Nghiên cứu thành phần hóa học của cây lược vàng

  • Số trang: 78 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI PHAN THỊ BÍCH PHƢỢNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY LƢỢC VÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ HÀ NỘI - 2013 BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI PHAN THỊ BÍCH PHƢỢNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY LƢỢC VÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ Ngƣời hƣớng dẫn: 1. TS. Nguyễn Quỳnh Chi 2. TS. Nguyễn Thị Minh Hằng Nơi thực hiện: Viện Hóa Sinh Biển HÀ NỘI - 2013 M ƠN . . - - . . . ng 5 năm 2013 Sinh viên MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………… 1 Chƣơng 1. TỔNG QUAN………………………………………………...... 2 1.1. Thực vật học…………………………………………………………..... 2 1.1.1 Vị trí phân loại của chi Callisia Loefl…………………………………. 2 1.1.2. Đặc điểm chung của chi Callisia Loefl……………………………….. 1.1.3. Đặc điểm chung của loài Callisia fragrans 2 (Lindl.) Woodson.......................................................................................................... 3 1.2. Công dụng của cây Lược vàng dùng trong dân gian…………………… 3 1.2.1.Trên thế giới………………………………………………………....... 3 1.2.2. Ở Việt Nam………………………………………………………....... 4 1.2.3. Các chế phẩm của cây Lược vàng……………………………………. 4 1.3. Các nghiên cứu trên thế giới về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây Lược vàng……………………………………………………….. 6 1.3.1. Nghiên cứu thành phần hóa học…………………………………........ 6 1.3.2. Nghiên cứu về tác dụng dược lý……………………………………… 9 Chƣơng II.ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Nguyên liệu và thiết bị…………………………………………………. 12 2.1.1. Nguyên liệu…………………………………………………………… 12 2.1.2. Hóa chất và thuốc thử………………………………………………… 12 2.1.3. Thiết bị và máy móc sử dụng trong nghiên cứu……………………… 12 2.2. Nội dung nghiên cứu………………………………………………….... 13 2.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….. 13 2.3.1. Phương pháp chiết xuất……………………….................................. 13 2.3.2. Phương pháp phân tích, phân tách các hỗn hợp và phân lập chất sạch…………………………………………………………………………... 13 2.3.3. Kĩ thuật kết tinh……………………………………………………….. 15 2.3.4. Các phương pháp xác định cấu trúc………………………………...... 15 2.3.4.1. Phổ khối lượng (MS)…………………………………………… 2.3.4.2. phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)…………………………… 15 15 Chƣơng III: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1. Điều chế các cắn chiết từ vòi cây Lược vàng (Callisia fragrans (Lindl.) Woodson)…………………………………………………………………….. 16 3.2. Nghiên cứu thành phần hóa học của cắn chiết etyl axetat……………… 17 3.2.1.Khảo sát cắn etyl axetat bằng sắc kí lớp mỏng……………………...... 18 3.2.2.Phân tách cắn etyl axetat để phân lập các chất sạch………………..... 18 3.2.2.1. Tiến hành chạy sắc kí cột………………………………………….. 19 3.2.2.2. Tinh chế các phân đoạn…………………………………………….. 19 3.2.3. Xác định cấu trúc của các chất đã phân lập…………………………. 25 3.2.3.1. Cấu trúc của VLV3………………………………………………… 25 3.2.3.2. Cấu trúc của VLV2………………………………………………… 29 3.2.3.3. Cấu trúc của VLV4………………………………………………… 32 3.2.3.4.Cấu trúc của VLV5……………………………………………......... 34 3.3. Bàn luận………………………………………………………………… 37 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT………………………………………………... 