Nghiên cứu thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng việt nam thời kỳ 2000- 2010

  • Số trang: 49 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây VN đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế của thế giới. Vị thế của VN ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế, chúng ta đã là thành viên của các tổ chức hợp tác quốc tế như ASEAN, APEC, đặc biệt năm 2007 chúng ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới ( WTO) cánh cửa hội nhập đã thực sự mở ra đối với VN. Trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế thực hiện nhiệm vụ thiên niên kỷ xây dựng đất nước công bằng, văn minh. Với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp thì vai trò của nghành công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp khai khoáng là vô cùng quan trọng. Khai khoáng là ngành tạo ra những sẩn phẩm là nguyên liệu, năng lượng cho toàn bộ ngành sản xuất công nghiệp Việt Nam. Chính vì thế trong chiến lược phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách thúc đẩy ngành khai khoáng nhằm đáp ứng yêu cầu về nhiên liệu, năng lượng cho những ngành khác và đảm bảo được an ninh năng lượng quốc gia. Xuất phát từ thực trạng, vai trò quan trọng của ngành khai khoáng, với những kiến thức của mình trong thời gian học tại khoa thống kê trường ĐHKTQD và hiểu biết trong thời gian thực tập tại vụ công nghiệp- tổng cục thống kê, em chọn đề tài:”Nghiên cứu thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Việt Nam thời kỳ 2000- 2010” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình. Do đặc điểm của nguồn số liệu nên em chỉ nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp của ngành khai khoáng. Mục đích nghiên cứu của đề tài là nêu lên thực trạng của ngành khai khoáng Việt Nam trong thời kỳ 2000- 2010. Qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy ngành khai khoáng phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai. Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề thực tập gồm 3 chương : Chương 1: Những lý luận chung về kết quả sản xuất của ngành khai khoáng Việt Nam Chương 2: Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thống kê phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Chương 3: Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh ngành khai khoáng Việt Nam thời kỳ 2000- 2010 Em xin chân thành cảm ơn các bác,anh chị ở vụ công nghiệp-tổng cục thống kê tạo điều kiện cho em về nguồn số liệu cũng như những tiếp xúc thực tế trong thời gian Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 1 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân thực tập. Em xin chân thành cảm ơn Th.s Đỗ Văn Huân đã tậ tình hướng dẫn để em hoàn thành chuyên đề của mình. Sinh viên thực hiện Dương Văn Lưu Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 2 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH CỦA NGÀNH KHAI KHOÁNG VIỆT NAM 1.1 Đặc điểm của ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngành công nghiệp khai khoáng Khai khoáng là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ khoáng sản. Khai khoáng ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước). Đặc điểm chung của ngành khai khoáng : -Hoạt động của ngành gắn liền tại những nơi có chứa các mỏ, quặng khoáng sản. Để có thể khai thác được các mỏ khoáng sản này thì các doanh nghiệp khai thác phụ thuộc rất nhiều vào dây truyền công nghệ hiện đại, độ đảm bảo an toàn lao động cho người lao động cao. Bởi công nhân làm việc trong các mỏ khoáng sản thường làm việc trong môi trường độc hại với mật độ cao. - Ngành khai khoáng là trực tiếp khai thác tài nguyên quốc gia cho nên chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước để đảm bảo chương trình an ninh năng lượng của quốc gia. Đa số các doanh nghiệp trong ngành phải đóng mức thuế nộp vào ngân sách nhà nước là rất lớn. - Sản phẩm của ngành là các nhiên, vật liệu cho các ngành công nghiệp khác. Vì vậy sự phát triển của ngành là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp nói chung của Việt Nam. 1.1.2 Phân loại trong ngành Trong bảng phân ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam, theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/1/2007 thì hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được chia thành 5 cấp : có 21 ngành cấp1 ( được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U), 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5. Ngành khai khoáng có hai hình thức phân tổ: - Phân tổ theo các thành phần kinh tế. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 3 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân + Kinh tế nhà nước: Là những doanh nghiệp mà nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, gồm có: → Doanh nghiệp nhà nước trung ương: Là những doanh nghiệp chịu sự quản lý trực tiếp từ các bộ, ban nghành trực thuộc của chính phủ. VD: tập đoàn than khoáng sản Việt Nam, tập đoàn dầu khí Việt Nam ... → Doanh nghiệp nhà nước địa phương: Là những doanh nghiệp chịu sự quản lý trực tiếp của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập dựa trên nguồn tài nguyên vốn có của địa phương mình. + Kinh tế ngoài quốc doanh: Gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý mà nhà nước ban hành theo từng loại doanh nghiệp. Cụ thể gồm có: → Doanh nghiệp tập thể ( hợp tác xã ): Là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. → Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. → Doanh nghiệp hỗn hợp: Doanh nghiệp hỗn hợp ngoài quốc doanh là các đơn vị kinh tế được thành lập trên cơ sở liên doanh giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể → Kinh tế cá thể: Là cơ sở kinh tế nơi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên, có địa điểm xác định và có ít nhất là 1 lao động chuyên nghiệp thực hiện hoạt động kinh tế tại điểm đó. + Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài : gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 4 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân Khu vực này có hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước. - Phân tổ theo ngành cấp 2 Ngành khai khoáng là ngành cấp 1 thứ 2 ( được mã hóa bằng chữ cái B) gồm có 5 ngành cấp 2 ( từ mã số 05 đến 09), cụ thể: + 05. Khai thác than cứng và than non + 06. Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên + 07. Khai thác quặng kim loại + 08. Khai khoáng khác + 09. Hoạt động dịch vụ khai thác mỏ và quặng 1.1.3 Phạm vi ngành Ngành khai khoáng gồm: Khai thác khoáng tự nhiên ở dạng cứng (than và quặng), chất lỏng (dầu thô) hoặc khí (khí gas tự nhiên). Khai thác có thể được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau như dưới lòng đất hoặc trên bề mặt, khai thác dưới đáy biển...; Ngành này cũng gồm: - Các hoạt động phụ trợ như chuẩn bị các nguyên liệu thô cho kinh doanh ví dụ nghiền, cắt, rửa sạch, phân loại, nung quặng, hoá lỏng gas và các nhiên liệu rắn. Các hoạt động này thường được thực hiện bởi các đơn vị khai thác mỏ và / hoặc các đơn vị khác gần đó; - Các hoạt động khai thác mỏ được phân vào các nhóm cấp 2, cấp 3, cấp 4 trên cơ sở các khoáng chất chủ yếu được sản xuất. Ngành 05, 06 liên quan đến khai thác các nhiên liệu hoá thạch (than đá, than bùn, dầu mỏ, gas); ngành 07, 08 đề cập đến quặng kim loại, sản xuất các sản phẩm quặng và khoáng khác; Một số hoạt động kỹ thuật của ngành này, cụ thể là liên quan đến khai thác hydrocacbon, cũng có thể được thực hiện cho bên thứ 3 bởi các đơn vị chuyên môn như là một đơn vị dịch vụ công nghiệp được phân vào ngành 09 (Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng). Loại trừ: Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 5 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân - Chế biến các loại nguyên liệu đã khai thác được phân vào ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo); - Sử dụng các quặng được khai thác mà không có sự chuyển đổi nào thêm cho mục đích xây dựng được phân vào ngành F (Xây dựng); - Đóng chai các loại nước khoáng thiên nhiên tại các suối và giếng được phân vào nhóm 1104 (Sản xuất đồ uống không cồn, nước khoáng); - Nghiền, ép hoặc các xử lý khác đối với đất, đá và chất khác không liên quan đến khai thác mỏ, quặng được phân vào nhóm 23990 (Sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu); - Thu thập, làm sạch và phân phối nước được phân vào nhóm 36000 (Khai thác, xử lý và cung cấp nước); - Chuẩn bị mặt bằng cho khai thác mỏ được phân vào nhóm 43120 (Chuẩn bị mặt bằng); - Điều tra địa vật lý, địa chấn được phân vào nhóm 7110 (Hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan). 