Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh sóc trăng

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ-DU LỊCH ---------------o0o-------------- DƢƠNG THỊ MỸ HẠNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH CầnThơ, 11-2013 TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ-DU LỊCH ---------------o0o-------------- DƢƠNG THỊ MỸ HẠNH MSSV: 6106668 NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH Ngƣời hƣớng dẫn: TRẦN THỊ HOÀNG ANH CầnThơ, 11-2013 Lời Cảm Ơn Luận văn tốt nghiệp là bƣớc cuối cùng đánh dấu sự trƣởng thành của một sinh viên ở giảng đƣờng đại học. Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp của mình, em có dịp vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế và rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu để áp dụng cho công việc của mình sau này, đó cũng là nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, các bạn cùng những ngƣời thân trong gia đình. Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban chủ nhiệm bộ môn Lịch Sử – Địa Lý – Du Lịch, khoa Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, trƣờng Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện luận văn. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến cô Trần Thị Hoàng Anh, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình trong suốt khoảng thời gian qua. Em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến quý ban giám đốc cùng toàn thể cô chú, anh chị trong Sở Văn Hóa – Thể Thao – Du Lịch tỉnh Sóc Trăng, thƣ viện Thành Phố Cần Thơ, trung tâm học liệu Đại Học Cần Thơ, các cô chú quản lý ở các trụ sở xã, huyện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình thu thập tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài của mình. Em cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến với gia đình, ngƣời thân và bạn bè, đã động viên, ủng hộ em trong những lúc khó khăn, căng thẳng nhất. Do giới hạn về thời gian cũng nhƣ kiến thức hạn hẹp của mình, vì thế trong quá trình hoàn thành luận văn của mình em không thể tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết. Rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành từ phía quý thầy cô cùng toàn thể các bạn để khóa luận của em hoàn thiện hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn. Chúc tất cả mọi ngƣời sức khỏe và thành đạt. Cần Thơ, ngày…. tháng…năm 2013 Dƣơng Thị Mỹ Hạnh MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu ăn mặc, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí của con ngƣời ngày một đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chính vì thế du lịch ra đời nhằm đáp ứng cho con ngƣời những nhu cầu thiết yếu đó. Du lịch phát triển dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm tài nguyên du lịch, khách du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật, sản phẩm du lịch và thị trƣờng du lịch. Văn hóa đặc trƣng của từng vùng miền là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thu hút du khách cũng nhƣ quá trình phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng. Việt Nam ta có 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó mỗi dân tộc lại mang những bản sắc văn hóa riêng, thể hiện ở nếp sống, tín ngƣỡng, lễ hội, trang phục, hay những làng nghề truyền thống, điều này tạo nên nét đặc trƣng riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam. Sóc Trăng cũng là một trong những tỉnh thành may mắn có những nét văn hóa đặc trƣng tiêu biểu cho vùng ĐBSCL. Sóc Trăng có hệ thống chùa chiềng độc đáo và đặc sắc không chỉ tiêu biểu cho lối kiến trúc nhƣ chùa Dơi, chùa Chén Kiểu, chùa Đất Sét, chùa Khleang, chùa Bốn Mặt; mà còn có các lễ hội văn hóa truyền thống nhƣ lễ Ok Om Bok, lễ hội Chol Chnam Thmay, lễ Dolta; các làng nghề truyền thống nổi tiếng nhƣ làng đan đát Phú Tân, làng nghề dệt chiếu, làng nghề làm bánh pía Vũng Thơm. Bên cạnh đó, Sóc Trăng có những tấm gƣơng anh hùng có những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công nghiệp hóa đất nƣớc nhƣ: anh hùng Thiều Văn Chỏi, nhà bác học Lƣơng Định Của,… Chính từ sự đa dạng về các loại hình văn hóa đã tạo nên những nét phong phú về các sản phẩm du lịch văn hóa, góp phần mang lại cho khách du lịch những trãi nghiệm thú vị và hấp