39 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT NMR: Nucleur Magnetic Resonance (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân) 1H NMR: Proton Nuclear Magnetic Resonance (Phổ cộng hưởng từ proton) 13C NMR: Carbon (13) Nuclear Magnetic Resonance (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C) DEPT: Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer (phổ DEPT) HMBC: Heteronuclear Multiple Bond Correlation (phổ HMBC) HSQC: Heteronuclear Single Quantum Coherence (phổ HSQC) ESI-MS: Electron Spray Impact Mass Spectrometry, phổ khối phun mù điện tử. s: singlet b: broad d: doublet o: overlapping t: triplet dd: double doublet q: quartet dq: double quartet δH, δC: Độ chuyển dịch hóa học của proton và cacbon. ppm: parts per million, phần triệu. TLC: Thin Layer Chromatography, Sắc kí bản mỏng. CC: Column Chromatography, Sắc kí cột thường. MeOH: metanol CH2Cl2: Diclometan EtOAc: Etyl axetat H2O: Nước MDA: malondialdehhyd TMS: Tetra metylsilan EC50: Nồng độ có hiệu quả trên 50% tế bào thử nghiệm. LD50: Liều gây chết 50% động vật thử nghiệm. Kt: kết tinh Tên riêng của các hợp chất tự nhiên phân lập được được viết theo nguyên bản tiếng Anh cho tiện tra cứu. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1. Giá trị Rf của VLV5 trong các hệ dung môi khác nhau Bảng 3.2. Giá trị Rf của VLV4 trong các hệ dung môi khác nhau Bảng 3.3. Giá trị Rf của VLV2 trong các hệ dung môi khác nhau Bảng 3.4. Giá trị Rf của VLV3 trong các hệ dung môi khác nhau Bảng 3.5. Dữ liệu phổ 1H NMR (500 MHz) và 13C NMR (125 MHz) của VLV2 và VLV3 Bảng 3.6. Dữ liệu phổ 1H NMR (500 MHz) và 13C NMR (125 MHz) của VLV4 và VLV5 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1. Cây Lược vàng Callisia fragrans (Lindl.) Woodson Hình 1.2. Một số chế phẩm từ cây Lược vàng được bán ở Nga HÌnh 1.3. Một số chế phẩm từ cây Lược vàng ở Việt Nam Hình 1.4. Các hợp chất phenolic từ cây Lược vàng Hình 1.5. Cấu trúc của 1 số hợp chất sterol và cerebosit chiết từ cây Lược vàng Hình 1.6. Cấu trúc hóa học của Isoorientin, L-Tryptophan và Ginsenoid Rg 1 Hình 3.1. Quy trình điều chế các cắn chiết từ vòi cây Lược vàng Hình 3.2. Sắc kí đồ phân đoạn etyl axetat dưới ánh sáng tử ngoại ở λ= 254 nm và sau khi phun thuốc thử ceri sulfat Hình 3.3. Sắc kí đồ và tinh thể của VLV5 Hình 3.4. Sắc kí đồ và tinh thể của VLV4 Hình 3.5. Sắc kí đồ và tinh thể của VLV2 Hình 3.6. Sắc kí đồ và tinh thể của VLV3 Hình 3.7. Quy trình phân tách cắn etyl axetat và phân lập các chất sạch 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa, các dân tộc Châu Á đã biết sử dụng các loại cỏ, cây, hoa, lá trong tự nhiên để chữa trị bệnh tật. Tuy nhiên, sự kết hợp hài hòa giữa các vị thuốc cây cỏ chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm dân gian về công dụng của các loại thảo dược. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhu cầu hiểu biết của con nguời về các loại thảo dược cũng ngày càng đòi hỏi sâu sắc hơn. Việc đi sâu nghiên cứu thành phần hóa học để hiểu rõ nguồn gốc hoạt tính của các cây thuốc chữa bệnh đã trở thành một lĩnh vực thu hút được nhiều sự chú ý của giới khoa học. Ở nước ta, việc sử dụng cây cỏ để chữa bệnh rất phổ biến trong dân gian. Thời gian gần đây có nhiều thông tin về tác dụng chữa bệnh có hiệu quả của cây Lược vàng còn gọi là Lan vòi. Đây là một loài cây thuộc họ Thài Lài (Commelinaceae) vốn có nguồn gốc từ Trung Mỹ với tên khoa học là Callisia fragrans (Lindl.) Woodson . Trong dân gian, Lược vàng đã được sử dụng rất rộng rãi trong việc hỗ trợ và chữa trị các bệnh như: ung thư, bỏng, viêm, nhiễm, lao phổi, bệnh tim mạch… Tuy nhiên, phần lớn các thông tin về tác dụng chữa bệnh của cây Lược vàng là thông tin truyền miệng còn chưa được chứng minh rõ ràng bằng các nghiên cứu khoa học. Chính vì vậy, Hội người cao tuổi Việt Nam đã đề nghị Viện Hàn lâm Khoa Học và Công nghệ Việt Nam xúc tiến nghiên cứu về cây Lược vàng để tìm ra những hoạt chất có tác dụng chữa bệnh nhằm chứng minh và làm sáng tỏ các tác dụng chữa bệnh của cây Lược vàng. Theo hướng nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các cây thuốc có công dụng quý báu và kết hợp với đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Hóa sinh biển - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chúng tôi đã lự ng nghiên cứu của khóa luận này với tiêu đề “Nghiên cứu thành phần hóa học của cây Lược vàng” theo các mục tiêu sau: - Phân lập các chất có trong cắn etyl axetat; - Xác định cấu trúc các chất phân lập được. 2 Chƣơng I: TỔNG QUAN 1.1. Thực vật học 1.1.1. Vị trí phân loại của chi Callisia Loefl. Cây Lược vàng thuộc chi Callisia Loefl., một chi thuộc họ Thài lài (Commelinaceae). Vị trí của chi Callisia Loefl. trong hệ thống phân loại thực vật được tóm tắt như sau [1]: Giới: Plantae Ngành: Angiospermae (Ngọc lan) Lớp: Monocotyledones (Hành) Phân lớp: Commelinidae Bộ: Commelinales Họ: Commelinaceae Chi: Callisia Loefl. Cây Lược vàng còn có tên gọi là Lan vòi, Địa lan vòi, Lan rủ, Bạch tuộc giả khóm… 1.1.2. Đặc điểm chung của chi Callisia Loefl. Callisia Loefl. là một chi nhỏ thuộc họ Thài lài (Commelinaceae). Chi này có khoảng 20 loài tập trung ở châu Mỹ với trung tâm phân bố ở Mexico. Những loài thuộc chi có dạng thân thảo, sống nhiều năm hiếm khi là cây một năm. Rễ mảnh, vài loài có dạng củ. Thân trườn hoặc bò sát. Lá lưỡng phân hoặc xếp xoắn ở ngọn, không cuống. Cụm hoa dạng xim như tán, xếp xít, không cuống, được bao bọc bởi lá bắc, hoa mọc ở nách lá hoặc ở ngọn, thường gồm nhiều chùy hoặc gié, đơn vị được tạo bởi các cặp xim. Lá bắc khó nhận, nhỏ hơn 1 cm; không có lá mo; có các lá dạng lá bắc tồn tại. Hoa lưỡng tính, đối xứng tỏa tròn; đài rời, gần bằng nhau; cánh hoa rời, màu trắng hoặc hồng (hiếm khi có màu xanh), dài bằng nhau [13]. Đa số các loài thuộc chi Callisia Loefl. được trồng làm cảnh như: Callisia repens (Jacquin) Linnaeus, Callisia elegans Alexander ex H. E. Moore… Ở Trung Quốc chỉ có một loài được nhập trồng làm cảnh là Callisia repens (Jacquin) Linnaeus [12]. Ở Việt Nam, chưa phát hiện thấy các loài thuộc chi này phân bố 3 trong tự nhiên. Trong vài năm trở lại đây, loài Callisia fragrans (Lindl.) Woodson được nhập trồng vào nước ta với tên gọi là Lược vàng hay Lan vòi. 1.1.3. Đặc điểm của loài Callisia fragrans (Lindl.) Woodson Cây Lược vàng Vòi Lược vàng Hình 1.1. Cây Lược vàng Callisia fragrans (Lindl.) Woodson Cây thảo nhiều năm, thân mọng nước có thể dài tới 100 cm hoặc hơn, phân nhánh