1.1.4 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của ngành Vai trò của ngành khai khoáng có thể được biểu diễn như mô hình dưới đây: Doanh nghiệp Nhà nước: đóng góp thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu vào ngân sách nhà nước. Ngành khai khoáng Người dân: tạo việc làm thúc đẩy phát triển kinh tế các tỉnh vùng sâu Công nghiệp luyện kim CN chế tạo CN điện tử CN xây dựng Qua mô hình trên ta có thể thấy ngành khai khoáng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Đối với Nhà nước thì đó là phần thuế được nộp vào ngân sách, theo Luật sửa đổi được thông qua tháng 12/2010 và bắt đầu có hiệu lực ngày 1/7/2011 thì thuế khai thác các khoáng sản đều đồng loạt tăng lên so với trước. Điều này cho thấy mức đóng Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 6 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân góp của ngành khai khoáng trong nền kinh tế được nâng lên. Đối với người dân thì đó là tạo ra nhiều việc làm hơn với mức thu nhập cao, đặc biệt là những vùng có các mỏ khoáng sản khai thác. Không những thế khi khai thác khoáng sản thì đồng thời cũng thúc đẩy sự phát triển cả những khác của địa phương đó. Bởi vì sản phẩm của ngành khai khoáng là những nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp luyện kim, công nghiệp chế tạo, công nghiệp xây dựng... 1.2 Một số khái niệm cơ bản về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Việt Nam. 1.2.1 Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình vận động, biến đổi các yếu tố đầu vào là các chi phí và kết quả đầu ra là các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh với hai mục tiêu: - Tạo ra và cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, qua đó đạt doanh số tối đa. - Tạo ra giá trị thặng dư và phấn đấu đạt mức lợi nhuận tối đa. Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh: - Mục đích của các doanh nghiệp là thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra của cải vật chất và dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội bằng việc bán ra những sản phẩm của mình trên thị trường. - Hoạt dộng sản xuất kinh doanh phải hạch toán được đầy đủ chi phí bỏ ra và kết quả thu được đồng thời đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình các doanh nghiệp cần phải tính toán đầy đủ các loại chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra sản phẩm gồm cả chi phí vật chất và chi phí dịch vụ. Trên cơ sở đó hạch toán lỗ lãi và đánh giá hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp các doanh nghiệp luôn luôn phải đồng hành với người tiêu dùng, phải luôn nắm được các thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường cũng như nhu cầu của người tiêu dùng để từ đó xác định được số Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 7 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân lượng hàng hóa cần sản xuất, chủng loại, mẫu mã, kích thước, giá cả và chất lượng sản phẩm. - Hoạt động sản xuất kinh doanh chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới. Các chính sách về kinh tế, thương mại và luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. 1.2.2 Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh của daonh nghiệp ngành khai khoáng. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp khai khoáng là hoạt động sử dụng kết hợp các yếu tố đầu vào tạo ra sản phẩm công nghiệp khai khoáng và cung cấp cho cá đối tượng sản xuất và tiêu dùng trong và ngoài nước, nhằm mang lại thu nhập cho tập thể lao động của doanh nghiệp. Đặc điểm của hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngành khai khoáng : - Với hơn 5000 điểm mỏ thuộc 60 loại khoáng sản được phát hiện và khai thác, tiềm năng khoáng sản Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng. Nếu tách riêng than và dầu khí, các công ty khoáng sản hiện nay chủ yếu khai thác các loại quặng kim loại (sắt, titan, mangan, vàng, kẽm, đồng, antimony) và các khoáng sản phi kim -vật liệu xây dựng (VLXD) (đá, cát, sỏi, cao lanh, thạch anh). - Do cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp sản xuất- chế tạo và xây dựng, sự phát triển của ngành phụ thuộc rất lớn vào chu kỳ phát triển của nền kinh tế thế giới. Nhu cầu và giá bán nhiều loại khoáng sản được quyết định bởi thị trường thế giới. - Triển vọng của ngành khoáng sản còn nhiều tiềm năng trong dài hạn, được hỗ trợ bởi sức cầu từ sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và thế giới, đặc biệt là nhân tố Trung Quốc; và sức cung là trữ lượng khoáng sản phong phú của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả đầu tư của ngành đang suy giảm tương đối so với các lĩnh vực khác, do đầu tư mới chú trọng đến việc mở rộng mà chưa đầu tư theo chiều sâu, chủ yếu dừng ở việc xuất khẩu quặng và tinh quặng với giá trị thấp hơn nhiều giá kim loại phải nhập khẩu về. Do vậy, trong thời gian tới, ngành cần phát triển theo hướng tăng cường chế biến sâu, bên cạnh việc thăm dò, mở rộng mỏ mới. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 8 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân - Ngoài ra, chính sách pháp luật của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện, có thể tác động đến hoạt động của ngành: Luật khoáng sản 2011 sẽ thay đổi cơ chế cấp phép thăm dò khai thác mỏ theo cơ chế đấu giá; ngoài ra biểu thuế của nhiều loại khoáng sản được điều chỉnh theo hướng tăng lên làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp. 1.2.3 Khái niệm về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng. Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng là các sản phẩm hữu ích của hoạt động khai thác được biểu hiện dưới hai hình thái là: sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ, do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Nội dung của kết quả sản xuất kinh doanh. Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do lao động của chính doanh nghiệp đó làm ra, đạt tiêu chuẩn chất lượng theo những quy định về tiêu chuẩn chất lượng quốc gia và quốc tế, đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội. Kết quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo được lợi ích của người tiêu dùng và của doanh nghiệp. Lợi ích của người tiêu dùng là khi họ trả chi phí cho những sản phẩm đó thì họ muốn và phải được sử dụng những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, mẫu mã, số lượng... phù hợp với giá cả thị trường. Lợi ích của doanh nghiệp là sản xuất ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn theo quy định mà vẫn đảm bảo thu được lợi nhuận, kết quả thu về phải cao hơn chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Kết quả sản xuất kinh doanh mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Lợi ích đó biểu hiện bằng việc tiết kiệm chi phí, tiền của, thời gian của xã hội. Sản xuất của doanh nghiệp đảm bảo sự phát triển bền vững, không làm thiệt hại đến môi trường của xã hội. Những sản phẩm vật chất do doanh nghiệp tạo ra làm tăng thêm của cải vật chất cho xã hội, còn những sản phẩm phi vật chất ( sản phẩm dịch vụ) không có hình thái cụ thể, không thể cân đo, đong đếm được nhưng đang ngày càng chiếm vị trí cao trong nền kinh tế quốc dân. Các dạng biểu hiện của kết quả sản xuất kinh doanh. Sản phẩm vật chất: là nhưng sản phẩm sau quá trình khai thác, chế biến có giá trị sử dụng mói và được đo lường bằng đơn vị hiện vật ( gồm các đơn vị tự nhiên và đơn vị Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 9 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân vật lý). Những sản phẩm đó khi làm xong được chuyển sang khâu tiêu thụ và trở thành hàng hóa. Sản phẩm dịch vụ: là những công việc phục vụ có tính chất công nghiệp, gọi tắt là dịch vụ công