dẫn. Hiện nay việc khôi phục, củng cố, và phát triển các cơ sở văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng là việc làm rất cần thiết, góp phần thúc đẩy, từng bƣớc hoàn thiện khả năng đáp ứng du lịch, đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời lao động, bên cạnh đó tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống, nhằm quảng bá, giới thiệu hình ảnh vùng đất và con ngƣời Sóc Trăng. Xuất phát từ những thực trạng trên đây tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng” nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về những điều kiện, cơ sở phát triển cũng nhƣ những thực trạng tồn tại của du lịch văn hóa trong sự phát triển du lịch chung của tỉnh, đồng thời thông qua đó đƣa ra những đề xuất nhằm hƣớng tới những giải pháp và phƣơng hƣớng giúp mang lại hiệu quả cao cho nền du lịch văn hóa của tỉnh nhà trong việc khai thác tiềm năng du lịch hiện có của mình. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài nhằm mục đích phân tích và đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển của du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng trong sự phát triển du lịch nói chung của tỉnh, đồng thời thông qua đó, đƣa ra những định hƣớng phát triển phù hợp cùng một số giải pháp nhằm phát huy những tiềm năng sẵn có, góp phần vào quá trình phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung của tỉnh Sóc Trăng. 3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu là tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Sóc Trăng dựa trên những tiềm năng, hiện trạng đã tồn tại và phát triển ở các huyện trong địa bàn tỉnh, với xu hƣớng hội nhập và kinh tế phát triển nhƣ hiện nay thì việc nghiên cứu về du lịch văn hóa là rất hết sức cần thiết, điều đó mang lại những kết quả to lớn trong quá trình định hƣớng những giải pháp phù hợp, khai thác du lịch văn hóa một cách có hiệu quả, đồng thời qua đó quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa, nâng cao giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phƣơng. 4. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Du lịch văn hóa ở Việt Nam có tiềm năng phát triển khá lớn. Với bề dày lịch sử hơn 300 năm, Đồng bằng sông Cửu Long là nơi giao thoa văn hóa của 4 dân tộc ViệtHoa- Khơmer- Chăm, chính vì thế từ những nếp sống bình thƣờng, giản dị nhƣng lại chứa đựng những giá trị nhân văn vô cùng đặc sắc, điều đó thể hiện qua phong tục tập quán, đời sống văn hóa, nghệ thuật, trong việc thờ cúng, tế lễ, ẩm thực, sản xuất, kiến trúc nhà ở. Trong đó phải kể đến có vô số những giá trị truyền thống thuộc về văn hóa, bao gồm cả về vật thể lẫn phi vật thể, dẫu trải qua nhiều thăng trầm nhƣng vẫn hiện hữu và phát triển đến ngày nay. Sóc Trăng cũng đƣợc xem là một tỉnh giàu tiềm năng về du lịch văn hóa, nhƣng thực tế việc nghiên cứu chuyên về mảng đề tài này còn khá là hạn chế, tiêu biểu có những tác phẩm nghiên cứu nhƣ: “Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở tỉnh Sóc Trăng” (2002) của Trần Hồng Liên, “Di tích lịch sử Sóc Trăng” (2009) của nhiều tác giả, mới đây tác phẩm “Lịch sử địa phƣơng Sóc Trăng” đƣợc phát hành (2012) nhằm làm cơ sở giảng dạy cho các em học sinh cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Ngoài ra các tài liệu có liên quan về văn hóa của tỉnh cũng đƣợc nhắc đến trong nhiều cuốn sách nhƣ: “Văn hóa ngƣời Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (1993) của Trƣờng Lƣu, “Non nƣớc Việt Nam ( 2007) của Vũ Thế Bình, “Tuyến điểm du lịch Việt Nam” (2006) của Bùi Thị Hải Yến. “Du lịch ba miền” của Bửu Ngôn và một số quyển sách khác. Chính vì vậy tôi chọn đề tài này nhằm góp phần vào sự nghiệp phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung của tỉnh Sóc Trăng. Bên cạnh đó, thông qua quá trình nghiên cứu tôi có dịp vận dụng các kiến thức đã học trên giảng đƣờng vào thực tế, tích lũy thêm kinh nghiệm cùng những bài học thực tiễn để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và cả tƣơng lai nghề nghiệp sau này. 5. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 5.