với thân bò ở gốc. Lá mọc tập trung ở ngọn thân, rải rác ở phía dưới, dạng mác thuôn, dài 18-25 cm, rộng 3,5-4cm, cuống lá có gân rõ, ôm thân, có lông mịn và thường có sọc tía. Hoa mọc thành cụm 2-3 hoa dạng xim trên phát hoa hình chùy dài tới 60 cm, mỗi cặp xim được ôm bởi các lá bắc dạng răng cưa (3 răng) dài 10-15mm; lá đài trong suốt, màu trắng, khô xác, dạng mác, dài 5-6mm; cánh hoa bóng, trong suốt, màu trắng, mỏng, có dạng trứng hẹp; nhị 6. Cây ra hoa vào mùa xuân [13]. Cây ưa những nơi đất màu mỡ, ẩm, thoát nước tốt và che bóng một phần. Nếu trồng ở nơi nhiều ánh sáng, lá thường chuyển sang màu tía và thân mọc thấp. Cây được nhân trồng bằng hạt và cành giâm. Lược vàng được trồng làm cảnh ở nhiều nước bởi có thân bò khá đẹp và dễ trồng. Người ta thường trồng Lược vàng trong các chậu treo để thân buông rủ tạo dáng hoặc phủ kín mặt đất tạo thảm xanh trong vườn nhà. Do khả năng phát triển nhanh, ở Florida - Mỹ, loài cây này được xếp vào danh sách “Các loài thực vật nhập trồng xâm lấn”. 1.2. Công dụng của Lƣợc vàng dùng trong dân gian 1.2.1. Trên thế giới 4 Lược vàng (Callisia fragrans (Lindl.) Woodson) được sử dụng nhiều ở Nga. Nó được dùng như một cây thuốc dân gian để chữa các bệnh dạ dày-ruột, bệnh túi mật, lá lách; các bệnh đường đường hô hấp như: ho, viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản; các bệnh đường tiết niệu; các bệnh ngoài da như viêm da, zona, chàm, dị ứng, hắc lào, vết thương ngoài da và cả ung thư... 1.2.2. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, cây Lược vàng được người dân sử dụng theo kinh nghiệm hoặc truyền miệng để chữa khỏi (hoặc giảm nhẹ) các bệnh như: viêm răng lợi, sâu răng, viêm họng, viêm mũi dị ứng, viêm xoang, ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen, viêm tai giữa, thối tai, băng huyết, cầm máu vết thương, bỏng, đau đầu mất ngủ, viêm bờ mi mắt, đau mắt đỏ,mẩn ngứa, trĩ, đi ngoài, đau dạ dày, táo bón, gút, ung thư vú, ung thư dạ dày... Ngoài ra, Lược vàng còn có hoạt tính chống oxy hóa, chống tiểu đường, hạ mỡ máu [9]. Người dân sử dụng cây Lược vàng bằng các phương pháp hết sức đơn giản như: - Nhai lá, nuốt cả nước lẫn bã; - Giã nát để đắp vết thương, xoa bóp, dịt băng cầm máu, làm tan máu tụ, bầm tím; - Dùng lá, thân cây, vòi và rễ ngâm rượu trắng; - Phơi khô lá pha nước sôi, nấu nước uống như uống nước chè; - Nấu thành canh rau trong bữa ăn; - Nấu cao, sau đó pha loãng uống, bôi da; - Xay thành nước sinh tố (pha thêm đường, sữa, mật ong...). 1.2.3. Các chế phẩm từ cây Lƣợc vàng Tại Nga, hiện có rất nhiều dược phẩm-mỹ phẩm bào chế từ cây Lược vàng đã được bán trên thị trường. Ví dụ: - Loại kem trị mụn "Basket Plant" (Hình 1.2a); - Thuốc Callisia Fragrans Drops (Gold Mustach) dùng để chữa đau lưng, viêm khớp (Hình 1.2b); - Kem phòng và trị đau gót chân “Foot creme” (Hình 1.2c); 5 - Sản phẩm “Basket Plant with Potentill tube 125 ml” hỗ trợ chữa viêm khớp, chống oxi hoá, bồi bổ cơ thể (Hình 1.2d); - Thực phẩm chức năng “BasketPlant Callisia fragrans” hỗ trợ hệ tuần hoàn và hô hấp (Hình 1.2e); - Kem bôi “Basket Plant with Sophora 75 ml” dùng chống viêm, giảm sưng (Hình 1.2f). (a) (b) (c) (d) (e) (f) Hình 1.2. Một số sản phẩm từ cây Lược vàng được bán ở Nga. Ở Việt Nam