Nghiên cứu tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật tại xã kế an , huyện kế sách , tỉnh sóc trăng

  • Số trang: 49 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 31 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á với diện tích khoảng 330.369km2, với tổng dân số hơn 76 triệu trong đó khoảng 80% dân số làm nghề nông. Trong thời kỳ phát triển kinh tế hiện nay, mức tăng trƣởng ngày càng cao. Song song với sự phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp Việt Nam cũng đã có những tiến bộ vƣợt bậc, không những đủ cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho hơn 76 triệu dân mà còn xuất khẩu trên 3 triệu tấn gạo hàng năm và Việt Nam trở thành nƣớc xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới. Ở Việt Nam, những năm qua thuốc bảo vệ thực vật đƣợc các nhà kỷ thuật cũng nhƣ nông dân đặc biệc chú trọng, bởi vì nó bảo vệ thành công cây trồng khi các dịch hại tấn công .Vì vậy trong những năm gần đây việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã tăng lên đáng kể cả về số lƣợng và chủng loại. Nếu những năm cuối của thập kỷ 80, số lƣợng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng là 10.000 tấn/năm, thì khi bƣớc sang những năm của thập kỷ 90, số lƣợng thuốc bảo vệ thực vật đã tăng lên gấp đôi (21.600 tấn năm 1990), thậm chí tăng lên gấp ba (33.000 tấn năm 1995) năm 1998 ƣớc tính 40.000 tấn và diện tích đất canh tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng tăng lên khoảng 80-90% [11]. Theo số liệu điều tra của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trƣờng [5], [3], tại một số vùng trồng lúa, chè, rau, hoa quả… tỷ lệ nhiễm độc mãn tính do thuốc bảo vệ thực vật trong nông dân khoảng 15-18%. Nhiễm độc cấp tính với các triệu chứng đau đầu, nôn mửa, rối loạn thị giác, dị ứng da... xảy ra ở những ngƣời đi phun rắc thuốc bảo vệ thực vật thƣờng xuyên chiếm khoảng 50% số ngƣời đƣợc điều tra. Ở Việt Nam cho đến nay, việc nghiên cứu, điều tra tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hƣởng đến sức khoẻ của ngƣời lao động còn chƣa đƣợc quan tâm đầy đủ đây là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay cần Trang: 1 đƣợc điều tra nghiên cứu, để có đƣợc những thông tin nhằm đánh giá tác động của các yếu tố điều kiện lao động nông nghiệp. Đặc biệt là tình hình quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hƣởng đến sức khoẻ từ đó đƣa ra các biện pháp chính sách về chăm sóc sức khoẻ ngƣời lao động khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật góp phần đảm bảo duy trì đƣợc lực lƣợng lao động đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc trong giai đoạn hiện nay và lâu dài. Vì vậy, mà tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật tại xã Kế An , huyện Kế Sách , tỉnh Sóc Trăng năm 2008 ”, nhằm mục tiêu: 1. Mô tả tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật tại xã Kế An - huyện Kế Sách - tỉnh Sóc Trăng , 2. Sơ bộ đánh giá hiểu biếc của người dân trong việc sử dụng - bảo quản thuốc bảo vệ thực vật . Trang: 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóa học đƣợc dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng , hoa màu , lúa và các nông sản khác . Thuốc có nhiều nhóm khác nhau , mõi nhóm có tác động riêng cho đối tƣợng gây hại của nhóm đó . Thuốc BVTV đang sử dụng hiện nay đa dạng về chủng loại và phong phú về sản phẩm . Việc sử dụng thuốc BVTV đúng mục đích và đúng kỷ thuật sẽ mang lại hiệu quả tốt trong quản lý dịch hại cây trồng , bảo quản nông sản . Song , thuốc BVTV ngoài mặt tích cực nhƣng cũng có mặt hạn chế của nó . Vì vậy , khi sử dụng thuốc cần có kiến thức cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn chế tác hại của thuốc có thể gây nên đối với ngƣời , vật nuôi , cây trồng và môi trƣờng sống , đồng thời phát huy những mặt tích cực của nó . 