Nghiên cứu sự kháng thuốc của vi khuẩn vibrio parahaemolyticus phân lập từ ao nuôi tôm

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LÊ KIỀU XUYÊN NGHIÊN CỨU SỰ KHÁNG THUỐC CỦA VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus PHÂN LẬP TỪ AO NUÔI TÔM LUẬN VĂN ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LÊ KIỀU XUYÊN NGHIÊN CỨU SỰ KHÁNG THUỐC CỦA VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus PHÂN LẬP TỪ AO NUÔI TÔM LUẬN VĂN ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs. Ts. TỪ THANH DUNG 2014 NGHIÊN CỨU SỰ KHÁNG THUỐC CỦA VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus PHÂN LẬP TỪ AO NUÔI TÔM Lê Kiều Xuyên và Từ Thanh Dung Bộ môn Bệnh học thủy sản, khoa Thủy Sản, trường Đại học Cần Thơ Email: xuyen113005@student.ctu.edu.vn ABSTRACT Acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) are considered as a dangerous disease on shrimp. In Vietnam, the disease appeared in 2011 and caused significant damage to shrimp farming in the Mekong Delta. Pathogen Vibrio parahaemolyticus bacteria infected by phage. In this study have 38 bacterial strains, which were isolated from water samples, hepatopancreatic and gut of shrimps displayed sign of AHPND in the province Ca Mau, Soc Trang, Bac Lieu and Tra Vinh. The purpose of this study is to assess the antimicrobial susceptibility of Vibrio parahaemolyticus. All isolates were screened against 13 antibiotics of 12 strains of bacteria by disk diffusion method. The results showed that Vibrio parahaemolyticus isolates were still resistant to: amoxicillin, cephalexin, and all stre sensitive streptomycine, but still susceptible to: norfloxacin, rifampicin, doxycycline, flumequine. In particular, all 12 isolated in this study displayed multi-drug resistance on 13 antibiotics. Title: Tudies of bacterial resistance Vibrio parahaemolyticus isolated from shrimp ponds. Keyword: Vibrio parahaemolyticus, shrimp, antimircobial susceptibility. TÓM TẮT Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) được coi là một căn bệnh nguy hiểm trên tôm. Ở Việt Nam, bệnh đã xuất hiện trong năm 2011 và gây ra thiệt hại đáng kể cho nghề nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm bởi thể thực khuẩn. Trong nghiên cứu này có 38 chủng vi khuẩn được phân lập từ mẫu nước, gan tụy và ruột tôm có dấu hiệu bệnh AHPND ở các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Trà Vinh. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá sự nhạy cảm thuốc kháng sinh của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. Nghiên cứu kiểm tra kháng sinh đồ với 13 loại kháng sinh trên 12 chủng vi khuẩn bằng phương pháp đĩa khuếch tán. Kết quả kháng sinh đồ cho thấy đa số các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus kháng cao các kháng sinh như: amoxicillin, cephalexin và kháng hoàn toàn với streptomycin. Tuy nhiên vẫn còn nhạy với: norfloxacin, 1 rifampicin, doxycycline, flumequine. Đặc biệt, tất cả 12 chủng vi khuẩn nghiên cứu đều thể hiện sự đa kháng thuốc trên 13 loại kháng sinh. 1. GIỚI THIỆU Nuôi trồng thủy sản (NTTS) là ngành có những đóng góp đáng kể trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, nuôi tôm biển là một trong những nghề quan trọng nhất. Do có giá trị thương mại cao trên thị trường xuất khẩu, nên nghề này không chỉ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện kinh tế cho người dân mà nó còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, từ đầu năm 2011, sự xuất hiện của hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (Acute hepatopancreatic