cũng đã có một số sản phẩm có chứa cây Lược vàng như: - Trà túi lọc Thiên Phúc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc toàn bộ cơ thể, hỗ trợ và ngăn ngừa bệnh tật, hỗ trợ rối loạn tiêu hóa, hỗ trợ gan, huyết áp, tiểu đường, bào mòn sỏi thận, khôi phục viêm đường tiết niệu, tăng cường sinh lực, làm đẹp da…(Hình 1.3a); - Trà túi lọc Tâm Lan có tác dụng giải độc cơ thể, thanh nhiệt, điều hòa huyết áp-tim mạch, suy nhược thần kinh, mất ngủ, thoái hóa đốt sống, ung thư, rối loạn tiêu hóa, loét hoành tá tràng, trĩ nội, lở loét da, viêm gan, xơ gan, trị các bệnh về thận, tiểu đường... (Hình 1.3b). 6 (a) (b) Hình 1.3. Một số chế phẩm từ Lược vàng ở Việt Nam 1.3. Các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dƣợc lý của cây Lƣợc vàng 1.3.1. Nghiên cứu về thành phần hóa học:  Trên thế giới: Cho đến nay có một số nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Lược vàng trong đó phần lớn là công trình của các nhà khoa học Nga. Hầu hết các công bố đều được thực hiện trong khoảng 5 năm trở lại đây, điều đó chứng tỏ cây Lược vàng mới được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của TS. Olennikov, Viện Sinh họcThực nghiệm-Viện Hàn lâm Khoa học Nga về thành phần các chất phenolic trong cây Lược vàng. Nhóm nghiên cứu đã phân lập và xác định cấu trúc của các axit gallic, axit caffeic, axit chicoric, axit ferulic, các flavonoids (quercetin, kaempferol), coumarins (umbelliferon, scopoletin) và antraquinons (aloe-emodine). Những hợp chất này được biết có nhiều hoạt tính sinh học hấp dẫn như chống oxi hoá, kháng viêm, chống ung thư,chữa tiểu đường, điều hoà miễn dịch…[19]. Axit galic Axit caffeic Axit chicoric 7 Aloe-emodin Umbelliferon Quercetin Scopoletin Kaempferol Hình 1.4. Các hợp chất phenolic từ cây Lược vàng Khi nghiên cứu về thành phần axit amin bằng cách phân tích, so sánh thời gian lưu với 24 amino axit chuẩn, nhóm nghiên cứu của TS. Nikolaeva đã phát hiện thấy trong dịch ép thân và lá tươi cây Lược vàng có chứa 15 axit amin tự do (6 axit amin cần thiết) và 14 axit amin liên kết (7 axit amin cần thiết) bao gồm: Asparagin, Axit aspartic, Threonin, Serin, Glutamin, Axit glutamic, Glycin, Anilin, Methionin, Leucin, Isoleucin, Tyrain, Phenylalanin, Arginin, và Axit γ-aminobutyric. Ngoài ra thành phần vô cơ cũng được khảo sát và kết quả phù hợp với công bố của TS. Olennikov trước đó [18]. Một nghiên cứu của Viện Hoá thực vật, Viện Khoa học Uzebekistan cho thấy lá và thân Lược vàng chứa nhiều dầu béo gồm các axit béo trung tính như hydrocarbon parafin, olefin và hydrocarbon thơm; carotenoid; sterol triterpen axetate, triacylglycerids, axit béo tự do, triterpenol, triterpenic axit và chlorophyl; các glycolipid: sulfolipids, digalactosyldiglyceride, sterolglycoside, cerebroside và monogalactosyldiglyceride; phosphatidylcholine(PC), nhóm phospholipid:phosphatidylinosite phosphatidyl ethanolamine (PI), (PE), phosphatidylglycerine(PG), phosphatidic axit (PA). Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện thấy các vitamin C, PP và B2 cũng như các nguyên tố vi lượng như: Fe, Cr, Ni và Cu trong nước ép Lược vàng. Bằng phương pháp định tính trên sắc ký lớp mỏng, 8 nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra sự có mặt của các sterol cũng như các triterpenol, các chất màu như carotenoit, xanthophyl và chlorophyl [11].  