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ Quan điểm này dựa trên sự tƣơng quan, tác động qua lại với nhau giữa yếu tố lãnh thổ và vấn đề nghiên cứu, đòi hỏi phải khai thác chúng ở nhiều khía cạnh khác nhau để đi tới cái nhìn toàn diện và tổng quát. Đối với du lịch văn hóa thì quan điểm này thể hiện ở sự kết hợp những nét đặc trƣng tiêu biểu của nền văn hóa đó, gắn liền với yếu tố dân cƣ, địa bàn cƣ trú, nơi tồn tại những giá trị văn hóa hiện hữu. Chính vì thế để khai thác hiệu quả đề tài nghiên cứu về du lịch văn hóa của Sóc Trăng, tôi đã vận dụng quan điểm này để xem xét, đồng thời đƣa ra những phƣơng hƣớng, giải pháp cho việc quy hoạch, phát triển du lịch văn hóa của tỉnh một cách hợp lí và hiệu quả. 5.2. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh Đối với bất kì một đối tƣợng của sự vật hiện tƣợng nào khi chúng ta muốn hiểu rõ tƣờng tận về chúng thì việc nghiên cứu từ nguồn gốc, xuất xứ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Vì thế quan điểm này giúp tôi có một cái nhìn toàn diện, tổng thể về đối tƣợng cần nghiên cứu thông qua quá trình hình thành và phát triển của nó, qua đó có một cách nhìn mới về định hƣớng tƣơng lai, góp phần hoàn thiện cũng nhƣ củng cố du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng. 6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6.1. Phƣơng pháp thu nhập và xử lý thông tin Việc tìm tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu đòi hỏi ngƣời viết phải biết tổng hợp, lựa chọn và sáng tạo từ các nguồn tài liệu khác nhau nhƣ: sách, báo, Internet,… từ đó thông qua những kiến thức có sẵn có cộng với quá trình tìm tòi và sáng tạo ta sẽ xử lý những thông tin đó thành những kiến thức cơ bản liên quan đến đề tài phục vụ cần thiết cho quá trình nghiên cứu. 6.2. Phƣơng pháp bản đồ Để tăng khả năng tin cậy những thông tin đã thu thập, việc sử dụng phƣơng pháp bản đồ là vận dụng những hình ảnh, sơ đồ cùng bản đồ minh họa đó vào quá trình nghiên cứu, giúp sản phẩm nghiên cứu thêm sinh động, cụ thể, từ đó nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo, mang tính khách quan, đúng đắn. 6.3. Phƣơng pháp khảo sát thực tế Phƣơng pháp này bắt buộc tôi phải trực tiếp đến tận địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin cần thiết, góp phần khai thác một cách triệt để vấn đề nghiên cứu qua cái nhìn sinh động và thực tế. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH 1.1.1 Khái niệm, phân loại, chức năng du lịch 1.1.1.1 Khái niệm du lịch Ngành khoa học về du lịch xuất hiện từ khoảng thế kỷ XX cho đến ngày nay không ngừng hoàn thiện và phát triển. Hiện nay, du lịch trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi ngƣời trên thế giới, ƣớc tính hàng năm có đến khoảng ba tỷ lƣợt ngƣời đi du lịch. Ngành du lịch đã trở thành một trong năm ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới. Thuật ngữ “Tourism” (Du lịch) hiện nay trở nên rất thông dụng. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp và trở thành một từ trong tiếng Pháp “Tour”, có ý nghĩa là đi vòng quanh, đi dạo chơi… Trong tiếng Việt “Du lịch” là một từ Hán Việt, “Du” tức là du khảo, du ngoạn: “Lịch” là một hành trình. Đƣợc thành lập tại Hà Lan từ năm 1925, Hiệp Hội các tổ chức du lịch quốc tế ( IUOTO – International of Union Official Travel Organization), từ hàng thập kỷ qua, khái niệm du lịch vẫn luôn là đề tài mang lại nhiều ý kiến và đƣợc các nhà nghiên cứu tranh luận. Theo luật du lịch Việt Nam ( 2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Theo I.I.Pirojnic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ trong thời gian rãnh rổi lien quan tới sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm mục đích nghĩ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”. Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch diễn ra ở Canada (1991) đã đƣa ra định nghĩa về du lịch nhƣ sau: “Du lịch là các hoạt động của con ngƣời đi tới một nơi ngoài nơi ở thƣờng xuyên của mình trong một khoảng thời gian đƣợc các tổ chức du lịch quy định trƣớc, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động để kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. Xét ở nhiều khía cạnh khác nhau thì du lịch vừa là một dạng hoạt động của con ngƣời lại vừa là một nghành kinh tế, ngƣời ta thƣờng ví ngành du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”. Nguồn khách du lịch tăng lên theo thời gian, đồng nghĩa