghiên cứu [8]. Ngoài ra, do sai lầm trong chế độ ăn, sử dụng kháng sinh, dị ứng thức ăn cũng gây tiêu chảy nhưng không do nhiễm trùng. 1.1.6. Sinh lý bệnh tiêu chảy Tiêu chảy xảy ra khi có rối loạn vận chuyển nước và điện giải ở ruột non, cơ chế này cũng là cơ sở cho liệu pháp bù dịch bằng đường uống và nuôi dưỡng. Tiêu chảy phân nước xảy ra do 2 cơ chế chính: xuất tiết và thẩm thấu. Nhiễm trùng đường ruột có thể gây ra tiêu chảy bởi 2 cơ chế này. Tiêu chảy xuất tiết xảy ra phổ biến hơn tiêu chảy thẩm thấu, cả hai loại tiêu chảy cũng có thể xảy ra trên cùng cơ thể. - Tiêu chảy xuất tiết: Khi bài tiết dịch (nước và muối) vào lòng ruột không bình thường sẽ gây ra tiêu chảy xuất tiết. Việc này xảy ra khi hấp thu Natri ở nhung mao ruột bị rối loạn, trong khi xuất tiết Clo ở vùng hẽm tuyến vẫn tiếp tục hay tăng lên. Sự tăng bài tiết này gây nên đã dẫn đến mất nước và muối của cơ thể qua phân lỏng. Trong tiêu chảy do nhiễm trùng, những thay đổi này có thể do tác động của độc tố vi khuẩn như: E.Choli sinh độc tố hay phẩy khuẩn tả 01 hoặc virus như Rotavirus lên niêm mạc ruột. - Tiêu chảy thẩm thấu: Niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào bị ”rò rĩ”, muối và nước vận chuyển qua lại rất nhanh để duy trì sự cân bằng thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào. Vì vậy tiêu chảy thẩm thấu xảy ra 10 khi ăn một chất có độ hấp thu kém và độ thẩm thấu cao. Nếu chất đó là dung dịch đẳng trương, nước và điện giải qua lòng ruột không được hấp thu lại gây tiêu chảy, thuốc tẩy như Magiêsium Sulphat có cơ chế tác dụng như vậy. Cơ chế này cũng xảy ra với trẻ thiếu men Lactoza hoặc ở trẻ không dung nạp Glucose. Nếu trẻ uống dung dịch hấp thu kém như loại dung dịch ưu trương thì nước và điện giải sẽ từ dịch ngoại bào vào lòng ruột cho đến khi độ thẩm thấu ở lòng ruột bằng dịch ngoài tế bào và máu. Hiện tượng trên làm tăng khối lượng phân và điều quan trọng hơn là gây kiệt nước cơ thể do mất nước. Vì lượng nước mất nhiều hơn điện giải nên gây hiện tượng tăng Natri máu. 1.1.7. Điều trị tiêu chảy trẻ em 1.1.7.1. Điều trị tiêu chảy tại nhà Phương pháp điều trị tiêu chảy trong những năm gần đây đã có nhiều sự thay đổi. Ngày nay, tiêu chảy tự nó không được xem như một bệnh mà là biểu hiện của một tình trạng rối loạn chức năng tiêu hoá. Tiêu chảy thường là do sự rối loạn tiết dịch và các chất điện giải quá mức vào lòng ruột như trong các trường hợp tiêu chảy do độc tố hay tiêu chảy do tăng áp lực thẩm thấu trong lòng ruột; sự tiết dịch vào lòng ruột có tác dụng tẩy sạch, đẩy độc tố, tác nhân gây bệnh ra ngoài, vì vậy có tác dụng làm giảm bệnh. Có thể nói rằng, sau Hội nghị Alma Ata ở Liên Xô (cũ) năm 1978 có một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực nhi khoa, nhất là với trẻ em dưới 5 tuổi. Với chăm sóc sức khỏe ban đầu người ta có thể hướng dẫn các bà mẹ tự chăm sóc con mình tránh ba bệnh chủ yếu gây tử vong trẻ em (suy dinh dưỡng, tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp). Các trường hợp tiêu chảy được chăm sóc tại nhà dựa theo 3 nguyên tắc mà WHO đã hướng dẫn như sau: * Cho trẻ uống nhiều dịch hơn bình thường để phòng mất nước. Trẻ bị tiêu chảy