necrosis disease-AHPND) đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghề nuôi tôm trong toàn vùng với thiệt hại hơn 98.000 ha và hơn 46.000 ha diện tích nuôi tôm trong năm 2012 tập trung ở một số tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang Theo Lightner (2013) tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm bởi thể thực khuẩn, làm tôm nhiễm bệnh ở giai đoạn 15-40 ngày sau khi thả. Ở nước ta, khi dịch bệnh xảy ra, người dân thường sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh cho tôm nuôi. Việc sử dụng thuốc kháng sinh không đúng loại, liều lượng sẽ dẫn đến việc tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc. Sự kháng thuốc có thể là do sự phát sinh ra cơ chế miễn dịch trong hệ di truyền của vi khuẩn. Do đó, sự kháng thuốc có thể được chuyển từ loài vi khuẩn này sang loài vi khuẩn khác (Từ Thanh Dung, 2005). Hiện nay, sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh đang là mối đe dọa rất lớn cho nghề nuôi tôm và cũng là mối quan tâm lớn của cộng đồng, vì vi khuẩn một khi đã kháng thuốc không chỉ gây khó khăn cho công tác phòng trị bệnh mà còn nghiêm trọng hơn, chúng có thể truyền các gen kháng thuốc này sang các loài vi khuẩn khác và cho cả con người. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu sự kháng thuốc của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập từ ao nuôi tôm” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài là tìm ra loại kháng sinh đặc hiệu để điều trị bệnh do vi khuẩn V. parahaemolyticus gây ra trong ao nuôi tôm. Đồng thời, cung cấp thông tin cho các nhà quản lý thủy sản kiểm soát chặt chẽ việc lưu hành thuốc kháng sinh trên thị trường. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Nguồn tôm Nguồn tôm có dấu hiệu bệnh AHPND được thu tại 18 ao nuôi tôm sú và tôm thẻ ở các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Trà Vinh, mỗi ao thu 5 mẫu 2 tôm với các dấu hiệu bệnh lý như tôm bỏ ăn, bơi chậm chạp và tắp mé, gan tụy nhạt màu, teo, dai và ruột rỗng (Bảng 1). Bảng 1: Số mẫu tôm thu được ở các tỉnh STT 1 2 3 4 Tỉnh Cà Mau Sóc Trăng Bạc Liêu Trà Vinh Tổng Số ao 10 1 1 6 18 Số mẫu tôm 50 5 5 30 90 2.2. Nguồn vi khuẩn Các chủng vi khuẩn được phân lập trên tôm sú, tôm thẻ và mẫu nước tại những ao nuôi tôm có dấu hiệu bệnh AHPND ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014 (Bảng 2). Bảng 2: Số chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập ở các tỉnh STT 1 2 3 4 Tỉnh Cà Mau Sóc Trăng Bạc Liêu Trà Vinh Tổng Số chủng vi khuẩn Trên tôm Trên nước 1 16 7 0 3 11 0 0 Ghi chú mẫu nước Không thu được Không phân lập được vi khuẩn V.parahaemolyticus Không thu được 38 2.3. Phân lập và định danh vi khuẩn Vi khuẩn V. parahaemolyticus được phân lập trên tôm (gan tụy, ruột) và nước ở các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Trà Vinh cấy trên trên môi trường CHROMagar™ Vibrio chọn ra các chủng vi khuẩn bắt màu tím tách ròng lại Tryptic soy agar (TSA) có bổ sung 1,5% NaCl (Merck, Darmstadt, Germany) ủ ở nhiệt độ 280C trong 24 giờ. Vi khuẩn được phân lập dựa theo tài liệu hướng dẫn của Frerichs và Millar (1993). Vi khuẩn được kiểm tra các đặc điểm sinh lý, sinh hóa (tính di dộng, nhuộm Gram, oxidase, catalase, O-F test) theo cẩm nang Cowan và Steel’s (Barrow and Feltham, 1993), trước khi định danh bằng bộ kit API 20E (bioMerieux, France), (Buller, 2004). 