với doanh thu mang lại từ du lịch cũng tăng theo, chính vì lẽ đó, ngành kinh tế du lịch đã hình thành và phát triển ngày một mạnh mẽ hơn với nhiều cách thức và loại hình đa dạng, phong phú. Đứng trên góc độ kinh tế du lịch đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động: tổ chức, hƣớng dẫn du lịch: sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch”. Trong quá trình hoạt động du lịch các chủ thể có tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, khách du lịch đƣợc đóng vai trò trung tâm của toàn bộ hoạt động du lịch. Có thể biểu diễn công thức về du lịch nhƣ sau: Du lịch = Đi lại + Lƣu trú, nghĩ ngơi + Vui chơi, giải trí+ Tham quan, tìm hiểu Tổng hợp từ những góc độ nêu trên, có thể định nghĩa về du lịch theo Tổ chức du lịch thế giới WTO (1994): “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và du lịch đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con ngƣời ra khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ nhằm mục đích giải trí, nghỉ ngơi, văn hóa, dƣỡng sức… Và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống”. 1.1.1.2 Phân loại du lịch Hoạt động du lịch là lĩnh vực rất đa dạng và phức tạp. Để phân du lịch thành những nhóm khác nhau, các nhà nghiên cứu du lịch ở Việt Nam dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại du lịch: Theo mục đích chuyến đi - Du lịch tham quan - Du lịch nghỉ ngơi - Du lịch chữa bệnh - Du lịch thể thao - Du lịch công vụ - Du lịch tôn giáo - Du lịch thăm hỏi Theo phạm vi lãnh thổ - Du lịch trong nƣớc - Du lịch quốc tế Theo địa bàn du lịch - Du lịch biển - Du lịch núi - Du lịch nông thôn - Du lịch đô thị Theo phương tiện du lịch - Du lịch bằng xe đạp - Du lịch bằng ôtô - Du lịch bằng máy bay - Du lịch bằng tàu hỏa - Du lịch bằng tàu thủy Theo thời gian du lịch - Du lịch ngắn ngày - Du lịch dài ngày Theo hình thức tổ chức - Du lịch tự do - Du lịch có tổ chức Theo thị trường du lịch - Thị trƣờng nhận khách (Du lịch chủ động) - Thị trƣờng gửi khách (Du lịch bị động) Theo tính chất hoạt động du lịch - Du lịch khám phá - Du lịch mạo hiểm - Du lịch chuyên đề - Du lịch kết hợp Theo kiểu lưu trú - Khách sạn nhà khách và các cơ sở tƣơng tự 1.1.1.3 Chức năng du lịch Chức năng kinh tế Từ lâu du lịch đƣợc mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng”, hay “ngành công nghiệp không khói”, bởi nó đang là ngành kinh doanh lớn nhất và có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế của nhiều nƣớc cũng nhƣ nền kinh tế toàn cầu. Du lịch mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia. Ở các nƣớc du lịch phát triển thì nguồn ngoại tệ mà du lịch mang lại chiếm tới 20% hoặc cao hơn trong tổng nguồn thu nhập ngoại tệ của quốc gia đó. Bên cạnh đó, nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng cũng góp phần hình thành những dịch vụ du lịch mới mẻ, góp phần khai thác các giá trị văn hóa tinh thần, và khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên vào sự phát triển kinh tế. Chức năng sinh thái Du lịch có sự gắn bó và liên hệ mật thiết với môi trƣờng xung quanh nó, thông qua các hoạt động du lịch mà con ngƣời trở nên yêu thiên nhiên và có ý thức hơn trong việc bảo tồn và sử dụng nó. Ngày nay việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng sinh thái đƣợc đƣa vào du lịch góp phần đƣa du lịch đến gần hơn với môi trƣờng, việc tiếp xúc với thiên nhiên hùng vĩ, bao la và thơ mộng, tâm lý con ngƣời trở nên thoải mái, dễ chịu và hoàn toàn cân bằng, trong khi phải thƣờng xuyên làm việc và sinh sống ở thành thị, tiếp xúc với môi trƣờng luôn bị khói bụi và tiếng ồn ô nhiễm. Chính từ những trãi nghiệm này, họ thấy đƣợc môi trƣờng thật sự có một ảnh hƣởng rất lớn đến chuyến du lịch mà họ đang hƣởng thụ. Điều đó góp phần củng cố và nâng cao tình yêu thiên nhiên và ý thức giữ gìn môi trƣờng tự nhiên ấy. Chức năng văn hóa – chính trị - xã hội Đối với nhu cầu xã hội ngày một nâng cao thì những đòi hỏi trong hoạt động du lịch cũng không ngừng tăng lên, du lịch không chỉ góp phần thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời, mà thông qua đó còn nâng cao nhận thức, mở rộng tầm hiều biết về nhiều lĩnh vực cho ngƣời dân. Sức khỏe là một vấn đề đáng quan tâm, trong khi đó, du lịch chẳng những giúp