Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi tại huyện vĩnh linh tỉnh quảng trị năm 2010

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HUẾ BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC LÊ HOÀI NAM NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH TẬT VÀ NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ NĂM 2010 LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1 CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG Mã số: CK. 60 72 73 HUẾ, – 2011 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả BS. Lê Hoài Nam 3 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BMI : Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể) BHYT : Bảo hiểm y tế CSSK : Chăm sóc sức khoẻ CĐ : Cao đẳng ĐH : Đại học NCT : Người cao tuổi PHCN : Phục hồi chức năng PTTH : Phổ thông trung học THCS : Trung học cơ sở TYT : Trạm Y tế HA : Huyết áp HATT : Huyết áp tâm thu HATTr : Huyết áp tâm trương KCB : Khám chữa bệnh UBND : Uỷ ban mhân dân JNC VII : The Seventh report of the joint National Committee on Detection, Evaluation and treatment of high blood pressure, 7/2003 (Báo cáo lần thứ 7 của Uỷ ban quốc gia Hoa Kỳ về phát hiện đánh giá và điều trị tăng huyết áp). NCT : Người cao tuổi THA : Tăng huyết áp VB/VM : Vòng bụng/vòng mông WHO/ISH : Wort Health Organisation/Internatinal Society of Hypertension. (Tổ chức y tế Thế giới/Hội tăng huyết áp quốc tế). WHR : Waist/Hip Ratio (Vòng bụng/vòng mông). 4 MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1 Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................3 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BỆNH TẬT NGƯỜI CAO TUỔI.....................3 1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi...................................................................6 1.1.2. Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi...............................................8 1.1.4. Phân loại bệnh tật ICD 10.......................................................................9 1.2. TÌNH HÌNH BỆNH TẬT NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM.........................................................................................................10 1.3. TÌNH HÌNH NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI. 14 1.3.1. Về tình hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình................................15 1.3.2. Về công tác chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi..............................17 1.3.3. Việc triển khai thực hiện các chính sách CSSK người cao tuổi.............17 1.3. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ.......................................................................................................18 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................20 2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU............................20 2.1.1. Đối tượng..............................................................................................20 2.1.2. Thời gian...............................................................................................20 2.1.3. Địa điểm................................................................................................20 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................................................20 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu...............................................................................20 2.2.2. Cỡ mẫu..................................................................................................20 2.3. NỘI DUNG VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU....................................................21 2.3.1. Bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh ở người cao tuổi.........................21 2.3.2. Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi. 22 2.4. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU..............................23 2.5. KỸ THUẬT THU THẬP THÔNG TIN.......................................................24 2.6. HẠN CHẾ SAI SỐ.......................................................................................25 5 2.7. PHÂN TÍCH, XỬ LÝ SỐ LIỆU..................................................................25 Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................26 3.1. TÌNH HÌNH BỆNH TẬT VÀ NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ...............26 3.1.1. Đặc điểm chung....................................................................................26 3.1.2. Tình hình bệnh tật của người cao tuổi trong 2 tuần qua........................27 3.1.2. Nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi..........................32 3.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI............................................................................................35 Chương 4. BÀN LUẬN.........................................................................................43 4.1. TÌNH HÌNH BỆNH TẬT VÀ NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN VĨNH LINH..............................................................43 4.1.1. Tình hình bệnh tật của người cao tuổi...................................................43 4.1.2. Nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi........................46 4.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI........................................................................................48 KẾT LUẬN............................................................................................................54 KIẾN NGHỊ...........................................................................................................56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 6 DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa điểm.......................................26 Bảng 3.2. Tình hình người cao tuổi mắc các triệu chứng cơ năng trong 2 tuần qua. .27 Bảng 3.3. Các triệu chứng cơ năng của người cao tuổi trong 2 tuần qua.............28 Bảng 3.4. Tình hình mắc bệnh của người cao tuổi trong 2 tuần qua....................29 Bảng 3.5. Tình hình bệnh tật của người cao tuổi theo chương bệnh....................30 Bảng 3.6. Tình hình 10 bệnh mắc cao nhất ở người cao tuổi...............................31 Bảng 3.7. Người cao tuổi mắc các triệu chứng cơ năng và tình hình khám chữa bệnh trong 2 tuần qua..........................................................................32 Bảng 3.8. Người cao tuổi mắc bệnh và tình hình nhu cầu khám chữa bệnh trong 2 tuần qua...............................................................................................32 Bảng 3.10. Tình hình nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi............34 Bảng 3.11. Tình hình nhu cầu luyện tập để nâng cao sức khỏe của người cao tuổi....34 Bảng 3.12. Tình hình mắc bệnh của người cao tuổi trong 2 tuần qua....................35 Bảng 3.13. Tình hình người cao tuổi mắc bệnh theo tuổi.......................................35 Bảng 3.14. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi và học vấn..................36 Bảng 3.15. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi và tình trạng hôn nhân36 Bảng 3.16. Tình hình sinh hoạt bản thân của người cao tuổi.................................37 Bảng 3.17. Tình hình người cao tuổi khám chữa bệnh điều kiện sống, nhà ở, môi trường..................................................................................................37 Bảng 3.18. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi mắc các triệu chứng bệnh và thông tin đại chúng.................................................................38 Bảng 3.19. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi và tham gia các Hội ở địa phương...........................................................................................38 Bảng 3.20. Tình hình nguồn chi tiêu của người cao tuổi........................................39 Bảng 3.21. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi và tình hình kinh tế......39 Bảng 3.22. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi mắc các triệu chứng bệnh và bảo hiểm y tế..........................................................................40 7 Bảng 3.23. Tình hình nhu cầu thuốc của người cao tuổi khi khám bệnh...............40 Bảng 3.24. Tình hình chi phí cho nhu cầu dịch vụ y tế của người cao tuổi...........41 Bảng 3.25. Tình hình người cao tuổi có bệnh THA khám chữa bệnh...................42 Bảng 4.1. So sánh tình hình bệnh tật với các nghiên cứu khác............................45 Bảng 4.2. So sánh tình hình khám chữa bệnh của người cao tuổi theo nhóm tuổi với các nghiên cứu khác......................................................................48 Biểu đồ 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa điểm.....................................26 Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ người cao tuổi có triệu chứng cơ năng theo giới.......................27 Biểu đồ 3.3. Bệnh tật của người cao tuổi theo chương bệnh..................................30 Biểu đồ 3.4. 10 bệnh mắc cao nhất ở người cao tuổi..............................................31 Biểu đồ 3.5. Người cao tuổi mắc bệnh và nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh trong 2 tuần qua...........................................................................................33 Biểu đồ 3.6. Tình hình nhu cầu thuốc của người cao tuổi khi khám bệnh.............41 8 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn: - Ban giám hiệu Trường Đại học Y dược Huế, Phòng đào tạo sau đại học cùng quý thầy cô đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường. - PGS.TS. Nguyễn Văn Tập và các thầy cô thuộc kha y tế Công cộng - trường Đại học y dược Huế đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn. - UBND tỉnh Quảng Trị, Sở y tế tỉnh Quảng Trị, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ tỉnh Quảng Trị, Phòng y tế huyện Vĩnh Linh, Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong thời gian đi học. - UBND, trạm y tế thị trấn Bến Quan, xã Vĩnh Tú, Vĩnh Thạch - huyện Vĩnh Linh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu. - Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới sự động viên chia sẽ và giúp đỡ của gia đình, bạn bè để tôi hoàn thành luận văn này. Tác giả BS. Lê Hoài Nam 9 ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 2008, số người cao tuổi trên thế giới là khoảng 580 triệu người và đến năm 2025 sẽ tăng lên khoảng 2 tỷ người cao tuổi (NCT). Tốc độ dân số già tăng lên nhanh chóng là do tuổi thọ trung bình tăng, giảm tỷ lệ sinh cũng như giảm tỷ lệ tử vong [17], [18]. Xu hướng già hoá dân số kéo theo đó là vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho một số lượng đông đảo NCT trong cộng đồng đang là một thách thức lớn đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21. Tương lai của mỗi quốc gia và toàn nhân loại đang gắn liền với sức khoẻ của những NCT [15]. Việt Nam là một nước đang phát triển, mặc dù hiện tại cấu trúc dân số vẫn thuộc loại trẻ, song số người cao tuổi đang có xu hướng tăng nhanh. Tỷ lệ NCT năm 1989 là 7,2%, năm 2003 là 8,65% và đến năm 2009 theo thống kê của Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam, người cao tuổi ở nước ta là 8,2 triệu người, chiếm 9,5% dân số. Do các đặc điểm về sinh lý, người cao tuổi là đối tượng dễ bị mắc bệnh và có nhiều vấn đề sức khoẻ hơn so với các lứa tuổi khác. Tình hình bệnh tật của người dân nói chung và của NCT nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường, kinh tế, văn hoá- xã hội, chính trị, tập quán,... Nó khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử của mỗi nước. Việc xác định mô hình bệnh tật tại một nơi cụ thể, tại một thời điểm cụ thể, sẽ là cơ sở khoa học giúp cho công tác phòng bệnh, xây dựng kế hoạch cấp cứu và điều trị để giúp hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh. Khi người cao tuổi mắc bệnh thì công tác điều. trị trở nên khó khăn phức tạp và rất tốn kém về kinh tế do vậy công tác tuyên truyền phòng bệnh cho người cao tuổi đang là vấn đề đặt ra hết sức quan tâm của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy Nhà nước ta đã có pháp lệnh chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi. Cũng như các nước đang phát triển khác số lượng người già ở Việt Nam ngày càng tăng lên. Xu hướng già hoá dân số đang đặt ra nhân loại đứng trước hàng loạt những thử thách to lớn và một trong những thử thách đó là vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho một số lượng đông 10 đảo người cao tuổi trong cộng đồng [8]. Tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị số lượng người cao tuổi trung bình hàng năm cũng tương đối cao, năm 2009 số người cao tuổi trên địa bàn