nghiệp. Những công việc này thường được đo bằng đơn vị tiền tệ. Sản phẩm công nghiệp chỉ được coi là kết quả hoạt động của doanh nghiệp khi nó đạt hai yêu cầu: - Do chính lao động của doanh nghiệp tạo ra thông qua dây truyền sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp mình. - Có tính hữu ích, thỏa mãn yêu cầu nhất định của sản xuất và tiêu dùng, phù hợp với lợi ích kinh tế và trình độ văn minh của tiêu dùng xã hội. 1.2.4 Các sản phẩm ngành khai khoáng Việt Nam. Khai khoáng là ngành khai thác khoáng sản hiện có ở Việt Nam, sản phẩm của ngành rất phong phú và đa dang, phụ thuộc và điều kiện tự nhiên và trình độ khai thác của nước ta. Các sản phẩm này chính là sản phẩm cấp cấp 5 của ngành khai khoáng được liệt kê trong bảng phân ngành kinh tế. Cụ thể: + Than: có than cứng và than non. + Dầu thô và khí đốt tự nhiên + Các quặng kim loại: có quặng kim loại quý hiếm, quặng sắt và quặng không chứa sắt ( như: quặng uranium,quặng thorlum, quặng bôxit ...). + Các sản phẩm khác: đá, cát, sỏi, đất sét, hóa chất và phân bón, than bùn muối.. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 10 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân CHƯƠNG 2. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÀNH KHAI KHOÁNG 2.1.Xác định hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng. 2.1.1 Yêu cầu và nguyên tắc xác định hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh. - Yêu cầu: + Hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu được mối quan hệ giữa các bộ phận cũng như giữa các mặt của kết quả sản xuất kinh doanh và giữa kết quả sản xuất kinh doanh với các yếu tố liên quan, trong khuôn khổ của việc đáp ứng mục đích nghiên cứu. + Trong hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh phải có chỉ tiêu mang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận của tổng thể và các chỉ tiêu phản ánh các nhân tố để phản ánh một cách đầy đủ kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng. + Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán của các chỉ tiêu cùng loại. Có như vậy mới phản ánh đúng kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng. - Nguyên tắc xác định hệ thống chỉ tiêu: + Đảm bảo tính hướng đích: là phải lựa chọn chỉ tiêu thích hợp để đảm bảo phù hợp với mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu. + Đảm bảo tính hệ thống: đối với các chỉ tiêu có tính chất và hình thức phát triển khác nhau phải áp dụng các phương pháp phân tích khác nhau. Mặt khác, có rất nhiều phương pháp thống kê khác nhau để phân tích nhưng mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau nên ta phải sử dụng kết hợp các phương pháp để phân tích các chỉ tiêu một cách có hệ thống. + Đảm bảo tính khả thi: dựa vào yêu cầu, mục đích nghiên cứu và nguồn số liệu thu thập được để lựa chọn những chỉ tiêu thích hợp nhất. + Đảm bảo tính hiệu quả: chỉ tiêu được chọn để phân tích phải đảm bảo được đúng với yêu cầu cần đặt ra, dễ hiểu và có hiệu quả nhất. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 11 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân 2.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Việt Nam. Nguyên tắc tính giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA) công nghiệp, của ngành khai khoáng Việt Nam. Giá trị sản xuất và các chỉ tiêu khác của ngành khai khoáng được tính theo phương pháp công xưởng, nghĩa là không được tính trùng giá trị sản xuất của các phân xưởng trong phạm vi một đơn vị sản xuất. Chỉ tính vào giá trị sản xuất công nghiệp các kết quả hoạt động cuối cùng của các doanh nghiệp, không tính các kết quả trung gian ( chu chuyển nội bộ). Phải tính đầy đủ kết quả sản xuất của các đơn vị, tổ chức và cá nhân thường trú của Việt Nam có hoạt động khai khoáng trong tất cả các ngành, các thành phần kinh tế. Như vậy, trong một đơn vị sản xuất công nghiệp, ngoài phần sản xuất chính là công nghiệp ra còn có sản xuất phụ khác thì phải đưa phần sản xuất phụ này về các ngành kinh tế tương ứng. Ngược lại những đơn vị sản xuất của các ngành khác có sản xuất công nghiệp thì