nâng cao sức khỏe, hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, mà còn có thể nâng cao thể lực và khả năng lao động. Theo các nghiên cứu về sinh học cho thấy, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch hợp lí mà bệnh tật của dân cƣ giảm trung bình 30%, bệnh về hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% (Crivôsep, Dorin 1981). Nhƣ vậy du lịch góp phần đáng kể các chi phí của xã hội trong việc khám và chữa bệnh, nâng cao số ngày làm việc và năng suất lao dộng xã hội. Đối với sự đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia thì du lịch lại đóng vai trò nhƣ chất xúc tác giúp tăng cƣờng giao lƣu, mở rộng quan hệ xã hội. Du lịch góp phần tuyên truyền và thực hiện đƣờng lối, chính sách đối ngoại của đảng và nhà nƣớc. Qua các chuyến tham quan du lịch đến Việt Nam, khách nƣớc ngoài sẽ trực tiếp chững kiến những thành tựu của đất nƣớc đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đƣợc nâng cao. Du lịch cũng góp phần giáo dục lòng yêu nƣớc, ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc. Khi ngƣời Việt Nam đi du lịch khách nƣớc ngoài chúng ta có dịp so sánh và thấy đƣợc những ƣu điểm và nhƣợc điểm của đất nƣớc mình so với quốc gia khác. Nhƣ vậy, lòng yêu nƣớc sẽ có cơ sở vững chắc hơn. Mặt khác, mỗi khi đi xa ngƣời ta thƣờng có tình cảm sâu đậm hơn với những gì mà thƣờng ngày chúng ta thƣờng thấy quá quen thuộc và quá gần gũi. Du lịch còn là nhân tố rất quan trọng góp phần củng cố hòa bình thế giới. Vào năm 1967, WTO đã lấy chủ đề cho năm năm lịch là: “Du lịch là giấy thông hành của hòa bình”. 1.1.2 Khái niệm, phân loại, vai trò tài nguyên của du lịch 1.1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời có thể đƣợc sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch , là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”. Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Có nhiều định nghĩa về tài nguyên du lịch, nhƣng nhìn chung lại tất cả đều phản ánh đến mức cụ thể những giá trị mang cả yếu tố tự nhiên lẫn nhân tạo có khả năng khai thác vào du lịch. 1.1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch a. Tài nguyên du lịch tự nhiên Địa hình: là những đặc điểm bên ngoài của bề mặt đất. Địa hình biểu hiện bằng các yếu tố nhƣ độ cao, độ dốc, trạng thái,… Ngƣời ta thƣờng chia tổng quát địa hình thành ba dạng: miền núi, đồng bằng, biển và bờ biển. Địa hình miền núi thƣờng rất đa dạng và có khả năng thu hút khách du lịch. Có rất nhiều loại hình du lịch ở miền núi: du lịch thám hiểm, du lịch sinh thái, săn bắn, leo núi và thể thao, du lịch mạo hiểm,… Địa hình núi thƣờng có rừng, thác nƣớc và hang động,…Vì vậy, miền núi có nhiều hƣớng phát triển du lịch. Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là du lịch biển: tắm biển, nghĩ biển, du tuỳen ra đảo, lăn biển và các loại hình du lịch thể thao. Ngoài ra, biển có nhiều hải đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng. Địa hình đồng bằng thƣờng đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển du lịch. Tuy nhiên đồng bằng thƣờng là nơi tập trung sinh sống nên cũng có khả năng phát triển du lịch. Khí hậu: có ảnh hƣởng nhiều mặt đến đời sống con ngƣời. Trƣớc hết, trạng thái của cơ thể con ngƣời gắn liền với các chỉ số sinh khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ ẩm, những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi để phát triển du lịch nghĩ dƣỡng. Ví dụ ở Việt Nam, Sapa và Đà Lạt là hai điểm du lịch rất nổi tiếng. Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu mùa của du lịch. Thƣờng thì mùa hè là mùa du lịch của các vùng bãi biển nhiệt đới. mùa đông lại là mùa của các điểm du lịch thể thao ở các vùng ôn đới. Nƣớc: có vai trò rất quan trọng đối với con ngƣời. Du lịch đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp nƣớc cho du khách. Nƣớc còn là môi trƣờng có nhiều loại hình hoạt động du lịch: tắm, bơi lặn, du thuyền, lƣớt ván, câu cá, tham quan đáy biển… Các hồ nƣớc, thác nƣớc, sông suối,… cũng là những yếu tố có giá trị nhiều mặt đối với du lịch. Nguồn nƣớc khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghĩ dƣỡng. Trên thế giới có nhiều điểm du lịch về nƣớc khoáng. Tài nguyên sinh vật: cũng có giá trị du lịch rất to