2.4. Kiểm tra kháng sinh đồ Bảng 3: Số chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus chọn làm kháng sinh đồ 3 2 Tỉnh Cà Mau Sóc Trăng 3 4 STT 1 Số chủng vi khuẩn Trên tôm Trên nước 1 2 5 0 Bạc Liêu 2 0 Trà Vinh 2 0 Tổng 12 Kiểm tra kháng sinh đồ được thực hiện theo tiêu chuẩn của Clinical and Laboratory Standards Institute (CLSI) (2011), trên môi trường Mueller-Hinton Agar (MHA, Meck, Darmstadt, Germany) bổ sung 1,5% NaCl với 13 loại kháng sinh là doxycycline (30µg), florfenicol (30µg), gentamicin (10µg), trimethoprim+sulfamethoxazole (25µg), norfloxacin (10µg), streptomycin (10µg), enrofloxacin (5 µg), cephalexin (30µg), amoxicillin (25µg), neomycin (30µg), flumequine (30µg), cephazoline (30µg), rifampicin (30µg), (Oxoid, UK). Chỉ số đa kháng MAR (Multi-antibiotic resistant index): Chỉ số đa kháng kháng sinh của vi khuẩn được tính toán dựa trên công thức của Sarter et al. (2007). MAR = X / (Y x Z) X = tổng số trường hợp kháng kháng sinh ở mỗi tỉnh Y = tổng số kháng sinh sử dụng trong nghiên cứu Z = tổng số chủng vi khuẩn phân lập được ở mỗi tỉnh 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Dấu hiệu bệnh lý Tôm bệnh hoạt động chậm chạp, bỏ ăn, lờ đờ và tắp mé. Khi tách bỏ lớp giáp đầu ngực, quan sát thấy gan tụy teo, dai, nhạt màu và ruột rỗng (Hình 1). A B Hình 1: Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) có dấu hiệu nhiễm bệnh hoại tử gan tụy (A, B). Gan tụy teo, dai, màu nhợt nhạt, ruột không có thức ăn. 4 Các dấu hiệu ghi nhận được tương tự trong mô tả của Lightner et al. (2012) và Flegel et al., (2012) về các dấu hiệu bệnh lý của tôm khi mắc phải hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính. Lightner (2012) cho biết tôm hoại tử gan tụy ở mức độ ao nuôi thường có một số các dấu hiệu như tôm chết đáy, bỏ ăn, gan tụy teo, dai, nhạt màu, ruột rỗng và có hiện tượng mềm vỏ. Tôm nuôi có thể chết đột ngột với tỉ lệ cao trong thời gian ngắn sau khi xuất hiện các dấu hiệu bệnh đặc biệt khoảng sau từ 2 -3 ngày (Lê Hồng Phước và ctv, 2012). 3.2. Kết quả phân lập vi khuẩn Trên môi trường Thiosunfate Citrate Bile Salt Sucrose (TCBS) khuẩn lạc có màu xanh,những khuẩn lạc này khi được cấy truyền sang đĩa môi trường Tryptic soy agar (TSA) (có bổ sung 1.5% NaCl) thì khuẩn lạc phát triển có màu kem hoặc màu trắng đục với hình dạng và kích thước khuẩn lạc tương tự như trên môi trường CHROMagar™ Vibrio (Hình 2). Đặc điểm chung của các chủng phân lập được đều là vi khuẩn Gram âm, hình que có khả năng di động, phản ứng dương tính với oxidase, catalase, có khả năng lên men đường trong điều kiện kị khí và hiếu khí. Dựa vào đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa và kết quả kiểm tra bằng kít API 20E các chủng vi khuẩn này được định danh là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. A B V.parahaemolyticus C D Hình 2: Kết quả phân lập vi khuẩn và kiểm tra sinh hóa. A: Đĩa vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập trên CHROMagar™ Vibrio B: Đĩa vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus thuần trên TSA+ C: Vi khuẩn Gram âm, que ngắn (100X) D: Vi khuẩn phát triển trên TCBS 5 Bảng 4: Đặc điểm sinh lý, sinh hóacủa các chủng V.parahaemolyticus. Chỉ tiêu Nhuộm Gram Hình dạng Phát triển trên TCBS Di động Sinh catalase Sinh oxidase Phản ứng lên men yếm khí Phản ứng lên men hiếu khí Sinh beta – galactosidaza Agrinine Lysine Ornithine Sử dụng Citrate Sinh H2S Sinh ureaza Sinh tryptophane Sinh indole Acetoin production Sinh Gelatinaza Sử dụng đường Glucose Manitol Inositol Sorbotol Rhamnose Sucrose Melibiose Amygdalin Arabinose Chủng vi khuẩn ST45.2RTR TV6TD Que ngắn Que ngắn Xanh Xanh + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + ATCC 43996 (Buller, 2004) Que ngắn Xanh + + + + + + + + + + + + + + + - Ghi