toàn huyện là 14.412 người chiếm 15,7% dân số, trong đó nam giới là 6.732 người chiếm 46,7%, nữ giới là 7.680 chiếm 53,3%. Vấn đề chăm sóc bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi không phải là mới, chính sách đã khá cụ thể, song dường như triển khai chưa được đều khắp. Nếu các đoàn thể có quan tâm hơn nữa thì việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi sẽ được giải quyết tốt hơn nhiều. Chúng ta sẽ thực hiện thành công chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi là lớp người cần được xã hội tôn vinh trọng thị và bảo vệ chăm sóc [15]. Cũng như bối cảnh chung của cả nước, vấn đề người cao tuổi trên địa bàn Huyện Vĩnh Linh đã và đang trở thành mối quan tâm của Đảng, của các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương song thực tế nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi hiện nay nhìn chung còn chưa được đáp ứng đúng, đầy đủ và kịp thời do thiếu mô hình bệnh tật ở người cao tuổi. Để góp phần vào chiến lược chăm sóc, phòng bệnh cho người cao tuổi hiện tại và trong tương lai đồng thời cung cấp những thông tin cơ bản về mô hình bệnh tật người cao tuổi trên địa bàn, đáp ứng tốt hơn nữa việc tuyên truyền, phòng bệnh chữa bệnh cho người cao tuổi và đề xuất biện pháp can thiệp phù hợp. Đây chính là lý do để thực hiện đề tài này: “Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị năm 2010”, với mục tiêu: 1. Mô tả tình hình bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh người cao tuổi tại huyện Vĩnh Linh. 2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi. 11 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BỆNH TẬT NGƯỜI CAO TUỔI Lớp người cao tuổi hiện nay không chỉ có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, một bộ phận đông đảo người cao tuổi Việt Nam đã và đang có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [26]. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân; Quốc hội đã ban hành luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Chính phủ đã ban hành nhiều Chỉ thị, Quyết định để thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngành y tế đã có nhiều cố gắng trong tổ chức triển khai thực hiện nên công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân và người cao tuổi đã đạt được nhiều thành tựu [7], [39]. Nhu cầu khám chữa bệnh là khả năng đi đến các cơ sở y tế khác nhau với từng người dân khi ốm đau, vì điều đó không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, nó phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân. Có nhiều yếu tố tác động đến việc lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh, bao gồm: Các yếu tố chủ quan thuộc về bản thân người nhu cầu, có những yếu tố nãy sinh từ môi trường xã hội và cả những yếu tố xuất phát từ phía người cung cấp dịch vụ [5]. Dịch vụ khám chữa bệnh là dịch vụ chi phí toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thức vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện và hiệu quả các nhiệm vụ ngày càng tăng của cộng đồng vì con người [11]. Kể từ năm 1987 khi tuyên ngôn Alma-Ata về chăm sóc sức khỏe ban đầu ra đời đến nay, chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người dân nói chung, người cao tuổi nói riêng, y tế cộng đồng đã có nhiều thay đổi rõ rệt. Chính phủ các nước đã cam kết tìm giải pháp đổi mới hệ thống y tế theo hướng đáp ứng nhu cầu, giảm bớt thiếu công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế và trong phân bố ngân sách tài chính, nâng 12 cao chất lượng y tế. Do vậy công bằng y tế thể hiện trong tiếp cận và nhu cầu dịch vụ y tế là mục tiêu xây dựng chính sách, chiến lược y tế công cộng trong cải cách hệ thống y tế hiện nay [9]. - Về kinh tế. Khi phải lựa chọn một dịch vụ y tế nào đó, con người luôn tư duy theo các nguyên lý kinh tế nhằm đạt được lợi ích tối đa với mức chi phí hiện có. Cách đề cập này tỏ ra có ưu thế trong việc xem xét trình tự, trong đó người dân tiếp cận thực tế với các dịch vụ, sự chuyển dịch vụ này sang dịch vụ khác như: Tự mua thuốc chữa, đi khám y tế tư nhân, đến cơ sở y tế Nhà nước hoặc cơ sở y tế tư nhân khác,... Tùy thuộc vào sự tiện lợi, thuận tiện trong khoảng cách, thời gian đi lại, sự tiếp đón hoặc thái độ ân cần chu đáo, chi phí khám chữa bệnh, thời gian chữa trị và chất lượng kỹ thuật để có lựa