lớn. Các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên… là những nơi còn tồn tại nhiều loài động – thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu. b. Tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn đƣợc định nghĩa ngắn gọn là các đối tƣợng, hiện tƣợng do con ngƣời tạo ra. Bao gồm tài nguyên vật thể và phi vật thể, tồn tại song song và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Di tích lịch sử văn hóa: là những gì tồn tại trong quá khứ. Di tích đƣợc chia làm 4 nhóm chủ yếu: - Di tích khảo cổ - Di tích lịch sử - Di tích kiến trúc nghệ thuật - Danh lam thắng cảnh Lễ hội: là những hình thức sinh hoạt của cộng đồng của dân cƣ. Lễ hội tuy có nhiều dạng nhƣng thƣờng bao gồm hai phần liên quan mật thiết với nhau. Lễ hôi có sức hấp dẫn du lịch rất cao, bởi vậy ngƣời ta thƣờng ví von lễ hội nhƣ một bảo tàng sống của cộng đồng. điều đặc biệt ở lễ hội là du khách có thể hòa quyện vào không khí sôi động của phần lễ hội để chính mình cảm nhận chúng một cách chân thực nhất. Làng nghề thủ công: là những loại hình hoạt động kinh tế xã hội rất đa đạng, ở nhiều lĩnh vực khác nhau vì thế cũng tạo ra nhƣng sản phẩm hết sức phong phú tạo nên sự hấp dẫn du lịch. Các đặc trƣng văn hóa dân tộc: thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhƣ trang phục, tôn giáo, tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lễ hội, thói quen sinh hoạt kinh tế, văn hóa nghệ thuật,… chính từ đặc điểm này mà du lịch cũng rất thu hút. Sự kiện văn hóa – thể thao: các yếu tố cơ bản sau đây là những thể hiện:  Các hội chợ triễn lãm: Các hội chợ triễn lãm diễn ra rất đa dạng về loại hình và quy mô. Nó tạo ra khả năng thu hút nhiều đối tƣợng khác nhau đến để mua sắm, tham quan, chia sẻ hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều loại lễ hội kết hợp với hình thức triển lãm nhằm mục đích quảng bá thƣơng hiệu và du lịch lễ hội bia, lễ hội trái cây, lễ hội sôcôla, lễ hội hoa…  Các cuộc thi đấu thể thao, liên hoan âm nhạc, thi hoa hậu,… cũng là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự thu hút du lịch.  Ngoài ra còn một số nhân tố khác cũng nằm trong nhóm tài nguyên du lịch nhân văn đó là: - Bảo tàng: nơi đây đƣợc xem là những điểm tham qua rất có giá trị nhân văn, giúp cho du khách tìm hiểu về di tích, con ngƣời, sự kiện lịch sử, với nhứng chủ đề khá là tập trung và hấp dẫn du khách. - Công trình kiến trúc và các sản phẩm kinh tế: là những công trình do con ngƣời tạo ra với tầm cỡ vĩ mô, hoặc một sản phẩm kinh tế đặc trƣng cho một vùng đất, một quốc gia, hay một khu vực. Ví dụ: các cầu lớn, nhà hát, tháp, nhà máy thủy điện, các đập và hồ nƣớc nhân tạo, các sản phẩm kinh tế khác. - Các giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực. 1.1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch đƣợc xem là một yếu tố cơ bản để tạo nên sản phẩm du lịch. Nó đóng vai trò quan trọng và góp phần quyết định sự phát triển của du lịch. Hơn thế nữa, tài nguyên du lịch còn có mối quan hệ mật thiết với môi trƣờng kinh tế xã hội và các phân hệ khác. Chính vì sự đa dạng, phong phú của tài nguyên du lịch đã góp phần tạo nên sự hấp dẫn và thu hút đối với du khách. Tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng mang tính quyết định đến quy mô, số lƣợng, chất lƣợng sản phẩm du lịch và hiệu quả hoạt động của du lịch mang lại. Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch, với mục đích nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu của khách hàng chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy sự tƣơng tác và quan hệ chặc chẽ giữa các loại tài nguyên du lịch và các loại hình du lịch. Tuy nhiên mỗi tài nguyên du lịch không phải chỉ phát triển đƣợc một loại hình du lịch, mà trên thực tế ta thấy tài nguyên du lịch đóng vai trò là tiền đề để phát triển du lịch, còn việc phát triển loại hình du lịch nào lại thuộc về tính chiến lƣợc và nghệ thuật kinh doanh du lịch. Ví dụ, tài nguyên du lịch biển đảo có thể phát triển nhiều loại hình du lịch nhƣ du lịch nghĩ dƣỡng, thể thao, tham quan, hay tổ chức các lễ hội, festival biển,… Trong hệ thống lãnh thổ du lịch, tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định, có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự tạo nên