2.1. LỊCH SỬ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Từ xa xƣa khi nghề trồng trọt bắt đầu phát triển, con ngƣời đã biết dùng các chất độc để phòng trừ dịch hại. Tuy vậy, do điều kiện sinh thái và quy luật cân bằng tự nhiên, lúc đầu các loài dịch hại còn ít và chƣa quen với chất độc, trình độ kĩ thuật còn thấp, con ngƣời chủ yếu dùng các chất có sẵn trong tự nhiên, nhất là các cây có chất độc, đƣợc chế biến và sử dụng một cách đơn giản. Sau đó, do sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, dịch hài nhiều, nhất là từ đầu thế kỉ XX đến nay . Lịch sử phát triển và sử dụng thuốc BVTV có thể chia làm 4 giai đoạn chính: Giai đoạn 1: Trƣớc những năm 1940, chủ yếu sử dụng các hợp chất vô cơ. Trong đó thuốc trừ sâu và chuột phổ biến là chất thạch tín (Asen), thuốc trừ nấm Trang: 3 bệnh có đồng (Cu), lƣu huỳnh (S), thuỷ ngân (Hg), thuốc trừ cỏ có các chất Sodium chlorat, calcium cyananid... phần lớn những chất này có độ độc cao và tồn lƣu tƣơng đối lâu trong môi trƣờng. Giai đoạn 2: Từ những năm 1940 đến 1960 là thời kỳ phát minh hàng loạt các hợp chất hữu cơ, trƣớc hết là thuốc trừ sâu nhóm clo hữu cơ (DDT, BHC) tiếp đến là các thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và carbamat. Trong giai đoạn này đáng chú ý nhất là các phát minh thuốc trừ sâu DDT (1939), BHC (1941), carbamate (1947), Parathion và 2,4D (1944), thuốc trừ chuột chống đông máu. Giai đoạn 3: Từ những năm 1960 đến 1980, là thời kỳ phát minh các hợp chất trừ sâu Pyrethroid tổng hợp (1970) và các thuốc trừ bệnh, trừ cỏ hữu cơ. Đây cũng là mở đầu thời kỳ phát minh các thuốc trừ sâu, trừ bệnh có nguồn gốc sinh học hoặc tác động sinh học, các chất kích thích, điều tiết sinh trƣởng cây trồng. Khái niệm phòng trừ sâu bệnh tổng hợp cũng đƣợc nêu ra trong giai đoạn này. Giai đoạn 4: Từ những năm 1980 đến nay, là thời kỳ phát minh nhiều loại thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại và có nguồn gốc mới, trong đó chú ý đến nhiều chất sinh học. Đây cũng là thời kỳ trọng điểm của quản lý dịch hại tổng hợp (Intergrated Pest Management, IPM) đƣợc phổ biến rộng rãi, các thuốc BVTV cũng đƣợc phát minh và sử dụng theo hƣớng này. Ngoài hiệu quả phòng trừ dịch hại, tính an toàn của thuốc BVTV ngày càng đƣợc chú ý nhiều hơn [2], [3], [4]. 2.2. PHÂN LOẠI THUỐC BVTV Có nhiều cách phân loại hóa chất BVTV dựa theo: - Mức độ tác hại. - Đối tƣợng phòng trừ. - Đƣờng xâm nhập. - Cấu tạo hóa học. Trang: 4 Sau đây là 2 phân loại thƣờng dùng: 2.2.1 Phân loại theo đối tƣợng phòng trừ - Thuốc trừ sâu Là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng gây hại cây trồng, nông sản gia súc, con ngƣời. Các loại thuốc trừ sâu nói chung đều rất độc vớí ngƣời và môi trƣờng, vì vậy khi sử dụng cần hết sức thận trọng, đảm bảo các nguyên tắc của IPM, theo đó tỷ lệ thuốc trừ sâu ngày càng giảm trong tổng số thuốc BVTV đƣợc sử dụng [9]. - Thuốc trừ bệnh Là những thuốc phòng trừ các loại vi sinh vật gây bệnh cho cây (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng) một số vi sinh vật quan trọng khác gây bệnh cho cây nhƣ vi rút, Mycoplasma tới nay chƣa có thuốc diệt trừ. Các thuốc trừ bệnh nói chung ít độc hơn so với thuốc trừ sâu và ngày càng đƣợc sử dụng nhiều. - Thuốc trừ cỏ Là những thuốc phòng trừ các loại thực vật, rong, tảo mọc. Lẫn với cây trồng, làm cản trở đến sinh trƣởng của cây trồng. Thuốc trừ cỏ cũng ít độc hơn cho con ngƣời và động vật so với thuốc trừ sâu nhƣng lại rất dễ gây hại cho cây trồng. Thuốc trừ cỏ cũng đƣợc sử dụng ngày càng nhiều. - Thuốc trừ chuột: Là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loại gặm nhấm khác. Các thuốc trừ chuột đều rất độc với ngƣời và gia súc. - Thuốc trừ nhện: Là những thuốc chuyên dùng phòng trừ các loại nhện hại cây trồng. Có nhiều loại thuốc trừ sâu cũng có tác dụng đối với nhện. - Thuốc trừ ốc sên: Có nhiều loại ốc