đưa phần công nghiệp này về ngành công nghiệp chung của nền kinh tế quốc dân. Kết quả sản xuất của thời kỳ nào thì được tính cho thời kỳ đó, không được đem kết quả sản xuất của thời kỳ này tính cho thời kỳ khác và ngược lại. Nghĩa là khi xác định giá trị sản xuất của ngành khai khoáng, ngoài sản phẩm hoàn thành và bán ra ngoài trong thời kỳ còn kể cả chênh lệch sản phẩm dở dang cuối kỳ trừ (-) đầu kỳ, thành phẩm tồn kho cuối kỳ trừ (-) đầu kỳ... Giá để tính các chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng là giá thực tế và giá so sánh với năm gốc. Giá thực tế là giá của người sản xuất công nghiệp ngành khai khoáng bán thực tế trên thị trường và trên sổ sách hạch toán của thời kỳ báo cáo. Giá so sánh với năm gốc là giá thực tế của một năm nào đó được chọn làm năm gốc để so sánh, nhằm phản ánh tốc độ và xu thế phát triển của các chỉ tiêu qua các thời kỳ khác nhau. 2.2.1 Giá trị sản xuất ( GO ). Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 12 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân Khái niệm: Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ giá trị của các sản phẩm vật chất và dịch vụ hữu ích do lao động công nghiệp của doanh nghiệp làm ra trong một thời kỳ và là bộ phận chủ yếu của chỉ tiêu GO ching của toàn doanh nghiệp công nghiệp. - Ý nghĩa của chỉ tiêu GO trong hoạt động sản xuất công nghiệp. + Phản ánh qui mô về kết quả của hoạt dộng sản xuất công nghiệp. + Là cơ sở tính cá chỉ tiêu VA, NVA của doanh nghiệp. + Là căn cứ tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. + Dùng để tính GDP, GNP của nền kinh tế quốc dân. - Phương pháp tính GO của hoạt động sản xuất công nghiệp. GO của hoạt động sản xuất công nghiệp tính theo giá sử dụng cuối cùng gồm các yếu tố sau: + Doanh thu thuần của hoạt động sản xuất công nghiệp. + Trợ cấp của nhà nước. + Chênh lệch thành phẩm tồn kho. + Chênh lệch hàng gửi bán. + Thuế sản xuất khác. + Thuế sản phẩm. + Cước vận tải và phí thương nghiệp. - Các yếu tố cấu thành GO GO = C1 + C2 + V + M Trong đó: • C1 là khấu hao TSCĐ của tất cả các hoạt động có trong doanh nghiệp công nghiệp. • C2 là chi phí trung gian (IC) bao gồm chi phí vật chất và chi phí dịch vụ. • V là thu nhập lần đầu của người lao động ( quỹ phân phối lần đầu) cho người lao động. Gồm 2 khoản chính là: Tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập có tính chất Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 13 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân lương khác, và tiền trích vào các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, TCTT của chủ doanh nghiệp đóng cho người lao động. • M là thu nhập lần đầu của chủ doanh nghiệp. Bao gồm: giá trị thặng dư, thuế sản xuất và thu nhập hỗn hợp nếu có. - Nguồn thông tin: + Từ tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ TK 511 + Doanh thu hoạt động tài chính TK 515 + Doanh thu tiêu thụ thành phẩm TK 512 + Xác định kết quả sản xuất kinh doanh TK 911 2.2.2 Giá trị gia tăng (VA). - Khái niệm: Giá trị gia tăng là phần giá trị tăng thêm của kết quả sản xuất kinh doanh công nghiệp của doanh nghiệp trong một thời kỳ, được tạo bởi hai yếu tố sản xuất có vai trò tích cực là lao động sống và tư liệu lao động. Vì vậy chỉ tiêu bao gồm giá trị mới sáng tạo của lao động và giá trị chuyển dịch ( hay hoàn vốn) của tài sản cố đinh. - Ý nghĩa: + Xem xét mối quan hệ phân chia lợi ích giữa người lao động với doanh nghiệp và nhà nước. + Phản ánh thành quả lao động của doanh nghiệp và mức đóng góp đích thực của mỗi doanh nghiệp vào kết quả sản xuất của nền kinh tế. + Đảm bảo sự công bằng hợp lý trong việc tính thuế VAT. + Là cơ sở tính GDP và GNI của nền kinh tế quốc dân. - Phương pháp tính. VA được tính theo 2 phương pháp: + Phương pháp sản xuất. VA = GO – IC (C2) + Phương pháp phân phối. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 14 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân VA bao gồm các yếu tố sau: + Thu nhập của người sản xuất. + Thuế sản xuất. + Khấu hao tài sản cố định (C1). + Thu nhập hỗn hợp. + Gía trị thặng dư. Đối với thành phần kinh tế tư nhân, cá thể không thể tính riêng được phần thu của người sản xuất và giá trị thặng dư vì vậy tổng của 2 chỉ tiêu này được ghi vào “ thu nhập hỗn hợp”. VA = V + M + C1 Gía trị gia tăng của ngành khai khoáng được tính từ 2 phương pháp trên phải bằng nhau. Nếu chênh lệch lớn cần kiểm tra lại số liệu ban đầu của các cơ sở. - Nguồn thông tin. + TK 334 phải trả công nhân viên. + TK 622 chi phí công nhân trực tiếp. + TK 333 thuế và các khoản phải nộp nhà nước. + TK 6424 chi phí khấu hao TSCĐ. 2.2.3 Giá trị gia tăng thuần (NVA). - Khái niệm. Giá trị tăng thuần là chỉ tiêu biểu hiện phần giá trị mới sáng tạo của lao động sản xuất kinh doanh công nghiệp của doanh nghiệp. Ý nghĩa: Chỉ tiêu nói lên vao trò của lao động trong việc tạo ra nguồn thu nhập cho các đối tượng khác nhau và sự đóng góp của lao động doanh nghiệp và kết quả chung của nền kinh tế. Vì vậy NVA là cơ sở tính chỉ tiêu VA, nghiên cứu quan hệ thu nhập giữa người lao động, doanh nghiệp và nhà nước. - Phương pháp tính: NVA được tính theo 2 phương pháp. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 15 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân + Phương pháp sản xuất. NVA = VA – C1 + Phương pháp phân phối. NVA = V + M 2.2.4 Doanh thu tiêu thụ ( DT). - Khái niệm. Doanh thu tiêu thụ là tổng giá trị các mặt hàng sản phẩm công nghiệp của doanh nghiệp đã tiêu thụ và thanh toán trong kỳ. - Ý nghĩa. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh donh theo doanh số thực tế thu được, là cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định theo công thức: DT = Trong đó: • p: là giá bán đơn vị sản phẩm i. • q: là sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i trong kỳ. - Phương pháp tính. Tổng hợp doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp có 2 hình thức sau: + Theo hình thái biểu hiện: doanh thu gồm nhưng yếu tố sau • Doanh thu tiêu thụ thành phẩm từ kết quả sản xuất của doanh nghiệp. • Doanh thu do chế biến thành phẩm cho khách hàng đặt hàng. • Doanh thu bán phế phẩm, phế liệu. • Doanh thu từ dịch vụ sản xuất cho bên ngoài. • Giá trị sản phẩm sản xuất để lại tiêu dùng trong doanh nghiệp. + Theo thời kỳ thanh toán: doanh thu gồm những yếu tố sau Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 16 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân • Doanh thu sản phẩm vật chất và dịch vụ đã hoàn thành và tiêu thị trong kỳ thanh toán. • Doanh thu sản phẩm vật chất và dịch vụ hoàn thành trong các kỳ trước được tiêu thụ và thu tiền trong kỳ này. • Tiền thu từ việc bán sản phẩm trong các kỳ trước mới được thanh toán trong kỳ này. - Nguồn thông tin. + TK 511 doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ. + TK 515 doanh thu hoạt động tài chính. + TK 711 thu nhập khác. 2.2.5 Doanh thu thuần (DTT). - Khái niệm. Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu. - Ý nghĩa. Doanh thu thuần là cơ sở xác định lãi (lỗ) ròng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Phương pháp tính. DTT = DT – ( Các khoản giảm trừ doanh thu) Các khoản giảm trừ doanh thu gồm: + Thuế sản xuất: thuế sản phẩm ( thuế VAT, tiêu thụ đặc biệt, xuất nhập khẩu..), thuế sản xuất khác ( thuế đất, thuế môn bài,.... các khoản lệ phí phải nộp cho cơ quan nhà nước). + Giảm giá hàng bán : giá trị hàng đã bán bị trả lại, chi phí sữa chữa hàng hư hỏng còn trong thời hạn bảo hành... 2.2.6 Lợi nhuận (M). - Khái niệm. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 17 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân Lợi nhuận kinh doanh là chỉ tiêu biểu hiện khối lượng giá trị thặng dư do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong kỳ. - Ý nghĩa. Phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động kinh doanh, phục vụ đánh giá việc thực hiện mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiệp. - Phương pháp tính. Lợi nhuận kinh doanh = doanh thu kd – chi phí kd M = - DT - CP Nguồn thông tin. Lợi nhuận bao gồm từ các thành phần sau: + Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. + Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động tài chính. + Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động khác, bất thường. 