các khu du lịch, điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch và vùng du lịch – tức là những biểu hiện của việc tổ chức các hoạt động du lịch theo lãnh thổ. Có thể nói rằng mọi quá trình tổ chức lãnh thổ du lịch đều bắt đầu và kết thúc bằng tài nguyên du lịch. 1.1.3 Môi trƣờng du lịch 1.1.3.1 Khái niệm môi trường du lịch Môi trƣờng du lịch theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn trong đó các hoạt động du lịch tồn tại và phát triển. Môi trƣờng có mối quan hệ mật thiết đối với du lịch. Các hoạt động nhằm phát triển du lịch làm thay đổi các đặc tính vốn có của môi trƣờng. Việc khai thác tiềm năng du lịch luôn luôn gắn liền và đồng nghĩa với việc khai thác các tài nguyên rừng, núi, sông, biển,… và các giá trị văn hóa, nhân văn khác. Ngày nay, việc đƣa các công trình nhân tạo nhƣ công viên giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hóa cũng đƣợc xem là cách tập hợp những đặc tính của môi trƣờng tự nhiên vào các công trình này, trên mô hình của một hang động, một quả đồi, một khu rừng hay một khúc sông,… Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với môi trƣờng, nên môi trƣờng du lịch có tác động tƣơng tác, qua lại với nhau. Vì vậy muốn phát triển du lịch thì việc quan tâm đến môi trƣờng du lịch là hết sức cần thiết. 1.1.3.2 Phân loại môi trường du lịch a. Môi trường du lịch tự nhiên Môi trƣờng tự nhiên là nhân tố cấu thành nên môi trƣờng tự nhiên nói chung, bao gồm tập hợp các môi trƣờng tự nhiên sống (hữu cơ) và không sống (vô cơ); trong đó có những đối tƣợng tự nhiên bị con ngƣời tác động và những đối tƣợng tự nhiên chƣa bị con ngƣời tác động đến, cãi tạo khác nhau, song vẫn bảo tồn đƣợc một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát triển. Đối với môi trƣờng du lịch tự nhiên, các nhân tố chủ yếu cần đƣợc xem xét là: môi trƣờng địa chất, môi trƣờng địa chất, môi trƣờng không khí, môi trƣờng sinh học, các sự cố môi trƣờng. Tất cả những yếu tố này có tác động trực tiếp đến quá trình tồn tại và phát triển của tài nguyên du lịch nói chung và tài nguyên du lịch văn hóa nói riêng. b. Môi trường du lịch nhân văn Môi trƣờng kinh tế - xã hội: là một bộ phận của môi trƣờng du lịch nhân văn, môi trƣờng kinh tế xã hội có phạm vi tác động khá lớn, bao gồm những yếu tố chính sau: thể chế chính sách, trình độ phát triển khoa học công nghệ, mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, môi trƣờng đô thị và công nghiệp, mức sống ngƣời dân, tổ chức xã hội và quản lý môi trƣờng và yếu tố trật tự, an toàn xã hội. Môi trƣờng văn hóa – nhân văn: nằm trong yếu tố cấu thành nên môi trƣờng du lịch nhân văn liên quan trực tiêp đến con ngƣời và cộng đồng, bao gồm các yếu tố dân cƣ, dân tộc, truyền thống và quan hệ cộng đồng, trình độ văn minh, chất lƣợng cuộc sống dân cƣ. Sự phong phú và đa dạng về văn hóa, dân tộc của một quốc gia, một vùng lãnh thổ nào đó sẽ tạo đƣợc sự hấp dẫn và những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. 1.1.3.3 Vai trò của môi trường du lịch Môi trƣờng du lịch có vai trò quan trọng, góp phần rất lớn đến sự phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng. Chính từ sự đa dạng về các dạng tài nguyên du lịch ở mỗi loại môi trƣờng đã làm nên sự phong phú cho các loại hình du lịch để du khách lựa chọn, trong đó du lịch văn hóa là một mảng quan trọng và thu hút khá đông thị hiếu của du khách hiện nay. Môi trƣờng du lịch là nhân tố quyết định sự hình thành, phát triển của các khu, điểm du lịch dựa trên những tài nguyên du lịch. Trong đó, nhân tố con ngƣời, dân cƣ, dân tộc là những yếu tố nằm trong môi trƣờng du lịch nhân văn, bên cạnh đó những yếu tố thuộc về tự nhiên nhƣ môi trƣờng không khí, địa chất, địa mạo lại thuộc mảng môi trƣờng du lịch tự nhiên. Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ nhau trong quá trình hình thành và phát triển du lịch. 1.2 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA 1.2.1 Khái niệm văn hóa Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác của con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên xã hội của mình”. Theo nhận định cuả chủ tịch Phạm Văn Đồng lại cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con ngƣời trong suốt quá trình tồn tại và phát triển”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. UNESCO đã đƣa ra định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp của những đặc trƣng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phƣơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Từ những nhận định trên ta có thể thấy rằng văn hóa là những giá trị vật chất tinh thần đƣợc hình thành và sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. 