chú: (+) dương tính, (-) âm tính Kết quả định danh bằng bộ kít API 20E cho thấy đặc điểm sinh lý, sinh hóa của 2 chủng V. parahaemolyticus trong nghiên cứu giống với chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus của Buller (2004), trừ chỉ tiêu sử dụng citrate và acetoin production kết quả kiểm tra là dương tính so với kết quả của Buller (2004) là âm tính. 6 3.3. Kết quả kháng sinh đồ Bảng 5: Tỷ lệ % kháng và nhạy của các chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus Thuốc kháng sinh β-lactamin Amoxicillin (25µg) Cephalexin (30µg) Cephazolin (30µg) Aminoglycosides Gentamycin (10µg) Neomycin (30µg) Streptomycin (10µg) Fenicol Florfenicol (30µg), Quinolon Enrofloxacin (5 µg) Norfloxacin (5µg) Flumequine (30µg) Tetracyclin Doxycycline (30µg), Rifampicine (30µg) Trimethoprim+sulfamethoxazole (25µg) Kháng (%) Nhạy trung bình (%) Nhạy (%) 91,7 83,3 50 0 8,3 41.7 8,3 8,3 8,3 41,7 58,3 100 33,3 41,7 0 25 0 0 0 0 100 8,3 0 8,3 8,3 8,3 0 83,3 91,7 91,7 8,3 0 8,3 0 83,3 100 25 0 75 Kết quả kháng sinh đồ cho thấy đa số các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus kháng với các kháng sinh thuộc nhóm β-lactamin kháng hoàn toàn với streptomycin, kháng tương đối cao với amoxicillin (91,7%), cephalexin (83,3%). Nhạy hoàn toàn với florfenicol, rifampicin, nhạy tương đối cao với norfloxacin (91,7%), flumequine (91,7%), enrofloxacin (83,3%), doxycycline (83,3%). 3.4. Hiện tượng đa kháng thuốc của vi khuẩn Hình 3: Tỷ lệ % các chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus đa kháng thuốc kháng sinh 7 Điểm nổi bật ở nghiên cứu này là 12 chủng vi khuẩn đều đa kháng thuốc. Vi khuẩn V. parahaemolyticus đa ít nhất 3 loại kháng sinh và nhiều nhất là 8 loại kháng sinh. Trong đó đa kháng với 3, 4 và 6 loại kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất và cùng bằng (25%). Chỉ số đa kháng (MAR): Chỉ số đa kháng của 4 tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh được trình bày ở (Bảng 6). Chỉ số MAR của 4 tỉnh đều cao hơn 0,2, cho thấy 14 kháng sinh trong nghiên cứu này đã được sử dụng thường xuyên để điều trị bệnh cho tôm nuôi ở 4 tỉnh trên. Bảng 6: Chỉ số đa kháng của vi khuẩn V. parahaemolyticus Tỉnh Cà Mau Sóc Trăng Bạc Liêu Trà Vinh MAR 0,4 0,3 0,5 0,3 3.5. Thảo luận Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các vi khuẩn V. parahaemolyticus kháng rất cao với các kháng sinh thuộc nhóm nhóm β-lactam như amoxicillin (91,7%), cephalexin (83,3%). Theo Lê Đăng Hà (2011), nhóm kháng sinh này sử dụng qua đường thức ăn, trị vi khuẩn đường ruột và hiệu quả được loại bỏ nhanh chóng, không dùng thuốc này đối với bệnh phẩy khuẩn. Streptomycin, gentamycin và neomycin là 3 kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosides. Trong nghiên cứu này V. parahaemolyticus kháng hoàn toàn với streptomycine, kháng tương đối với neomycine (58,3%) và gentamycine (41,7%). Các kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosides không hấp thụ qua đường ruột nên chỉ có thể sử dụng qua đường tiêm trong y học và thú y, vì vậy chúng rất ít được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản (Bùi Kim Tùng, 2001). Trong khi đó, các dòng vi khuẩn trong nghiên cứu này nhạy hoàn toàn với florfenicol. Theo nghiên cứu của Quang Trong Phat, (2013) thì V. parahaemolyticus nhạy cao với florfenicol (91,7%). Florfenicol là kháng sinh được ứng dụng rộng rãi trong ngành thú y và trong NTTS ở châu Á từ những thập niên 1980 (Keyes et al., 2000). Tuy nhiên, chỉ sử dụng kháng sinh này điều trị cho động vật thủy sản khi thật sự