đặc biệt nhƣ ốc bƣơu vàng… nhiều hoá chất có hiệu lực cao nhƣng rất có hại đến tôm, cua, cá, các động vật thuỷ tinh và làm ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, vì vậy khi sử dụng chú ý dùng đúng liều lƣợng và nồng độ qui định. Trang: 5 - Thuốc điều tiết sinh trưởng cây trồng: còn gọi thuốc kích thích sinh trƣởng, là những chất có khả năng kích thích sự ra rễ tăng độ nảy mầm tăng sinh trƣởng và phát triển của thực vật… một số thuốc trừ sâu có khả năng xông hơi dùng xử lý hàng hoá kho tàng để diệt mối, mọt chuột hoặc xử lý gỗ. 2.2.2. Phân loại theo gốc hoá học - Dựa theo cấu trúc hoá học chia thuốc BVTV thành nhiều nhóm, nhƣ thuốc trừ sâu có nhóm chính là nhóm thảo mộc, là những chất trừ sâu có trong thực vật nhƣ chất Nicotin, rotenone, pakizion [21], [22]. - Nhóm clo hữu cơ: Là những dẫn xuất Chlorobenzen (nhƣ DDT). Cychlohexan (BHC) nhóm này có độ độc cấp tính tƣơng đối thấp nhƣng tồn lƣu lâu trong cơ thể ngƣời, động vật và môi trƣờng gây độc mãn tính nên đã hạn chế sử dụng hoặc cấm sử dụng. - Nhóm lân hữu cơ có chất Phosphor (P) độ độc tính tƣơng đối cao nhƣng mau phân huỷ trong cơ thể ngƣời và môi trƣờng. - Nhóm Pyrethroide là những thuốc trừ sâu tổng hợp dựa vào cấu tạo chất Pyrethrin. - Các hợp chất Pheromone…, các chất điều hoà sinh trƣởng côn trùng… Nhóm thuốc vi sinh. - Nhóm thuốc trừ bệnh: gồm 2 nhóm chính vô cơ và hữu cơ trong mỗi nhóm này lại có nhiều nhóm hoá học khác nhau. - Nhóm dicarboximit: có chất Captan, folpet. - Nhóm thuốc sinh học: Là những chất kháng sinh đƣợc chiết xuất trong quá trình lên men ở một số loại nấm. 2.3. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG - BẢO QUẢN - NGỘ ĐỘC THUỐC BVTV 2.3.1. Trên thế giới Trong những năm qua nhiều loại thuốc diệt côn trùng, diệt nấm , diệt Trang: 6 khuẩn và diệt cỏ, kể cả những thuốc xông hơi đã trở thành quan trọng trong nông nghiệp, chủ yếu ở các nƣớc phát triển. Ở các nƣớc này thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ còn đang đƣợc sử dụng, nhƣng cũng dần dần đƣợc thay thế bằng nhóm lân hữu cơ, carbammat, pirethroid [35]. Thuốc BVTV trong các chƣơng trình y tế đƣợc sử dụng để diệt các véctơ truyền 5 bệnh chính: Bệnh sốt rét, bệnh giun chỉ, bệnh giun onchocerca volvulus, bệnh sán máng và bệnh do trypanosoma. Ngoài ra còn dùng thuốc BVTV để diệt các véctơ truyền bệnh khác nhƣ: Sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản B...Chi phí hàng năm của thế giới sử dụng thuốc BVTV cho chƣơng trình y tế 100 triệu USD, chiếm khoảng 10% tổng số thuốc BVTV đƣợc dùng [36], [19]. Riêng thuốc BVTV đƣợc sử dụng trên toàn thế giới 3 tỷ USD năm 1972 và 15.9 tỷ USD năm 1985, ƣớc tính khoảng 3 triệu tấn thuốc BVTV và tỷ lệ sử dụng nhƣ sau: chất diệt cỏ 46%, chất diệt côn trùng 31%, chất diệt nấm 18%. Trong đó 75% thuốc BVTV đƣợc dùng ở Châu Âu, Nhật, Hoa kỳ, Trung Quốc là nƣớc dùng nhiều thuốc BVTV nhất [35]. Năm 1985 ở châu Á và Thái Bình Dƣơng dùng 16% tổng số thuốc sử dụng trên thế giới , mõi năm dùng bình quân 5- 7% ,trong đó thuốc trừ sâu sử dụng nhiều nhất 75% [17 ]. Năm 2006 nƣớc Pháp có kế hoạch giảm 50% lƣợng thuốc trừ sâu , gần 50 độc chất có hại cho môi trƣờng sẽ đƣợc cấm sử dụng [20 ] Về tình hình nhiễm độc thuốc BVTV ở các nƣớc đang phát triển, tình trạng mù chữ cao, thiếu các phƣơng tiện thông tin đại chúng hoặc là có nhƣng hiệu quả không cao, lợi ích và tác hại của thuốc BVTV không đƣợc hiểu biết đầy đủ - Tầm quan trọng của việc sử dụng an toàn thuốc BVTV bị coi nhẹ , ngoài ra còn có thói quen truyền thống trong việc sử dụng đối với các thuốc BVTV này. Các chuyên gia của Tổ chức y tế thế giới WHO ƣớc tính hàng năm có khoảng 14.000 ngƣời Trang: 7 chết, rất không may là đa số các trƣờng hợp này xảy ra ở các nƣớc đang phát triển, một điều cần chú ý là có nhiều yếu tố đặc biệt và điều kiện ảnh hƣởng đến độc tính thuốc BVTV – làm tăng nguy cơ khi sử dụng nhƣ vùng khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ở nhiều nƣớc đang phát triển làm cho công nhân và nông dân gặp khó khăn trong việc sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân và do đó sự tiếp xúc tăng, thêm điều kiện khí hậu nhƣ vậy càng ảnh hƣởng đến quá trình chuyển hoá làm tăng độc tính của thuốc BVTV - Ngoài ra do ra nhiều mồ hôi sự hấp thụ qua da càng trở nên dễ dàng hơn [10]. 