chọn thích hợp với khả năng kinh tế, sự quan tâm đến bệnh tật của chính những người cao tuổi trong gia đình và mức độ trầm trọng của bệnh tật. Đây cũng là cách được các nhà chính sách, nhà nhân y học dùng xem xét thái độ tìm kiếm của người dân trước một vấn đề y tế cụ thể [21]. Qua cách đề cập hành vi ứng xử trong chăm sóc sức khỏe, sự tiếp cận có thể được xem là khả năng đang được các dịch vụ y tế mới đáp ứng việc khám chữa bệnh của người dân, đánh giá các yếu tố. Không gian, thời gian và chi phí, chất lượng dịch vụ,... - Khoảng cách: Với phương tiện giao thông, thông tin liên lạc và vô tuyến hiện đại, Việt Nam hiện nay có rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng dành những trang viết, khoảng thời gian quý báu trên truyền hình để đưa thông tin về y học như Truyền hình Hà Nội có mục Y học bốn phương, Sức khoẻ trong cuộc sống hôm nay. Mô hình sử dụng sự chỉ dẫn các chuyên gia trong nước cũng như nước ngoài từ xa để mổ những ca khó được truyền hình trực tiếp thông qua mạng điện tử [26], góp phần phát hiện sớm và xử trí kịp thời. - Chi phí: Đắt hay rẻ, chi trả được, không có khả năng chi trả, vay nợ,... Đây là vấn đề người nhu cầu dịch vụ y tế rất quan tâm. - Chất lượng dịch vụ y tế: Trình độ chuyên môn, thái độ, tinh thần phục vụ, phương tiện kỹ thuật,... Điều quan trọng và quyết định trong sự lựa chọn nhu cầu 13 chung là thầy thuốc giỏi, có kinh nghiệm, kỹ thuật chuyên môn đầy đủ, có giá trị tin cậy cao và thái độ phục vụ cũng là yếu tố cần thiết niềm tin lựa chọn. - Ngoài ra, còn có các yếu tố khác, văn hóa, tập quán,... Trong các yếu tố trên thực tế tùy thuộc vào trường hợp bệnh lý và thói quen của người dân khi lựa chọn và đã bao hàm vấn đề chất lượng chuyên môn, chi phí của cơ sở cung cấp dịch vụ y tế. Nổi trội lên tất cả nơi mà người dân thường nhu cầu và có niềm tin từ trước, nhu cầu nhu cầu y tế hay hành vi tìm kiếm sức khỏe hoạt động để duy trì, nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe [28]. Hổ trợ mua bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nghèo và diện chính sách, vận động nhân dân tham gia BHYT. Về phía gia đình, vấn đề CSSK người cao tuổi cũng còn nhiều vấn đề hạn chế, nó phụ thuộc vào trình độ nhận thức của bản thân, kinh tế gia đình và khả năng xác định đưa ra các lựa chọn của người cao tuổi khi họ đau ốm. Ở nước ta cũng như các nước khác, các yếu tố quyết định nhu cầu dịch vụ y tế của người dân cũng tương tự, có thể tập hợp thành các nhóm sau: - Kinh tế: Do đời sống kinh tế ngày càng được cải thiện, chăm sóc y tế ngày càng tốt hơn nên tuổi thọ trung bình của nhân dân ngày càng cao, vì vậy số lượng người cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng. Do các đặc điểm về sinh lý, người cao tuổi là đối tượng dễ bị mắc bệnh và có nhiều vấn đề sức khoẻ hơn so với các lứa tuổi khác. Qua một số nghiên cứu về tình hình sức khoẻ của người cao tuổi cho thấy người cao tuổi thường hay bị mắc các bệnh thoái hóa và bệnh mạn tính. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa mô hình bệnh tật do người cao tuổi tự nhận định và mô hình bệnh tật do thầy thuốc phát hiện; Thực tế đây là yếu tố quyết định nhất đối với người dân có thu nhập thấp. Mặc dù Nhà nước cũng đã quan tâm rất nhiều đến khám chữa bệnh cho người nghèo nhưng cũng chưa giải quyết căn nguyên của vấn đề. - Các yếu tố của con người như trình độ học vấn, hiểu biết, thói quen... về sức khỏe cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sức khỏe và bệnh tật. - Các yếu tố như khám chữa bệnh, tư vấn y tế phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ như: Chất lượng, trính độ, thái độ, thời gian phục vụ,... 14 - Tiếp cận và nhu cầu khám chữa bệnh: Từ khi đất nước ta đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ và ưu tiên chăm sóc cho người cao tuổi (NCT) như khám chữa bệnh miễn phí, ưu tiên trong các dịch vụ y tế công cộng, cấp thẻ BHYT, xây dựng các cơ sở khám bệnh chuyên khoa cho NCT. Sự quan tâm đó của Đảng, Nhà nước và toàn dân dành cho NCT đã được thể hiện trong Hiến pháp, Luật chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, các văn kiện, các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định, Pháp lệnh của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về chăm sóc NCT. Nhưng tiếp cận và nhu cầu khám chữa