cần thiết và tuân thủ các nguyên tắc sử dụng kháng sinh. Tuy các chủng vi khuẩn trong nghiên cứu còn nhạy với nhóm quinolone nhưng thế hệ I của nhóm kháng sinh này như: flumequine có hoạt tính với vi khuẩn Gram âm. Tuy nhiên các kháng sinh thế hệ II như: enrofloxacin và norfloxacin hoạt tính dựa vào sự trao đổi chất của ADN làm thay đổi cấu trúc tế bào vi khuẩn có thể dẫn đến các thể đột biến kháng thuốc (Lê Đăng Hà, 2011). Mặt khác, enrofloxacin là kháng sinh nằm trong danh mục cấm sử dụng 8 trong nuôi trồng thủy sản của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (Thông tư 03/2012/TT BNNPTNT) do thuốc có khả năng tồn lưu một thời gian dài trên động vật thủy sản. Vì vậy, trong trường hợp khẩn cấp có thể sử dụng kháng sinh flumequine để điều trị không nên sử dụng enrofloxacin và norfloxacin để tránh sự kháng thuốc xảy ra. Doxycycline là kháng sinh thuộc thế hệ mới nhất của nhóm tetracycline. Nhóm tetracycline được sử dụng trong nuôi thủy sản bằng cách trộn vào thức ăn hoặc tắm (Từ Thanh Dung, 2008). Trong nghiên cứu này các chủng V.parahaemolyticus nhạy rất cao với doxycycline (91,7%) tương tự với nghiên cứu của Diep The Tai et al. (2010), vi khuẩn thể hiện tính nhạy với doxycycline đến 93,08% và của Quang Trong Phat (2013) có 91,7% chủng V.parahaemolyticus nhạy với doxycycline. Các chủng vi khuẩn qua khảo sát nhạy hoàn toàn với rifampicin, với trimethoprim+sulfamethoxazole nhạy 75% và đã có 25% kháng. Theo Nguyễn Phước Tương và Trần Diễm Uyên (2000), trimethoprim là nhóm kháng khuẩn tổng hợp tương tự như kháng sinh. Nhóm kháng sinh này có tác dụng kìm khuẩn, ức chế enzyme dihydroflolate-reductase của vi khuẩn, thường phối hợp với sulfamethoxazole. Sự kết hợp này có tác dụng hiệp đồng, làm giảm sự xuất hiện kháng thuốc và ức chế hai giai đoạn kế tiếp nhau trong quá trình tổng hợp acid folic của vi khuẩn (Lê Đăng Hà, 2011). Kết quả nghiên cứu của Panawala et al. (2005), cho thấy V. parahaemolyticus ở Sri Lanka trên nước và trên tôm nhạy 100% với trimethorime+sulfamethoxazol. Nghiên cứu của Quang Trong Phat (2013) có 75% chủng nhạy với trimethoprim+sulfamethoxazole. Qua các nghiên cứu cho thấy vi khuẩn kháng với nhóm kháng sinh này ngày một tăng nhưng việc tìm ra loại thuốc mới không kịp để khống chế vi khuẩn vì vậy vi khuẩn sẽ kháng lại kháng sinh này dẫn đến điều trị không hiệu quả. Trong nghiên cứu này, 12 chủng vi khuẩn đều đa kháng. Hiện tượng đa kháng thuốc trên vi khuẩn phân lập từ các hệ thống nuôi thủy sản ở ĐBSCL cũng được Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv. (2005) đề cập với khoảng 59% dòng vi khuẩn (196 dòng) nghiên cứu kháng với 4 hay 5 loại kháng sinh thử nghiệm. Ngoài ra, theo Miranda and Zemelman (2002) có 74 chủng vi khuẩn phân lập trên cá hồi nước ngọt tại các trang trại nuôi thủy sản ở Chile có hiện tượng kháng đồng thời với 6 – 10 loại thuốc kháng sinh. Bên cạnh sự đa kháng thuốc thì các vi khuẩn V. parahaemolyticus chỉ số đa kháng (MAR) của 4 tỉnh khảo sát đều lớn hơn 0,2 điều này cho thấy người nuôi đã sử dụng rất thường xuyên các loại kháng sinh này để điều trị cho tôm 9 nuôi.Theo Lê Đăng Hà (2011), cho rằng việc sử dụng kháng sinh quá rộng rãi làm xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh. Sự xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc nhanh hơn là tìm ra những thuốc mới có hiệu lực với các vi khuẩn đó. Hậu quả của vi khuẩn kháng thuốc sẽ làm cho điều trị các bệnh không hiệu quả, nguy cơ tử vong nhiều hơn, tốn phí trong điều trị, đồng thời có thể xuất hiện những ổ dịch do vi khuẩn kháng thuốc. Trong nuôi trồng thủy sản sự hiểu biết của người nuôi về thuốc kháng sinh còn hạn chế về nhiều mặt. Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách dẫn đến điều trị không có hiệu quả là điều không thể tránh khỏi. Thuốc kháng sinh sử dụng hiệu quả trong trường hợp trị bệnh nhiễm khuẩn giúp động vật thủy sản hồi phục lại chức năng sinh lý bình thường và nâng cao tỷ lệ sống nếu sử dụng đúng liều và đúng lúc. Sử dụng bừa bãi sẽ gây khó khăn cho việc điều trị về sau, dễ bị bội nhiễm, đôi khi dẫn đến tử vong. Trị liệu bằng kháng sinh được coi như sự trợ giúp nhất thời khi khả năng chống bệnh suy giảm, vì thế ta nên tăng cường các biện pháp phòng bệnh hơn là phải trị bệnh ( Bùi Kim Tùng và ctv., 2001). 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Kết luận Kết quả phân lập được 38 chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus trong ao nuôi tôm sú và tôm thẻ. Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ trên 12 chủng vi khuẩn kháng hoàn toàn với streptomycine, kháng cao với amoxicillin, cephalexin, kháng tương đối cao với cephazolin, gentamycin, neomycin. Nhạy hoàn toàn với florfenicol và rifampicin. Nhạy cao với các kháng sinh như norfloxacin, flumequine và nhạy tương đối cao với trimethoprim+sulfamethoxazole, enrofloxacin , doxycycline. Trong trường hợp cấp thiết có thể sử dụng flumequine, doxycycline, florfenicol để trị bệnh do V. parahaemolyticus gây ra. Chỉ số đa kháng (MAR) trên 4 tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh đều lớn hơn 0,2. Trong 12 chủng vi khuẩn khảo sát đều thể hiện tính đa kháng ít nhất là 3 loại kháng sinh, nhiều nhất là 8 loại kháng sinh. Đa kháng với 3, 4 và 6 loại kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất. 10 Đề xuất Bên cạnh nghiên cứu này cần có những nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn V. parahaemolyticus. Cần thử nghiệm nhiều loại thuốc kháng sinh để khảo sát tính kháng thuốc một cách toàn diện. LỜI CẢM TẠ Để hoàn thành đề tài tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến anh Nguyễn Bảo Trung, chị Huỳnh Thị Diễm Trang, chị Đặng Phạm Hòa Hiệp, anh Hồ Văn Tuấn đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin cảm ơn sự hỗ trợ thu mẫu trong thời gian thực hiện đề tài từ Công ty Vibo và các bạn trong tập thể lớp Bệnh học Thủy Sản K37 đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài. TÀI LIỆU THAM KHẢO Barrow, I.G and R.K.A. Feltham (Editor), 1993. Cowan and Steel’s manual for the identification of medical bacteria, 3th edn. Cambridge University Press. 351pp. Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn, 2012. Thông tư số 03/2012/TTBNNPTNT ban hành ngày 16/01/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2009/TT – BNN ngày 17/3/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản. Ngày cập nhật: 21/11/2014. Bùi Kim Tùng, Bùi Kim Hoàng và Bùi Kim Tân, 1997. Thuốc kháng sinh. Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, 287 trang. Bùi Kim Tùng, Bùi Kim Hoàng và Bùi Kim Tân, 2001. Thuốc kháng sinh. Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tinhr Bà Rịa-Vũng Tàu. 255 trang. Buller, B.N, 2004. Bacteria from fish and Other Aquatic Animals- A Practical Identification Manual. CABI Publishing. 