cần nhiều dịch hơn bình thường để bù lại lượng dịch bị mất qua phân và nôn. Thường có thể phòng được mất nước nếu cho uống đủ 11 lượng dịch ngay khi trẻ mới bị tiêu chảy. Nhiều loại dịch tại nhà có thể cho trẻ uống nhằm xử trí sớm để phòng bệnh mất nước. Tại nhiều nước người ta khuyến nghị các loại dịch uống tại nhà khác nhau như: cháo nấu từ gạo hay các loại ngũ cốc, súp, hoặc cho uống nước trắng kèm bữa ăn, một số nước dùng dung dịch Oresol (ORS) như là một loại dung dịch pha chế tại nhà. Mặt khác, sữa mẹ được xem như là thức ăn để nuôi dưỡng trẻ nhưng nó cũng được coi như là dịch uống tại nhà rất quan trọng, vì vậy cần cho trẻ bú càng nhiều càng tốt. Những trẻ đã được bù dịch ở cơ sở y tế thì ở nhà cần được tiếp tục uống ORS cho tới khi hết tiêu chảy. Trong mọi điều kiện, các loại dịch tại nhà cần đáp ứng được những yêu cầu chính sau đây: - Đảm bảo an toàn cho trẻ khi uống với khối lượng lớn. Không cho trẻ uống các loại nước ngọt, trà đường. Nếu dung dịch có muối thì lượng muối không vượt quá 50 mmol/l. - Dễ chấp nhận: dịch phải là loại mà các bà mẹ tin tưởng và chấp nhận cho trẻ uống với số lượng lớn và trẻ cũng phải quen. - Dễ pha chế: các chất pha chế phải quen thuộc với dân chúng, không đòi hỏi nhiều thao tác hay thời gian để pha chế. Thành phần các chất và dụng cụ đo lường phải sẵn có và không đắt tiền. - Có hiệu quả: dịch uống phải vừa an toàn,vừa hiệu quả. Tuy nhiên hiệu quả các loại dịch không giống nhau do thành phần của chúng. * Cho trẻ ăn nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng để phòng suy dinh dưỡng. Khi trẻ tiêu chảy, cần tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ. Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi không được nuôi bằng sữa mẹ mà nuôi bằng thức ăn nhân tạo hoặc sữa bò thì sữa cần pha loảng ½. Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên bị tiêu chảy cần cho ăn thức ăn mềm hoặc nửa đặc nửa lỏng. Nói chung, các loại thức ăn này phải cung cấp ít nhất ½ năng 12 lượng của khẩu phần ăn. Cho ăn ít nhưng nhiều lần trong ngày thì tốt hơn cho ăn nhiều nhưng ít lần. Sau khi hết tiêu chảy, tiếp tục cho trẻ ăn thêm ít nhất một bữa mỗi ngày trong 2 tuần, cho ăn những thức ăn giàu chất dinh dưỡng như đã cho ăn trong khi tiêu chảy. Trẻ suy dinh dưỡng, cần phải cho ăn chế độ ăn này trong thời gian dài hơn. * Các bà mẹ cần biết khi nào đưa trẻ đến cơ sở y tế. Để thực hiện được điều này cần hướng dẫn người mẹ theo dõi biết tiêu chảy, mất nước đang nặng thêm hoặc những vấn đề nghiêm trọng khác. Các dấu hiệu cho biết tiêu chảy đang nặng hay mất nước đang tiến triển mà bà mẹ có thể nhận ra với các dấu hiệu như là: + Khi trẻ đi ngoài phân tóe nước. + Nôn liên tục. + Khát nước gia tăng. + Trẻ ăn uống kém hơn bình thường. + Trẻ sốt cao. + Có máu trong phân. Và cần phải đem trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị. 1.1.7.2. Điều trị tiêu chảy trẻ em tại cơ sở y tế LIỆU PHÁP BÙ DỊCH Mục đích của liệu pháp bù dịch khi tiêu chảy là nhanh chóng bù lại sự thiếu hụt nước, điện giải đã mất và sẽ mất thêm cho đến khi tiêu chảy ngừng hẳn [17];[39];[42]. Liệu pháp bù dịch được tiến hành kết hợp với việc sử dụng cả thuốc điều trị tiêu chảy trẻ một cách hợp lý. * Bù dịch bằng đường uống: Bù dịch bằng đường uống dựa trên nguyên tắc hấp thu Natri cùng với nước và các chất điện giải khác của ruột tăng lên do sự hấp thu chủ động của một số chất như glucose[6];[7];[45].