bệnh không luôn song hành với nhau, nghĩa là có nhu cầu khám chữa bệnh không phụ thuộc mức độ bệnh hiện thời và sự tác động, tư vấn của thầy thuốc và nhiều yếu tố khác. 1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi Việc phân chia già trẻ theo tuổi không phản ánh chính xác quá trình sinh học. Có người có tuổi nhưng vẫn còn trẻ, khoẻ mạnh trái lại, cũng có người chưa nhiều tuổi nhưng đã có những biểu hiện già.Vì vậy phân chia theo tuổi chỉ có tính ước lệ và có giá trị tương đối [3],[5]. Theo Tổ chức Y tế thế giới xắp xếp các lứa tuổi như sau: Người trẻ: Từ 18-44 tuổi Người trung niên: Từ 45-59 tuổi Người cao tuổi: Từ 60-74 tuổi Người già: Từ 75-89 tuổi Người già sống lâu: Trên 90 tuổi Năm 1950 trên toàn thế giới số người cao tuổi mới chỉ là 214 triệu người đến năm 1975 đã là 346 triệu người, năm 2000 có 590 triệu người và ước tính năm 2025 là 1 tỷ 121 triệu người như vậy trong vòng 75 năm từ 1950-2025 tăng 423% hoặc trong vòng 50 năm (1975-2025) tăng 223% một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử loài người. Sự gia tăng này ở cả những nước phát triển và các nước đang phát triển. ước tính năm 2025 số người cao tuổi ở các nước đang phát triển sẽ chiếm đến 72% tổng số người cao tuổi trên toàn thế giới. 15 Tỷ lệ người cao tuổi so với dân số từ 8,5% vào năm 1950 sẽ tăng lên 13,7% vào năm 2025 và đến năm đó cứ 7 người dân thì có 1 người cao tuổi trên phạm vi toàn tế giới. Tốc độ tăng cũng không đều giữa các nước. Để tăng tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên từ 7% dân số lên 14% (gấp đôi) Pháp phải mất 115 năm, Thuỵ Điển 85 năm, Anh 45 năm, Mỹ 75 năm, Cộng hoà Liên bang Đức 45 năm, Nhật 25 năm. Trên thế giới số người từ trên 80 tuổi là 15 triệu vào năm 1950, sẽ là 111 triệu người vào năm 2025, tăng 640% ở các nước phát triển tỷ lệ tăng là 450% còn ở những nước đang phát triển tỷ lệ đó là 875%. ước tính sẽ có 17 nước đến năm 2025 có hơn 1 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Năm 1975 số người cao tuổi ở nông thôn (54%) nhiều hơn thành thị (46%) đến năm 2000, số người ở thành thị là (55%) nhiều hơn số người ở nông thôn là (45%). Ở các nước phát triển năm 1975 cứ 3 người cao tuổi thì 2 người sống ở thành thị, nhưng đến năm 2000, cứ 4 người cao tuổi thì 3 người sống ở thành phố. Số người cao tuổi tăng là do tuổi thọ trung bình được nâng cao. Tuổi thọ trung bình ở một số nước hiện nay như sau Nhật (Nam 73,8 - nữ 80,5), Thuỵ Điển (Nam 73,8 - nữ 79,9), Hà Lan (Nam 73,l - nữ 79,0), Australia (Nam 72,1- Nữ 78,7), Canada (Nam 72,l - nữ 79,0), Đức (Nam 70,5 - nữ 77,l). Tại Việt Nam tuổi thọ trung bình hiện nay là 72-73 tuổi [5]. Việt Nam là một nước đang phát triển, số người cao tuổi đang có xu hướng tăng nhanh.Theo thống kê của Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam, người cao tuổi ở nước ta là 8,2 triệu người, chiếm 9,5% dân số [20].Theo dự báo, Việt Nam sẽ chính thức trở thành quốc gia có dân số già (tỉ lệ người trên 60 tuổi lớn hơn 10%) vào năm 2014. Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm nữa Việt Nam sẽ phải đối mặt với các khó khăn do việc "già hóa dân số" mang lại. Hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng và mặt bằng kinh tế, dân trí của nước ta còn thấp. Nếu như Việt Nam không sự chuẩn bị tốt ngay từ bây giờ thì chắc chắn trong những năm tới áp lực của việc "già hóa dân số" ngày càng đè nặng lên xã hội. Hậu quả là việc chăm sóc mang tính toàn diện đối với người cao tuổi ở nước ta khó có thể thực hiện được tốt [17], [20]. 16 1.1.2. Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi - Bệnh tim mạch: Thường gặp cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, tâm phế mạn, rối loạn nhịp tim. - Bệnh hô hấp: Viêm phế quản mạn, hen phế quản. - Bệnh hệ tiêu hoá: Ung thư gan xơ gan, viêm loét dạ dầy - tá tràng. - Bệnh thận và tiết niệu: Viêm thận mạn, sỏi tiết niệu, u xơ tiền liệt tuyến. - Bệnh xương khớp: Viêm khớp, vôi hoá cột sống. - Bệnh xương khớp: Loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp, gãy xương các loại, biến dạng xương các loại. - Bệnh nội tiết chuyển hóa: Đái tháo đường, suy giáp, suy sinh dục, tăng chlesterol máu, tăng acid uric máu, suy vỏ thượng thận. - Bệnh về máu và cơ quan tạo máu: Thiếu máu do thiếu sắt, hội chứng tăng đông máu, thiếu máu do