2.3.2. Việt Nam Ở Việt Nam thuốc BVTV đã đƣợc sử dụng từ lâu. Trong những năm gần đây thuốc BVTV tăng lên đáng kể cả về số lƣợng lẫn chủng loại. Trên thị trƣờng hiện nay có khoảng 22.000 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV , trung bình mõi tỉnh có khoảng 400- 500 cửa hàng đƣợc rải điều ở các xã , phƣờng trên cả nƣớc . Tuy đây là mặt hàng hạn chế kinh danh và kinh danh có điều kiện . Nhƣng theo thống kê của cục BVTV hiện mới chỉ có 80% cá nhân buôn bán thuốc BVTV đƣợc cấp chứng chỉ hành nghề , 20% hoạt động buôn bán thuốc BVTV không có chứng chỉ , chủ yếu tập trung ở các cửa hàng nhỏ , lẻ vùng sâu vùng xa , nên việc quản lý và kiểm soát rất khó khăn . Hiện nay ở Việt Nam theo danh mục thuốc đƣợc phép sử dụng có 488 hoạt chất , trong đó thuốc trừ sâu 177 hoạt chất , thuốc trừ bệnh 145 hoạt chất , thuốc trừ cỏ 104 hoạt chất , thuốc trừ chuột 13 hoạt chất và các hợp chất khác [12]. Ngoài ra còn có thể có những thuốc ngoài luồng kiểm soát . Hiện nay , ở nƣớc ta thuốc BVTV đƣợc sử dụng rộng rãi ở hộ gia đình , ngƣời dân sử dụng thuốc BVTV rất tuỳ tiện và lạm dụng , tự định ra nồng độ , liều lƣợng , tự thu hoạch khi thấy cần thiết với mục đích thu lại nhiều lợi nhuận kinh tế trƣớc mắt [1] . Điều này ảnh hƣởng tới sức khoẻ không những cho bản Trang: 8 thân họ mà còn cho cả cộng đồng , sức khoẻ của những ngƣời có tiếp xúc với thuốc BVTV đã bị ảnh hƣởng . Sức khoẻ của ngƣới tiêu dùng cũng đang báo động . Nhiều vụ ngộ độc do ăn các loại thức ăn nhƣ : rau , quả …có dƣ lƣợng thuốc BVTV đã liên tục xảy ra và không ít trƣờng hợp tử vong [23]. Trong các loại thuốc BVTV đƣợc sử dụng thì thuốc trừ sâu chiếm tỷ lệ khá cao ( 68,33 – 82,20% ) . hợp chất trừ bệnh chiếm tỷ lệ từ 12,60 – 15,50% , chất diệt cỏ chiếm tỷ lệ 3,30 – 11,9% [24 ] . Theo số liệu của một số đề tài nghiên cứu khoa học , tình hình nhiễm độc thuốc BVTV nhƣ sau : ở tiền giang , từ năm 1986 – 1992 , có 3.167 ngƣời bị nhiễm độc , trong đó 332 trƣờng hợp bị tử vong . [30]. Theo Nguyễn Hồng Tú và Phùng Thị Thanh Tú tứ năm 1993 – 1996 số ngƣời ở 4 tỉnh : Cần Thơ , Tiền Giang , Khánh Hoà , Thừa Thiên Huế bị nhiễm thuốc BVTV là 9.758 ngƣời , trong đó số ngƣời tử vong là 572 ngƣời [30 ] . Theo Bùi Văn Hoan ở Thái Nguyên năm 1993 – 2001 , toàn tỉnh có 33vụ ngộ độc thức ăn , trong đó 50% có liên quan đến sử dụng rau [18 ] . Theo Nguyễn Ngọc Diễn ở Thừa Thiên Huế , từ năm 1992 – 1995 có 528 bị nhiễm độc thuốc BVTV và 40 ngƣời chết [14] . Theo số liệu điều tra của Nguyễn Việt Dũng năm 2004 số trƣờng hợp nhiễm độc thuốc BVTV ở Miền Trung là 285 tăng gấp 17 so với năm 2003 mặc dù không có trƣờng hợp tử vong [15 ] . Kết quả điều tra của Bộ Y Tế - Vụ Y Tế dự phòng năm 2000 cho thấy phụ nử 8 tỉnh nông thôn trọng điểm đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam khi phun thuốc ảnh hƣơng đến sức khoẻ nhƣ sau: 68,8% có dấu hiệu ảnh hƣởng sau khi phun thuốc với các triệu chứng ban đầu là nhức đầu , tức ngực , lợm giọng , buồn nôn [5]. Kết quả điều tra 230 hộ nông dân tại xã Vạn Phú huyện Vạn Ninh năm Trang: 9 2006 cho thấy 84% các hộ gia đình có sử dụng thuốc BVTV , các thuốc BVTV rất đa dạng gồm có 24 chủng loại mà tập chung chủ yếu là thuốc trừ sâu , trừ bệnh , trừ cỏ . Trong đó có cả hóa chất cấm sử dụng nhƣ Wolfatox, mục đích sử dụng cho rau 5,2 %, lúa 31,7%, hoa màu là 13,9%, cây mía là 40%. Số lần phun thuốc / 1 vụ > 10 lần 67,4%, 4 - 10 lần 11%, nơi