Để cho việc bù dịch bằng đường uống thành công thì nên cho uống thường xuyên 13 nhưng với lượng nhỏ [17]. Các loại dịch thường sử dụng, đó là: - Dung dịch Oresol (ORS): là một hỗn hợp muối bù dịch bằng đường uống khi hoà tan trong nước. ORS được dùng để điều trị hàng triệu bệnh nhân tiêu chảy ở mọi lứa tuổi, do các nguyên nhân khác nhau và đã được chứng minh tính an toàn và hiệu quả của nó. Sử dụng ORS cùng với uống nước bình thường hoặc bú sữa mẹ đều hiệu quả [39];[42];[45]. Một số nước có chủ trương dùng ORS cho mọi trường hợp tới cơ sở y tế dù bệnh nhi có bị mất nước hay không. Dung dịch Oresol là loại dịch bù bằng đường uống tốt nhất hiện nay. - Một số loại dung dịch tự pha khác mặc dù không đảm bảo thích hợp như dung dịch ORS nhưng vẫn có tác dụng phòng mất nước bằng đường uống. Các dung dịch như là: súp, nước cháo, sữa chua hoặc nước trắng cũng sẽ có hiệu quả khi pha thêm một ít muối, trung bình 3 gam cho 1 lít nước [42];[45]. * Bù dịch bằng đường tĩnh mạch: trong những trường hợp mất nước nặng phải bù dịch bằng đường tĩnh mạch nhằm nhanh chóng bồi phụ lại khối lượng tuần hoàn và điều trị shock. Việc bù dịch bằng đường tĩnh mạch chỉ được thực hiện ở các cơ sở y tế [41];[45]. SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TIÊU CHẢY Theo nghiên cứu của Nguyễn Gia Khánh và cộng sự về việc điều trị trẻ bị tiêu chảy tại Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em cho thấy: đối với trẻ tiêu chảy cấp thì vấn đề sử dụng thuốc nói chung và kháng sinh nói riêng không được đặt ra mà chủ yếu là bù đủ nước và điện giải sớm, đầy đủ là yếu tố quyết định thành công [23]. Nguyễn Anh Dũng và Đặng Đức Trạch đã nghiên cứu tình hình bệnh tiêu chảy tại khoa nhi các bệnh viện cho thấy rằng đối với tiêu chảy do vi khuẩn hay ký sinh trùng thì việc sử dụng kháng sinh là rất hạn chế và phải cân nhắc cẩn thận. Riêng đối với bệnh tả là bệnh có tính nghiêm trọng dễ gây thành dịch, hơn nữa V.cholerae 01 nhạy cảm với Tetracyclin, 14 Trimethoprim-Sulfamethorazol nên phải chỉ định kháng sinh sớm [13]. Trong chương trình CDD của WHO cho rằng; không dùng thuốc cầm tiêu chảy và thuốc chống nôn cho trẻ, vì nó không có tác dụng mà còn gây nguy hiểm [42]. 1.2. PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY TRẺ EM 1.2.1. Các biện pháp phòng chống tiêu chảy trẻ em Công tác phòng chống tiêu chảy trẻ em phần lớn các biện pháp nhằm vào các cách nuôi trẻ, vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, cung cấp nước sạch, xử lý phân an toàn, gây miễn dịch dự phòng[40];[45]. Các biện pháp hiện nay nhằm vào xây dựng hành vi có lợi đối với phòng bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi trong cộng đồng, đó là những biện pháp có kết quả lâu dài [38];[41]. - Nuôi con bằng sữa mẹ: trên thực tế gần như tất cả các bà mẹ đều có thể thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ. Qua các nghiên cứu về bệnh tiêu chảy trẻ em, tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ luôn luôn ở mức độ cao hơn [3];[11];[28]. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thì ít bị tiêu chảy hơn, nếu có mắc thì cũng nhẹ hơn và ít nguy cơ tử vong hơn so với trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Theo nghiên cứu của Bùi An Bình, trên 68 trẻ bú mẹ hoàn toàn, có 63 trẻ không mắc bệnh tiêu chảy chiếm 92,64%, chỉ có 5 trẻ mắc tiêu chảy với tỉ lệ 7,35% trong khi đó tỉ lệ không mắc của nhóm không bú sữa mẹ là rất thấp 2,08% [3]. - Cải thiện tập quán cho trẻ ăn sam: ăn sam là quá trình tập cho trẻ quen dần với chế độ ăn của người lớn, là quá trình nuôi trẻ tập cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổi chế độ ăn từ một khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang một chế độ ăn sử dụng đều đặn các thực phẩm có sẵn trong bữa ăn gia đình. Ăn sam thường bắt đầu khi trẻ được 4-6 tháng tuổi, vì thời kỳ này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cao hơn và lượng sữa mẹ có hạn không đáp ứng nhu cầu. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của trẻ, nếu cho ăn sam không đúng qui cách 15 thì trẻ dễ bị mắc tiêu chảy, suy dinh dưỡng. Ăn sam đúng phụ thuộc vào nhiều vấn đề: thời điểm cho ăn sam, ăn các loại thức ăn, cách chế biến bảo quản… [28]. Trẻ được ăn sam từ tháng thứ 5, vì đến tháng tuổi đó trẻ mới có hệ thống men tiêu hoá tinh bột, protid, lipid…hoàn chỉnh, có thể tiêu hoá được thức ăn [35]. Nếu cho ăn sam sớm (trước 4tháng), thức ăn không được tiêu hoá hết dẫn đến tiêu chảy. Nghiên cứu của Popkin nhận thấy số trẻ ăn sam dưới 5 tháng thì tần số mắc tiêu chảy gấp 2 lần so với nhóm trẻ cùng tuổi chưa ăn sam, hoàn toàn bú mẹ[45]. - Sử dụng nguồn nước sạch cho vệ sinh và ăn uống: việc giữ cho nguồn nước luôn đảm bảo vệ sinh là vô cùng quan trọng, đặc biệt là nguồn nước uống, nước dùng chế biến thức ăn [41]. Những gia đình có đủ nước sạch để sử dụng thì ít bị bệnh tiêu chảy hơn những gia đình thiếu nước hoặc dùng nguồn nước bị ô nhiễm. Một nghiên cứu bệnh chứng của Nguyễn Thị Kim Tiến và cs cho thấy rằng một trong bốn yếu tố nguy cơ có ý nghĩa của tiêu chảy kéo dài ở trẻ em dưới 3 tuổi thuộc khu vực miền Nam Việt Nam là sử dụng nước giếng không hợp vệ sinh [35]. - Rửa tay: bà mẹ có thể bảo vệ con mình tránh mắc tiêu chảy bằng cách thực hiện một vài biện pháp vệ sinh. Một trong những biện pháp rất quan trọng là rửa tay, đặc biệt là trong phòng lây lan Shigella. Một công trình nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy việc rửa tay bằng nước và xà phòng đã giảm tần suất lây lan của các trường hợp lỵ tại nhà xuống 7 lần. Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Kim Tiến kết luận từ nghiên cứu của mình rằng: người nuôi dưỡng trẻ không có thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện có nguy cơ mắc tiêu chảy gấp 3 lần so với nhóm có thói quen rửa tay [35]. - Sử dụng hố xí hợp vệ sinh: Sử dụng hố xí thích hợp có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy. Một nghiên cứu bệnh chứng ở huyện Tumpat, Malaisia kết quả cho thấy các yếu tố làm tăng khả năng mắc tiêu chảy của trẻ em là: các hộ gia đình không có hố xí hoặc