1.2.2 Phân loại văn hóa Theo UNESCO (1986) thì các loại văn hóa đƣợc phân theo các dạng nhƣ sau: Loại 0: Di sản văn hóa: di tích lịch sử, di sản khai quật, bảo tàng, kỷ niệm. Loại 1: In ấn và văn học: sách, sách truyền, báo, tạp chí, thƣ viện. Loại 2: Âm nhạc: lễ hội, nhạc sống, nhà hát, nhà kịch, múa, nghệ thuật biểu diễn khác, băng đĩa. Loại 3: Nghệ thuật biểu diễn: biểu diễn lễ hội, biểu diễn ca nhạc, kịch, múa,… Loại 4: Nghệ thuật hình tƣợng, tranh vẽ: tranh vẽ, tƣợng, sắp đặt, đồ thủ công. Loại 5: Điện ảnh, chụp hình: ảnh chụp, ảnh nghệ thuật sáng tạo, các loại ảnh khác. Loại 6: Phát thanh, truyền hình: truyền thanh, truyền hình. Loại 7: Các hoạt động văn hóa xã hội: các hoạt động liên kết, thói quen xã hội, … Loại 8: Thể thao, giải trí: các trò chơi thể thao, giải trí. Loại 9: Thiên nhiên và môi trƣờng: tập quán canh tác trong mối quan hệ với môi trƣờng tự nhiên, chất lƣợng cuộc sống. 1.2.3 Vai trò của văn hóa Chức năng giáo dục: là một trong những chức năng quan trọng, tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con ngƣời, làm cho con ngƣời dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực của xã hội tạo ra. Do đó, văn hóa đóng vai trò quyết định tạo nên nhân cách con ngƣời. Chức năng nhận thức: là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa. Đối với con ngƣời không có nhận thức thì không thể tạo ra một hành động văn hóa nào. Nâng cao trình độ nhận thức của con ngƣời chính là phát huy những tiềm năng của con ngƣời. Chức năng thẩm mỹ: cùng với nhu cầu thiết yếu của con ngƣời, cảm nhận và hƣởng thụ cái đẹp, văn hóa còn đóng vai trò chủ thể để con ngƣời tiếp nhận, đồng thời thanh lọc mình vƣơn tới cái đẹp, khắc phục những cái xấu của mình, góp phần hoàn thiện bản thân. Chức năng giải trí: đây là một trong những chức năng đƣợc thể hiện rõ nét nhất. ngoài các hoạt động lao động, sáng tạo, con ngƣời còn có những nhu cầu giải trí khác nhƣ: tham gia câu lạc bộ, lễ hội, ca nhach, biểu diễn nghệ thuật,… 1.3 TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA 1.3.1 Mối tƣơng quan giữa văn hóa và du lịch 1.3.1.1 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch Du lịch và văn hóa là hai thực thể gắn bó mật thiết với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong hoạt động kinh doanh du lịch. Để phân biệt khái niệm Văn hóa du lịch và Du lịch văn hóa, chúng ta tạm chất nhận cách lí giải nhƣ sau: Du lịch văn hóa: là loại hình mà điểm đến là các địa chỉ văn hóa, kiến trúc, các lễ hội truyền thống dân gian,… Văn hóa du lịch đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Một là: cách ứng xử của cán bộ du lịch trong hoạt động du lịch. Hai là: trình độ thao tác nghiệp vụ phục vụ trong du lịch. Văn hóa có vai trò to lớn trong việc đào tạo cũng nhƣ phát triển các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch đặc trƣng phục vụ nhu cầu du khách. 1.3.1.2Khái niệm về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa a. Văn hóa du lịch Văn hóa là du lịch là một khoa học nghiên cứu về những phƣơng thức khai thác các giá trị văn hóa phục vụ cho du lịch. Có thể hiểu rằng, văn hóa du lịch chuyên nghiên cứu về những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, ẩm thực từ góc độ du lịch. Nhằm biến những giá trị này thành những phƣơng thức khai thác vào kinh doanh du lịch. Theo tiến sĩ Trần Nhoãn: “Văn hóa du lịch là một khoa học nhằm nghiên cứu mọi giá trị từ các loại hình văn hóa khác nhau, đồng thời tìm công nghệ khai thác tối ƣu để phát triển du lịch”. Văn hóa du lịch là sự kết hợp giữa hai yếu tố là văn hóa và du lịch, là kết quả tinh thần và vật chất do tác động tƣơng hỗ lẫn nhau giữa ba loại:  Nhu cầu văn hóa và tình cảm tinh thần của chủ thể du lịch (khách du lịch).  Nội dung và giá trị văn hóa của khách thể du lịch (tài nguyên du lịch)
- Xem thêm -