390pp. Clinical and Laboratory Standard Institute (CLSI), 2011. Methods for broth dilution susceptibility testing of bacteria isolated from aquatic animals; informational supplement, M49- A, Clinical and Laboratory Standards Istitute, Wayne, NJ. Đặng Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Thanh Phương, Temdoung Somsiri, Supranee Chinabut, Fatinah Yussoff, Mohamed Shariff, Kerry Bartie, Geert Huys, Mauro Giacomini, Stefania Berton, Jean Swings and Alan Teale, 2005. Xác định tính kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn phân lập từ các hộ nuôi thủy sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam. Tạp chí Nghiên Cứu Khoa Học - Đại học cần Thơ. 4: 2005, 136-144. Diep The Tai, Au Vinh Thuy, Nguyen Thi Ngoc Nhi, Nguyen Thi Kim Ngoc and Nguyen Thi Phuong Lan, 2010. Virulence and antimicrobial resistance characteristics of Vibrio parahaemolyticus isolated from environment, food and clinical samples in the south of Vietnam. Institut Pasteur International Network Annual Scientific Meeting .Volume 5 Supplement 1. 11 Flegel, W. T., 2012. Historic emergence, impact and current status of shrimp pathogens in Asia. Journal of Invertebrate Pathology 110: 166-173. Frerichs, G Nicolas and Millar, Stuart D. (1993). Manual for the isolation and identification of fish bacterial pathogens. Keyes, K., C. Hudson and J.J. Maurer, 2000. Detection of florfenicol resistance genes in Escherichia coli isolated from sick chickens. Antimicrobial Agents and Chemotherapy, 44: 421-424. Lê Đăng Hà, 2011. Bệnh truyền mhiễm và nhiệt đới. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ Thuật. trang 6- 102. Lê Hồng Phước, Lê Hữu Tài và Nguyễn Văn Hảo, 2012. Diễn biến của hội chứng hoại tử gan tụy trong ao nuôi tôm thâm canh ở huyện Trần Đề, Tỉnh Sóc Trăng. Lê Thị Kim Liên, Nguyễn Quốc Thịnh, Nguyễn Thị Như Ngọc, Phạm Thanh Liêm, 2008. Bài giảng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản. Khoa thủy sản. Đại học cần Thơ. Trang 76. (79 trang). Lightner, D. V. (2013). Confimation of the infectious nature of the agent of early mortality syndrome (EMS) affectingfarmed penaeid shrimp in mexico. Asian - pacific aquaculture, 36: 5 – 10. Lightner, D.V., Redman, R. M., Pantoja, C. R., Noble, B. L., Loc, T. (2012). Early mortality syndrome affects shrimp in Asia. Global aquaculture advocate January/February 2012:40. Mai Văn Tài, 2004. Điều tra đánh giá hiện trạng các loại thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản nhằm đề xuất các giải pháp quản lý. Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản I. 20 trang. Miranda, C.D and R. Zemelman, 2002. Antimicrobial multiresistance in bacteria isolated from freshwater Chilean salmon farms. The Science of the Total Environment. 293: 207-218. Nguyễn Khang, 2005. Kháng sinh học ứng dụng. Nhà xuất bản y học, Hà Nội. trang 1-116. Nguyễn Phước Tương và Trần Diễm Uyên, 2000.Sử dụng thuốc và biện dược thú y. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, 314 trang. Panawala, P. V. S, T. G. Wijewardana, P. Abeynayake , 2005.Antibiotic Susceptibility of Vibrio spp. Isolated from Diseased Shrimp, Pond water and Water sources in Sri Lanka: A Preliminary Study. Track 2_2. Quang Trong Phat, 2013. Identification and antibiotic sensitivity of vibrio bacteria isolated from shrimp with acute hepatopancreatic necrosis syndrome. A thesis submitted in partial fulfillment of the requirements for the degree of Bachelor of science in Aquaculture. Sarter, S., Nguyen, H. N. K., Hung, L. T., Lazard, J. and Montet, D. 2007. Antibiotic resistance in Gram-negative bacteria isolated from farmed catfish. Food Control, 18: 1391–1396. Từ Thanh Dung, 2005. Bài giảng bệnh học thủy sản. Khoa thủy sản. Đại học Cần Thơ. 162 trang. Từ Thanh Dung, 2008. Bài giảng bệnh vi khuẩn trên động vật thủy sản. Khoa Thủy Sản. Trường Đại học Cần Thơ. 127 trang. 12
- Xem thêm -