2. 3. Xác định một số phương pháp thống kê phân tích kết quả sản xuất kinh doanh. 2.3.1.Phương pháp phân tổ. - Khái niệm. Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hoặc một số tiêu thức nào đó tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và tiểu tổ sao cho các đơn vị trong cùng một tổ thì giống nhau về tính chất, khác tổ thì khác nhau về tính chất. - Ý nghĩa. + Dùng phân tổ để chọn ra các đơn vị điều tra. + Là phương pháp cơ bản của tổng hợp thống kê. + Là cơ sở và là một phương pháp phân tích thống kê. - Tác dụng. Với ý nghĩa nêu trên thì phương pháp phân tổ thống kê có những tác dụng chủ yếu sau : + Phân tổ thống kê nghiên cứu các loại hình kinh tế xã hội. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 18 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân + Phân tổ thống kê nghiên cứu mỗi liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các tiêu thức của hiện tượng. + Phân tổ thống kê nghiên cứu kết cấu nội bộ tổng thể. 2.3.2 Bảng thống kê. - Khái niệm. Bảng thống kê là một hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ rang, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu. - Ý nghĩa. Bảng thống kê giúp tổng hợp kết quả điều tra thành dạng rõ rang nhất, phục vụ cho việc phân tích được diễn ra thuận lợi và chính xác nhất. - Tác dụng. Giúp cho nhà nghiên cứu tiến hành tiến hành so sánh, đối chiếu, phân tích theo các phương pháp khác nhau, nhằm nêu lên sâu sắc bản chất của hiện tượng nghiên cứu. Nếu biết trình bày và sử dụng thích đáng các bảng thống kê thì việc chứng minh vấn đề sẽ trở nên rất sinh động, có sức thuyết phục lớn. 2.3.3 Đồ thị thống kê. - Khái niệm. Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu tả có tính chất quy ước các số liệu thống kê. - Ý nghĩa và tác dụng. + Đổ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày và phân tích các đặc điểm số lượng của hiện tượng. Vì thế giúp cho người xem không cần mất nhiều công đọc mà vẫn nhận thức được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng, nhanh chóng. + Các đồ thị thống kê không trình bày tỉ mỉ, chi tiết các đặc trưng số lượng của hiện tượng mà chỉ nêu lên một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất và xu hường phát triển cơ bản của hiện tượng. Vì vậy, đồ thị làm cho người ít hiểu biết về thống kê Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 19 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Huân cũng có thể lĩnh hội được vấn đề mà người nghiên cưu nêu ra một cách dễ dàng và chính xác. 2.3.4 Phương pháp dãy số thời gian. - Khái niệm. Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian. - Ý nghĩa và tác dụng. Qua dãy số thời gian có thể nghiên cứu các đặc điểm về sự biến động của hiện tượng, vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự phát triển đồng thời để dự đoán các mức độ trong tương lai. 2.3.5 Phương pháp chỉ số. - Khái niệm Chỉ số trong thống kê là số tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của một hiện tượng nghiên cứu. - Ý nghĩa và tác dụng. + Dùng chỉ số để nghiên cứu biến động của các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh qua thời gian. Các chỉ số tính theo mục đích này thường được gọi là chỉ số phát triển, được tính bằng cách so sánh mức độ của hiện tượng ở 2 thời gian khác nhau ( kỳ nghiên cứu và kỳ gốc). + Nêu lên sự biến động của kết quả sản xuất kinh doanh qua những điều kiện không gian khác nhau: giữa 2 địa phương, 2 doanh nghiệp... các loại chỉ số này thường được gọi là chỉ số không gian. + Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch về các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh. Các chỉ tiêu này gọi là chỉ số kế hoạch. + Dùng chỉ số để phân tích vai trò và ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với sự biến động cuẩ toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh. 2.3.6 Phương pháp số tương đối. - Khái niệm. Sinh viên thực hiện: Dương Văn Lưu 20
- Xem thêm -