Ở Việt Nam: Ở trong nước, các nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của cây Lược vàng cũng chỉ mới được thực hiện trong những năm gần đây. Năm 2008, nhóm nghiên cứu của TS. Trịnh Thị Điệp tại Viện Dược liệu đã định tính sơ bộ thành phần hoá học của thân, lá Lược vàng và cho biết chúng có chứa flavonoit, carotenoit, phytosterol, axit hữu cơ, chất béo, đường tự do và polysacharit [9]. Tiếp đó, nhóm nghiên cứu đã phân lập và xác định được một số hợp chất sterol (stigmasterol-3-O-β-D-glucopyranoside và β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranoside), một hợp chất cerebosit (2-amino-1,3,4-octadecanetriol-N-(2-hydroxyhexacosanoyl) (Hình 5) [4]. Các kết quả này cũng trùng với kết quả nghiên cứu của một Luận án Thạc sĩ tại trường ĐH Đà Nẵng[3]. Hình 1.5. Cấu trúc của một số hợp chất sterol và cerebosit chiết từ cây Lược vàng Mới đây, nhóm nghiên cứu của GS. Châu Văn Minh - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã phân lập được hợp chất Isoorientin từ dịch chiết metanol của cây Lược vàng trồng ở Việt Nam (Hình1.6) [9]. Hợp chất Ginsenoside Rg1, một trong những chất saponin quan trọng trong các cây thuộc chi Nhân sâm 9 (Panax), cũng đã được phát hiện trong cây Lược vàng [6]. Ngoài ra, trong cây Lược vàng axit amin L-tryptophan cũng đã được phân lập và xác định cấu trúc [5]. Hình 1.6. Cấu trúc hóa học của Isoorientin, L-Tryptophan và Ginsenoid Rg1. 1.3.2. Các nghiên cứu về tác dụng dƣợc lý: Mặc dù cây Lược vàng được sử dụng rất rộng rãi ở Nga và Việt Nam trong việc hỗ trợ và chữa trị các bệnh như: ung thư, bỏng, viêm nhiễm, lao phổi, bệnh tim mạch… Tuy nhiên tác dụng dược lý của cây này lại chưa được nghiên cứu nhiều. TS. Misin đã nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa của cây Lược vàng và đã xác định được rằng thành phần chống oxy hóa chiếm 73,2% và 119,3 mg/l trong dịch chiết lá và thân tươi tương ứng [17]. Công bố của nhóm nghiên cứu TS. Shantanova, Viện Sinh học Thực nghiệm Nga cũng chứng tỏ tác dụng hạ nồng độ malondialdehyde (MDA-sản phẩm của quá trình peroxy-hoá lipid) của nước ép búp non Lược vàng trên động vật thực nghiệm [23]. Nghiên cứu này cũng cho thấy dịch ép nước có tác dụng tăng hoạt động của cơ, liều uống 1 lần 10,0 mL/kg sẽ tăng khả năng chạy lên 21% so với nhóm kiểm soát. Sự gia tăng đáng kể trong độ bền sau khi lặp đi lặp lại việc cho chuột thử 10 nghiệm với liều là 5,0 mL/kg trong 7 ngày. Thời gian chạy tăng lên gần gấp ba lần so với nhóm kiểm soát. Một nhóm các nhà khoa học tại trường ĐH Ben-Gurion, Israel đã cho thấy dịch chiết cồn lá Lược vàng có tác dụng ức chế virus HSV-1 và HSV-2 ở nồng độ EC50 là 16,5 và 15 µg/mL. Trong khi đó dịch chiết nước không có tác dụng với HSV-1 và HSV-2 nhưng có tác dụng với chủng VZV với liều EC50 là 17 µg/mL [21]. Ngoài các nghiên cứu về tác dụng dược lý, đáng chú ý là nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu tại trường ĐH Griffith, Úc đăng trên tạp chí Veterinary Dermatology về khả năng gây viêm da tiếp xúc trên chó thí nghiệm của dịch chiết nước cây Lược vàng. Nghiên cứu này đã chứng minh dịch chiết nước cây Lược vàng có khả năng gây viêm da tiếp xúc trên chó thí nghiệm [16]. Ở nước ta, mới đây nhóm nghiên cứu của TS. Trịnh Thị Điệp tại Viện Dược liệu đã xác định được liều độc cấp LD50 của cao đông khô dịch ép lá và cao etanol 50% thân Lược vàng là 18,5 g và 21,3 g cao/kg thể trọng tương đương 1075,6 và 1115,2 g nguyên liệu tươi/kg thể trọng chuột nhắt. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cho thỏ uống liên tục 60 ngày cao đông khô dịch ép lá liều tương đương 6; 18; 60 g lá tươi và cao etanol 50% thân Lược vàng liều tương đương 1,2; 3,6 và 12,0 g thân Lược vàng tươi/kg/ngày gây ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đến các chỉ số huyết học và chức năng gan, thận và chức năng tạo máu so với đối chứng sinh lý. Tuy nhiên, với liều sử dụng một số cá thể có hiện tượng gan bị viêm khoang cửa và xung huyết cầu thận [7]. Nhóm nghiên cứu này cũng chứng minh 2 cao này có tác dụng chống viêm mạn rõ rệt trên mô hình chuột gây u hạt bằng amian. Các mẫu nghiên cứu ở liều 0,2; 0,4 g cao đông khô lá và 0,023; 0,046 và 0,092 g cao etanol 50% thân Lược vàng/kg thể trọng cũng có tác dụng giảm đau ngoại biên nhưng lại không thể hiện rõ ràng tác dụng giảm đau theo chơ chế thần kinh trung ương ở cùng mức liều sử dụng. Ở các mức liều này Lược vàng cũng có tác dụng chống oxi hoá trên mô hình chuột nhắt trắng, cụ thể hàm lượng MDA trong gan chuột giảm tới 43,24 và 56,59% so với lô đối chứng bệnh lý [8]. Trước đó, nhóm nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng với liều 50 g nguyên liệu tươi/kg thể trọng, cao chiết nước từ lá 11 và cao chiết nước cồn từ thân không có tác dụng giảm phù nề trên chuột thực nghiệm. Tuy nhiên, chủng Staphylococcus aureus [2]. 12 Chƣơng II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Nguyên liệu và thiết bị 2.1.1. Nguyên liệu Mẫu cây Lược vàng được thu hái ở trung tâm giáo dục - lao động xã hội Hải Phòng (Xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên) vào tháng 9/2012. Cây được tách riêng thân, vòi và lá. Sau đó phơi khô, thái thành các đoạn nhỏ dài khoảng 2-3cm rồi đem nghiền thành bột mịn và được bảo quản trong túi ni lông ở nơi khô ráo. Mẫu dược liệu được TS. Trần Thế Bách - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật định tên khoa học là Callisia fragrans (Lindl.) Woodson họ Thài lài (Commelinaceae). Mẫu tiêu bản số LV 01 được lưu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển thuốc - Viện Hóa sinh biển - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam. 2.1.2. Hóa chất và thuốc thử - Dung môi: axeton, n-hexan, diclometan, etyl axetat, metanol. - Thuốc thử ceri sulfat. - Bản mỏng: Bản mỏng tráng sẵn silicagel 60 F254 có độ dày 0,2 mm của hãng Merck. - Pha tĩnh dùng cho sắc kí cột là silica gel 60, cỡ hạt 0,040-0,063 mm (230 400 (Mesh) của hãng Merck và Sephadex LH-20 (Sigma). - Dung môi đo phổ là metanol-d4. 2.1.3. Thiết bị và máy móc sử dụng trong nghiên cứu - Tủ sấy dược liệu SHELLAB. - Cân phân tích PRESICA. - Cân kĩ thuật. - Máy cất quay chân không BUCHI ROTAVAPOR . - Cột sắc ký bằng thủy tinh. - Đèn soi UV (λ = 254 nm). - Máy đo cộng hưởng từ hạt nhân Bruker 500 MHz. - Máy đo phổ khối Agilent 1120. - Máy đo nhiệt độ nóng chảy BUCHI melt point B-545
- Xem thêm -