hố xí không đủ nước dội hoặc sự 16 có mặt của vật nuôi trong nhà. - Xử lý an toàn phân trẻ em: ở nhiều nơi người ta cho rằng phân trẻ em là vô hại nhưng thực tế trẻ em hay bị nhiễm trùng các vi sinh vật gây bệnh đường ruột và trẻ em là một nguồn bệnh nguy hiểm lây lan cho người khác. Trường hợp trẻ đang bị tiêu chảy hay bị nhiễm trùng không triệu chứng thì phân trẻ lại càng nguy hiểm hơn [7];[41]. - Tiêm phòng sởi: những trẻ đang mắc bệnh sởi hay vừa khỏi bệnh trong vòng 4 tuần đầu thì dễ bị mắc tiêu chảy hoặc lỵ nặng và dễ tử vong. Tiêm vacxin phòng sởi cho trẻ lúc 9 tháng tuổi có thể phòng ngừa được 25% số tử vong liên quan tới tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi [7];[40]. 1.2.2.Các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu Đinh Sĩ Hiển và Đặng Đức Trạch đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dự phòng không đặc hiệu để khống chế các bệnh tiêu chảy và cho rằng: - Cải thiện môi trường là biện pháp cơ bản và lâu dài nhằm giải quyết nguồn truyền nhiễm, đường truyền nhiễm, khống chế tối đa tỉ lệ mắc bệnh đường ruột nói chung và tiêu chảy nói riêng. Trước mắt cần vệ sinh nguồn nước, xử lý phân, chất thải, vệ sinh nhà ở, vệ sinh thực phẩm… Phát động và duy trì các phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch tốt trong cộng đồng. - Khống chế bệnh dịch đường ruột: Tăng cường hệ thống giám sát, dự báo phát hiện dịch. Khi có dịch xảy ra kịp thời cứu chữa người bệnh, làm giảm tử vong, xử lý nguồn lây và bảo vệ khối cảm thụ làm hạn chế mắc và dập tắt dịch. - Triển khai chiến dịch truyền thông về 3 công trình vệ sinh (nhà tắm, hố xí, giếng nước) một cách thường xuyên tại cộng đồng, đặc biệt là vùng sâu vùng xa và vùng dân tộc thiểu số... Theo đề xuất của tổng kết 5 năm triển khai chương trình phòng chống tiêu chảy tại Việt Nam là đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền nuôi con bằng sữa mẹ, cho ăn sam đúng cách, các tập quán vệ sinh cá nhân, cải thiện nước uống. 17 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Các cặp bà mẹ và con dưới 5 tuổi đang sinh sống tại xã Triệu Long,huyện Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị. 2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện tại xã Triệu Long,huyện Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị. 2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Thực hiện tháng 6 năm 2011 2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.4.1. Thiết kế nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp điều tra ngang 2.4.2. Cỡ mẫu Cỡ mẫu toàn bộ: Tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi của xã Cỡ mẫu: 400 cặp bà mẹ và con dưới 5 tuổi 2.4.3. Chọn mẫu Tiến hành chọn mẩu theo phương pháp PPS dựa vao khung mẩu có sẳn của trẻ em dưới 5 tuổi Xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quang Trị, có 18 thôn, ở mỗi thôn chúng tôi tuần tự các bước tiến hành như sau: - Lập danh sách các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi. Tuổi của con được đưa vào mẫu nghiên cứu tính theo tháng (dưới 60 tháng) kể từ ngày điều tra. - Xã chỉ có 400 cặp bà mẹ và con dưới 5 tuổi chọn tất cả các cặp bà mẹ và con.
- Xem thêm -