cất giữ thuốc BVTV ngoài vƣờn 14,8%, cất trong kho 23,1%, chuồn gia súc là 60% , hầu hết các bao bì, chai lọ, sau khi sử dụng đã chôn 46,5%, vứt ngoài ruộng là 53,1%. Tổng số ngộ độc trong năm 2005-2006 là 24 trƣờng hợp , nguyên nhân do pha và phun thuốc là 20,8%, uống nhằm 8,3%,tự tử là 62,5% . Trong 230 hộ điều tra có 80,4 % biết chƣơng trình IPM nhƣng việc áp dụng là rất thấp 24,3% [9]. Các triệu chứng hay gặp ở các đối tƣợng sử dụng thuốc BVTV ở vùng trồng chè, rau lúa, nho là chóng mặt (83,3%) đau đầu (82,52%) ra nhiều mồ hôi (62,26%) tê tay chân (68,60%) đau xƣơng khớp (63,36%) kém ngũ (59,58%) giảm trí nhớ (48,77%) [10]. Cả nƣớc ta có khoảng 11,5 triệu hộ nông nghiệp mỗi hộ ít nhất có một ngƣời sử dụng thuốc BVTV nhƣ vậy số ngƣời tiếp xúc nghề nghiệp với thuốc BVTV ƣớc tính là 11.500.000 ngƣời. Nếu tỷ lệ nhiễm độc mãn tính nghề nghiệp do thuốc BVTV xác định đƣợc là 18,26 % thì trong 11.500.000 đối tƣợng sử dụng thuốc BVTV ƣớc tính ít nhất là 2,1 triệu ngƣời đang nhiễm độc mãn tính nghề nghiệp thuốc BVTV hiện nay trong cả nƣớc [10]. 2.3.3. Tỉnh Sóc Trăng : Sóc Trăng là một thành phố với diện tích 331.004 ha với dân số 1.275.939 ngƣời , gồm 3 dân tộc : kinh là 831.441 ngƣời , hoa là 75.077 ngƣời , khơ me là 369.075 ngƣời , 80% ngƣời dân sống bằng nghề nông, diện tích canh tác tập trung chủ yếu nhƣ: lúa , cây ăn trái , rau màu rất đa dạng, vì thế việc sử dụng Trang: 10 thuốc BVTV là rất phổ biến nhằm khống chế dịch hại cho cây trồng để đảm bảo tăng sản lƣợng cho cây trồng [13]. Theo báo của sở y tế tỉnh Sóc Trăng trong năm 2008 về tình hình nhiễm độc thuốc BVTV cấp tính, toàn tỉnh xảy ra là 832 trƣờng hợp , trong đó nhiễm độc là 132 ca chết 02, tự tử là 700 ca chết 03 . Đây cũng là vấn đề hết sức bức thiết cần cảnh báo đáng quan tâm hiện nay nhằm bảo vệ sức khỏe con ngƣời [26]. 2.4. QUẢN LÝ THUỐC BVTV (Chƣơng trình quản lý dịch hại tổng hợp Integratetd Pest Management – IPM) Đây là phƣơng pháp phòng trừ dịch hại tiên tiến nhất hiện nay, dựa trên cơ sở của qui luật cân bằng tự nhiên trong hệ sinh thái đồng ruộng. “ IPM là một chiến lƣợc nhằm làm cho các biện pháp phòng trừ dịch hại có hiệu quả lâu dài về kinh tế, kỹ thuật, sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi sinh. Chiến lƣợc này không loại trừ hoá chất nông nghiệp mà cũng không dựa hẳn vào hữu cơ tự nhiên. Đó là một tổng hợp của việc sử dụng các giống kháng bền vững, kết hợp với các biện pháp canh tác, sinh học và cả biện pháp hoá học khi cần thiết”. (L.V.Thuyết, H.M. Trung, 1995).Theo định nghĩa này thì rõ ràng là thuốc hoá học, do có những ƣu điểm đặc biệt nên nó vẫn giữ một vị trí và tác dụng quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp. Nhƣng thuốc hoá học cũng có những nhƣợc điểm lớn, khi sử dụng cần chú ý khắc phục [36]. 2.5. DƢ LƢỢNG CỦA THUỐC BVTV Khi phun thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại... thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt vật đƣợc phun (lá cây, trái cây, thân cây, mặt đất, nƣớc) và một lớp chất lắng gọi là dƣ lƣợng ban đầu của thuốc. Kết quả khảo sát 190 mẫu rau của viện vệ sinh y tế công cộng tại một số chợ nội thành và vùng ven TP.HCM tháng 5 – 2004 . kết quả cho thấy có 168 Trang: 11 mẫu rau có dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng gốc hữu cơ (DDT) và lân hữu cơ (Wolfatox) Kết quả xét nghiệm mẫu đất , mẫu nƣớc , dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật tại các điểm trồng rau an toàn ở Hà Nội , Hà Nam , Hƣng Yên , Bắc Ninh điều phát hiện có hàm lƣợng kim loại nặng nhƣ đồng và chì , coliform, dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật cao gấp nhiều lần cho phép . Dƣ lƣợng thuốc BVTV đôi khi còn phát hiện cả trong sữa của các bà mẹ đang cho con bú khi thƣờng xuyên tiếp xúc với thuốc trừ sâu. Kết quả xét nghiệm 47 bà mẹ đang cho con bú tại vùng trồng