thiêú acid folic hoặc vitamin B12, bệnh bạch cầu (cấp và mạn tính), u tủy xương, ung thư hạch. - Bệnh tự miễn: Những loại có tự kháng thể kháng gama globulin, tự kháng thể kháng nhân, tự kháng thể đặc hiệu (kháng hồng cầu, kháng giáp, kháng niêm mạc dạ dày). Ngoài ra, người già hay gặp tự miễn dịch tiềm tàng. - Bệnh về mắt: Đục thủy tinh thể, glôcôm, thoái hóa võng mạc và mạch máu, xơ cứng tuần tiến các mạch võng mạc, teo dây thần kinh thị giác. - Bệnh về tai - mũi - họng: Giảm thích lực, rối loạn tiền đình, chảy máu cam, viêm xoang, ung thư xoang (xoang hàm, xoang sàng, vòm mũi họng) - Bệnh răng - hàm - mặt: Tình trạng mất nhiều răng, viêm thoái hóa quanh răng, viêm khớp thái dương hàm, tân sản u lành tính và u ác tính trong khoang miệng. - Bệnh ngoài da: Ngứa tuổi già, dày sừng tuổi già, u tuyến mồ hôi, xuất huyết da, mụn cơm, rụng tóc, tổn thương tiền ung thư và ung thư hắc tố, ung thư biểu mô, teo niêm mạc sinh dục nhất là nữ. - Bệnh tâm thần: Trầm cảm, hoang tưởng, sa sút trí tuệ kiểu Alzheimen - Bệnh thần kinh: Bệnh parkinson, rối loạn tuần hoàn não, viêm đa dây thần kinh, chèn ép dây thần kinh do thoái hóa cột sống. 17 Tinh thần ý thức và tự lực cánh sinh của mỗi người cao tuổi là quan trọng, song sự chủ động hướng dẫn và tổ chức của các đoàn thể hữu quan và tổ chức chính quyền cũng có vai trò quyết định [15],[38]. Lớp người cao tuổi cần nâng cao ý thức tự bảo vệ sức khoẻ, nhưng xã hội cũng cần tạo điều kiện và có trách nhiệm cao trong việc bảo vệ sức khoẻ của lớp người cao tuổi, phải coi vấn đề sức khoẻ là trung tâm của cuộc sống [15], mặt khác xã hội và bản thân người cao tuổi cần quan niệm đúng về tầm quan trọng của sức khoẻ lớp người cao tuổi, một bộ phận có ảnh hưởng đặc biệt đối với đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị trong toàn xã hội với số lượng đang gia tăng trong nhân dân [15], [38]. Nếu các đoàn thể quan tâm hơn nữa thì vấn đề bảo vệ chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi sẽ được giải quyết tốt hơn nhiều. Chúng ta sẽ thực hiện thành công chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi là lớp người cần được xã hội tôn vinh kính trọng. ), Tổ chức y tế thế giới công bố áp dụng ICD 10 từ ngày 01/01/1993 [15] . 1.1.4. Phân loại bệnh tật ICD 10 Danh mục phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 là sự nối tiếp và hoàn thiện hơn về cấu trúc, phân nhóm và mã hoá của các phân loại bệnh tật quốc tế trước đây. Phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 đã được Tổ chức Y tế thế giới triển khai xây dựng từ năm 1983. Danh mục gồm có 21 chương, mỗi chương gồm một hay nhiều nhóm bệnh liên quan [13]. Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật Chương II: Khối u Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và một số rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch. Chương IV: Bệnh nội tiết dinh dưỡng và chuyển hoá Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi Chương VI: Bệnh hệ thần kinh Chương VII: Bệnh mắt và phụ cận Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm 18 Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn Chương X: Bệnh hệ hô hấp Chương XI: Bệnh hệ tiêu hoá Chương XII: Bệnh da và mô đới da Chương XIII: Bệnh hệ cơ - Xương và mô liên.kết Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu- Sinh dục Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm sắc thể Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở nơi khác. Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài. Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong Chương XXI: Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và việc tiếp súc với cơ quan y tế. 1.2. TÌNH HÌNH BỆNH TẬT NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM - Tình hình bệnh tật người cao tuổi trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới tháng 6/2002, dân số thế giới là 6,122 tỷ người. Mô hình sức khỏe bệnh tật đặc trưng của các nước đang phát triển là các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng và đan xen vào bệnh lý tim mạch, đái đường, ung thư, chấn thương [1]. [42] Pháp, Chassgron nghiên cứu trên 1.103 và Delore nghiên cứu trên 1.134 bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên nằm điều trị tại bệnh viện đã gặp bệnh thần kinh tỷ lệ 33% và 15,5%, bệnh tim mạch tỷ lệ 21% và 22,6%; bệnh hô hấp tỷ lệ 15% và 21,4%; bệnh tiêu hoá tỷ lệ 9% và 14%; bệnh máu tỷ lệ 3,2% và 1,3%; bệnh về xương khớp 8% và 7,2%; bệnh về nội tiết 4,8% và 11,4%. 