chè ở Phú Thọ cho thấy dƣ lƣợng thuốc BVTV nhóm lân hữu cơ từ 0,2 đến 0,5 mg /lit trong sữa mẹ. Phân tích sữa của 10 bà mẹ đang nuôi con bú tại vùng trồng nho và hành, tỏi ở Phan Rang và của 10 bà mẹ khác ở Phú Hải, Nha Trang cho thấy sữa của các bà mẹ đều có dƣ lƣợng thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và Clo hữu cơ từ 0,3 - 0,53 mg/lít [19]. Năm 1999 Trung tâm kiểm định thuốc BVTV (Cục BVTV) tiến hành kiểm tra 3 đợt trên 12 loại rau và 11 loại quả tại Thành phố Hồ Chí Minh kết quả dƣ lƣợng thuốc ở phần lớn các mẫu dƣới mức cho phép. Riêng trên rau 1/3 số mẫu có dƣ lƣợng Cypermethrin cao hơn quy định, đáng chú ý là vẫn còn tồn dƣ ở một số thuốc đã cấm sử dụng trong một số mẫu rau và trái cây (nhƣ Methamidophos, Methyl Parathion) [28]. 2.6. ĐỘC TÍNH VÀ ĐƢỜNG XÂM NHẬP CỦA THUỐC BVTV - Việc sử dụng rộng rãi thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đã ảnh hƣởng lớn đến sức khoẻ ngƣời dân . Qua nhiều báo cáo cho thấy số vụ ngộ độc ngày càng gia tăng và số tử vong do sử dụng thuốc BVTV là đáng lo ngại . Một số nghiên cứu khác cho thấy nếu tỷ lệ nhiễm độc là 12,8% thì có khoản 2 triệu ngƣời đang nhiễm độc mạn hiện nay trong cả nƣớc [29]. Trang: 12 - Theo nghiên cứu của Hà Đình Ngƣ , Nguyễn Bá Cẩn (2007) ở Thành Phố Thanh Hoá và vùng phụ cận dƣ lƣợng thuốc BVTV trên rau là 5,5% , trong đó có sử dụng thuốc ngoài danh mục 24 loại thuốc [11]. - Chất độc là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật (ngƣời, động thực vật, vi sinh vật) với liều lƣợng nhỏ đã gây ra những rối loạn về cấu trúc hay chức năng làm chậm sự sinh trƣởng phát triển, dẫn đến những tổn thất cho cơ thể hoặc tử vong. Nhƣ vậy các thuốc BVTV dùng để tiêu diệt các loài dịch hại đều là những chất độc, kể ca đối với ngƣời và động vật khác - Ảnh hƣởng của thuốc BVTV đối với môi trƣờng và hệ sinh thái: Do thuốc bảo vệ thực vật mang tính độc đối với sinh vật và có khả năng vận chuyển, tồn dƣ nên có ảnh hƣởng rất lớn đến môi trƣờng sống và hệ sinh thái. Khi phun thuốc cho cây trồng có tới trên 50% số thuốc bị rơi xuống đất đó là chƣa kể biện pháp bón thuốc trực tiếp vào đất, ngƣời ta cũng ƣớc tính có tới 90% thuốc sử dụng không tham gia vào diệt sâu bệnh mà là gây độc cho đất, nƣớc, không khí và nông sản. - Ảnh hƣởng đối với ngƣời và động vật máu nóng, ngƣời ta chia thuốc BVTV làm 2 nhóm chất độc nồng độc và chất độc tích luỹ. Mức độ gây độc của nhóm chất độc còn phụ thuộc vào lƣợng thuốc xâm nhập vào cơ thể, các thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể con ngƣời qua nhiều đƣờng nhƣ tiếp xúc qua da ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, nƣớc uống hay không khí bị nhiễm thuốc. - Độ độc cấp tính: Thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi là nhiễm độc cấp tính có thể gây chết ngƣời tuỳ thuộc vào liều lƣợng, đƣờng xâm nhập . - Độ độc mãn tính: Lƣợng thuốc có khả năng tích luỹ trong cơ thể ngƣời và động vật máu nóng gây đột biến tế bào, tạo các khối u ác tính phát triển ảnh Trang: 13 hƣởng đến bào thai và gây dị dạng đối với các thế hệ sau. 2.7. CƠ CHẾ GÂY ĐỘC CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT 2.7.1. Thuốc trừ sâu Sau khi xâm nhập vào cơ thể chúng tác động lên hệ thần kinh, là cơ chế gây độc của nhóm thuốc trừ sâu nhóm Clo hữu cơ, lân hữu cơ, Carbamate và Pyrethroid [27]. - Nhóm lân hữu cơ và Carbamate: ức chế hoạt động của men Cholin esteraze làm tê liệt quá trình dẫn truyền kích thích thần kinh. Vớí lân hữu cơ là quá trình Phosphorin hoá, với Carbamate là quá trình carbamil hoá men ChE làm nhiệm vụ dẫn truyền qua các đầu mút thần kinh, acetin cholin không bị thuỷ phân và tích luỹ lại lƣợng lớn làm cho dây thần kinh bị tổn thƣơng và đứt đoạn, làm cho thần kinh bị rối loạn, tê liệt, côn trùng sẽ chết. Đối với ngƣời và động vật khác thuốc lân hữu cơ và carbamate cũng tác động theo cơ chế này. - Nhóm Clo hữucơ, Pyrethroid và Oxyhydro Carbon, là những chất độc đối vớí tế bào thần kinh các chất này liên kết làm cản trở sự vận chuyển của ion qua màng tế bào, làm mất điện thế tạo nên sự dẫn truyền xung động thần kinh, thần kinh bị tê liệt, sâu chết. 2.7.2. Thuốc trừ bệnh Có 2 cơ chế tác động chính. Tác động trực tiếp, ức chế các phản ứng sinh tổng hợp trong tế bào của vi sinh vật gây bệnh. Tác động gián tiếp thuốc làm tăng sức đề kháng của cây ký chủ đối với ký sinh 2.7.3. Thuốc trừ cỏ Hình thành các hoóc môn kích thích sinh trƣởng giả, ức chế quá trình quang hợp, ức chế tổng hợp sắc tố, ức chế phân chia tế bào, ức chế tổng hợp vitamin, ức chế tổng hợp li pít, ức chế tổng hợp Aminoacid…[2]. 2.7.4. Thuốc trừ chuột Trang: 14 Có 3 cơ chế chính. - Gây chết nhanh chuột điển hình là chất Stricnin kẽm phosphur. - Gây chết chậm: Là những chất ức chế tổng hợp vitamin K. - Gây bệnh cho chuột. Vi khuẩn Salmonella gây bệnh đƣờng tiêu hoá. 2.7.5. Chất điều tiết sinh trƣởng cây trồng Các chất này chủ yếu là kích thích sinh trƣởng cây trồng theo các cơ chế chính là: Kích thích tăng trƣởng thể tích tế bào, kích thích hình thành tế bào mới, bổ xung và tăng cƣờng hoạt động của các men trong quá trình tổng hợp. 2.8. CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC CỦA THUỐC BVTV Các triệu chứng bị ngộ độc biểu hiện chung: Mệt mỏi, khó chịu, yếu sức, đối với da ngứa, nóng rát, mẩn đỏ ra mồ hôi nhiều về tiêu hoá nóng rát ở miệng, buồn nôn ói mửa, đau bụng, tiêu chảy [19] Thần kinh: Đau đầu, chóng mặt, choáng váng, bắp thịt co giật, dáng đi lảo đảo, lên cơn co giật, bất tỉnh.  Nhiễm độc cấp tính: Xảy ra đối với các trƣờng hợp tự tử hoặc gặp sự cố khi pha chế thuốc Tại chỗ thƣờng có dấu hiệu kích thích nhƣ bỏng da- niêm mạc, ngứa, viêm… Toàn thân có ba hội chứng điển hình là: + Hội chứng muscarin - Tăng tiết dịch tiêu hoá, nƣớc bọt, mồ hôi. - Đau bụng, nôn mửa, ỉa chảy. - Đồng tử co, màng tiếp hợp đỏ, chảy nƣớc mắt, giảm thị lực, đôi khi nhìn “ một hoá hai”. - Mạch chậm, giảm huyết áp, rối loạn dẫn truyền trong tim, có thể gây phù phổi cấp. - Co thắt thanh quản và tăng tiết dịch phế quản dữ dội, thƣờng là nguyên Trang: 15 nhân gây tử vong ngay trong những giờ đầu. + Hội chứng Nicotin: Thƣờng xuất hiện trong ngộ độc nặng: - Bệnh nhân tỏ ra rất mệt, các chi vận động rất yếu, các thớ cơ bị rung giật, sau cùng liệt cơ dẫn đến liệt hô hấp. - Rối loạn nhịp tim rồi ngừng tuần hoàn (ngừng tim, rung thất, truy mạch). + Hội chứng thần kinh trung ương: - Hôn mê, ức chế hô hấp và đôi khi co giật, ngộ độc nặng có thể ức chế các trung tâm vận mạch, gây suy tuần hoàn cấp và tử vong rất nhanh. *Nhiễm độc mãn tính Chẩn đoán nhiễm dộc mãn tính: Ngoài triệu chứng lâm sàng còn có các yếu tố bắt buộc quan trọng nhƣ sau: - Yếu tố tiếp xúc: Khai thác kỹ nghề nghiệp, thời gian tiếp xúc, tình hình ô nhiễm môi trƣờng lao động. - Định lƣợng hoạt tính men Cholinesteraza trong máu: Khi Cholinesteraza huyết tƣơng giảm > 25% và Cholinesteraza hồng cầu giảm 10 – 20 % đƣợc coi là dấu hiệu báo động nhiễm độc. Vì vậy việc chẩn đoán nhiễm độc mãn đòi hỏi phải định lƣợng men Cholinesteraza định kỳ và về mặt giáo dục y tế phải quán triệt mọi ngƣời sử dụng thuốc BVTV biết rõ các dấu hiệu nhiễm độc để tự phát hiện sớm và báo cáo kịp thời với cơ quan có trách nhiệm [2]. Trang: 16 Chƣơng 2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU - Ngƣời dân trong độ tuổi lao động (Đại diện cho hộ gia đình đƣợc khảo sát, tuổi từ 18 - 60). - Các loại hóa chất bảo vệ thực vật đang lƣu hành tại địa bàn nghiên cứu 2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 2.2.1. Địa điểm nghiên cứu : Chọn xã Kế An thuộc huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng . Xã Kế An là một xã vùng nông thôn cách Trung tâm huyện Kế Sách khoảng 9 km , nhân dân trong xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp, toàn xã có 6 ấp : Số I , Cầu chùa , Lung đen , ấp 19/5, Xóm chòi và ấp Chót dung . Dân số gồm 1.909 hộ, có 8.855 khẩu , trong đó có 1.650 hộ nông nghiệp chiếm tỷ lệ 86,4 % so tổng số hộ. Tổng diện tích tự nhiên 2070 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 1404 ha , cây ăn trái là 480 ha , đất trồng màu 49 ha,còn lại đất trồng lúa là 875ha. Trong xã có 01 hợp tác xã nông nghiệp, có 04 đại lý bán thuốc BVTV trong đó có một đại lý của HTX, còn 3 đại lý khác của tƣ nhân. Chƣơng trình IPM đƣợc triển khai tập huấn từ năm 1993, mỗi năm mở 03 lớp cho các hộ nông dân, riêng năm 2007 mở 02 lớp. Hệ thống phát thanh: có loa đài phát thanh đầy đủ khắp các ấp . Trƣờng học: Có 01 trƣờng cấp II, 03 trƣờng cấp I và 01 trƣờng mẫu giáo 2.2.2.Thời gian nghiên cứu : Thời gian nghiên cứu từ 01/12/2008 đến 30/06/2009 Trang: 17 2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp điều tra ngang, dùng bộ câu hỏi để phỏng vấn , kết hợp quan sát hộ đƣợc phỏng vấn . 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên mô tả cắt ngang 2.3.2. Phƣơng pháp chọn mẫu: Phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn + Cỡ mẫu: Tính theo công thức : Z2 / 2 . p(1  p) n e2 Trong đó: - N: cỡ mẫu ngẫu nhiên - Z2 / 2 . p(1  p) n e2 Z α/2: 1,96 với mức tin cậy 95% - p : tỷ lệ ƣớc đoán 50% - e : sai số cho phép 0,05 n = 1,96 2 x 0,50(1 – 0,50) = 384 0,05 2 + Qui trình chọn mẫu Chọn mẫu theo phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn, mẫu đƣợc lần lƣợt chọn nhƣ sau: chọn các cá thể từ các đơn vị 6 ấp theo cách chọn ngẫu nhiên hệ thống. Ở mỗi ấp, chúng tôi luôn tự tiến hành theo các bƣớc sau: + Lập danh sách các hộ nông nghiệp của các ấp đƣa vào danh sách: có 1650 hộ. Trang: 18 + Đánh số thứ tự theo tên các chủ hộ: sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn đủ số hộ theo phƣơng pháp ngẫu nhiên đơn. 2.3.3. Kỹ thuật thu thập số liệu - Phỏng vấn trực tiếp ngƣời lao động về tình hình sử dụng, bảo quản, xử lý tồn dƣ hóa chất bảo vệ thực vật và ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật. - Phỏng vấn trực tiếp ngƣời lao động những vấn đề liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về hóa chất bảo vệ thực vật. 2.3.4. Công cụ thu thập thông tin Sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị trƣớc về hai vấn đề: - Tình hình sử dụng và bảo quản thuốc hóa chất bảo vệ thực vật. - Kiến thức, thái độ và thực hành của ngƣời lao động về thuốc bảo vệ thực vật. 2.3.5. Nội dung thu thập thông tin - Phỏng vấn trực tiếp ngƣời nông dân độ tuổi từ 18-60 tuổi tại các hộ nông dân xã Kế An đã chọn bằng bộ câu hỏi in sẵn về các vấn đề : + Trình độ học vấn, tuổi, giới , dân tộc, diện tích canh tác, loại cây canh tác, loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng .... + Kiến thức, thái độ và thực hành của ngƣời dân về thuốc bảo vệ thực vật . +Tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bỏ vệ thực vật. + Nởi bảo quản và xử lý tồn dƣ hóa chất bảo vệ thực vật. +Thông tin về các trƣờng hợp ngộ độc đƣợc quản lý ở trạm y tế xã Kế an và bệnh viện đa khoa huyện Kế sách. 2.3.6.Phân tích và xử lý số liệu Kết quả điều tra đƣợc tính toán theo phƣơng pháp thống kê thông thƣờng . Trang: 19 Ƣớc lƣợng thuốc BVTV đã đƣợc sử dụng và theo hàm lƣợng thuốc dùng cho một đơn vị diện tích canh tác . Phân tích đánh giá nhận xét các chỉ số thu đƣợc và bàn luận kết quả nghiên cứu . 2.4. Đạo đức trong nghiên cứu Những hộ đƣợc điều tra đều đƣợc hỏi ý kiến và có sự đồng ý để tham gia vào nghiên cứu. Nhƣng hộ nào không đồng ý thì sẽ không đƣa vào mẫu nghiên cứu và sẽ không có bất cứ đối xử khác biệt nào đối với các hộ này. Thông tin về các hộ đƣợc phỏng vấn cũng nhƣ các trƣờng hợp bị ngộ độc , đặc biệt các trƣờng hợp cố ý tự tử từ thuốc bảo vệ thực vật tuyệt đối đƣợc giữ bí mật. Trang: 20
- Xem thêm -