19 Charraud nghiên cứu trên 1000 người cao tuổi ở Châu Âu thấy có 4 nhóm bệnh hay gặp nhất: tim mạch 8,2%, xương khớp 51,8%, tinh thần kinh 27,6%; hô hấp 25,8%. Vignat phân tích 2.070 bệnh của 1.842 người cao tuổi tại viện dưỡng lão Charité ở Saint-Etient (Pháp) thấy bệnh tim mạch tỷ lệ 18,6%, bệnh hô hấp 5,2%, bệnh tâm thần 13,3%, Suy nhược cơ thể 12,6%; Bệnh mạch máu não 11,9%; Xương khớp 7,2%; Tiêu hóa 3,7%, ung thư 3,2%, Bệnh giác quan 1,2%, Bệnh tiết niệu 0,8%; Liên quan đến giang mai 0,6%, Bệnh máu 0,5%, Hôn mê 0,4%. Việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi “Nỗi bận tâm trước mắt của Tổ chức y tế thế giới là nhằm cải thiện tình trạng và chất lượng sống của họ chứ không chỉ là đơn giản kéo dài hy vọng sống lâu của họ [41]. Để đạt được mục đích đó, các công trình phòng ngừa, điều trị, phục hồi chức năng thoải đáng cần phải mang tới cho họ”, S.T.Han - Giám đốc phục hồi chức năng vùng Châu Á Thái Bình Dương [8]. - Tình hình bệnh tật người cao tuổi ở Việt Nam Theo nghiên cứu của Viện Lão khoa từ 1989 - 1991 đã tiến hành điều tra mẫu đại diện cho 4 vùng địa dư của miền Bắc Việt Nam. Qua kết quả điều tra những bệnh nội khoa phổ biến nhất là: xương khớp, hô hấp, tim mạch, và tiêu hoá. Bệnh khớp đặc biệt cao ở miền núi, bệnh tim mạch đặc biệt cao ở khu vực thành thị. Tỷ lệ bệnh nội khoa mỗi cụ trung bình mắc gần 2 bệnh. Các cụ ở thành thị có sức khoẻ tốt hơn các cụ sống ở nông thôn, tỷ lệ sức khoẻ loại tốt còn thấp, loại kém còn nhiều, đa số loại trung bình [23]. Trần Thanh Hà và Phạm Khuê nghiên cứu mối liên quan giữa tăng huyết áp và tăng Cholesterol ở NCT thấy ảnh hưởng của tăng Cholesterol máu kéo theo tăng huyết áp với tỷ lệ khá cao trên 50% [12]. Nghiên cứu tình hình mắc bệnh cấp cứu NCT ở Hà Nội năm 1993, theo Trần Đức Thọ và Nguyễn Xuân Bình thấy 1/3 số bệnh nhân được cấp cứu là NCT trong đó tai biến mạch máu náo (39,9%), bệnh tim mạch (21,9%), chấn thương và tai nạn (7,1%), xuất huyết tiêu hoá (3,9%), các bệnh khác (15%) [26]. 20 Qua một số nghiên cứu trong và ngoài nước về chăm sóc y tế, xã hội và tình trạng sức khoẻ NCT chưa đặc biệt chú ý tới nghiên cứu tại cộng đồng trên qui mô cả nước để xác định nhu cầu chăm sóc y tế-xã hội và thực trạng tìm kiếm và mức độ sử dụng dịch vụ CSSK, khám chữa bệnh của NCT, nhất là ở vùng nông thôn với hơn 70% người cao tuổi đang sinh sống; để có những giải pháp chăm sóc nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT trên toàn quốc. Đoàn Yên, Lương Chí Thành và cộng sự nghiên cứu tại 7 tỉnh trong cả nước thì khoảng 60% người cao tuổi bị ốm trong thời gian 4 tuần trước thời điểm điều tra. Khoảng 70% số người cao tuổi được điều tra tại 3 tỉnh cho biết có mắc triệu chứng của bệnh mạn tính: Tăng huyết áp 28,4%; Biểu hiện của bệnh trầm cảm 5%; Người cao tuổi nhu cầu dịch vụ y tế Nhà nước khi bị ốm là 40%. Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ nhu cầu dịch vụ bệnh viện thấp hơn 2 lần so với nhóm tuổi từ 60-64 do khả năng đi lại hạn chế [40]. Theo nghiên cứu của Viện Lão khoa, bệnh khớp đặc biệt cao ở vùng miền núi, bệnh tim mạch đặc biệt cao ở vùng thành thị [38]. Phạm Khuê nghiên cứu 435 người cao tuổi nằm điều trị tại bệnh Viện Lão khoa năm 1993, gặp nhiều nhất là bệnh tim mạch 59,6%; Tiêu hóa 39%; Hô hấp 35,6%; Bệnh tiết niệu sinh dục 10,8%; Bệnh thần kinh 4,6%; Bệnh về máu 4,1% [18]. Trần Đức Thọ nghiên cứu 3 xã phường của Hà Nội, Huế, Vũng Tàu năm 2001, nhóm bệnh về mắt cao nhất là 94,6%; Bệnh tai-mũi-họng 77%; Bệnh tim mạch 70,7%; Bệnh xương khớp 55,7% [33]. So với các bệnh mắc chung ở các lứa tuổi theo niên giám thống kê y tế năm 2001, cao nhất là bệnh hô hấp 18,6%; Bệnh nhiễm khuẩn 11,4%; Bệnh tim mạch 9,38%; Bệnh về mắt 2,25%; Bệnh tâm thần kinh 3,27% [6]. Dương Huy Lương nghiên cứu 288 NCT tại 2 xã nội, ngoại thành Hà Nội năm 2004 thấy bệnh khớp 20,3%; Bệnh hô hấp 18,8%; Bệnh tiêu hóa 14,5%; Bệnh tim mạch 15,9% [24]. Nguyễn Văn Hiến nghiên cứu 3829 bệnh nhân người cao tuổi vào điều trị tại bệnh viện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa năm 2006 cho thấy. Bệnh tuần hoàn 17,34%;
- Xem thêm -