Nghiên cứu phát hiện gen survivin từ các tế bào ung thư vú

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 20 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

  1 BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI *** HOÀNG HẢI YẾN NGHIấN CỨU PHÁT HIỆN GEN SURVIVIN TỪ CÁC TẾ BÀO UNG THƯ VÚ Chuyờn ngành : Húa sinh Mó số : 60.72.04 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thiện Ngọc PGS.TS. Lờ Quang Huấn HÀ NỘI - 2011     2 BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI *** HOÀNG HẢI YẾN NGHIấN CỨU PHÁT HIỆN GEN SURVIVIN TỪ CÁC TẾ BÀO UNG THƯ VÚ Chuyờn ngành : Hỳa sinh Mú số : 60.72.04 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thiện Ngọc PGS.TS. Lê Quang Huấn HÀ NỘI - 2011   3   LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và làm luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều của các thầy cô, nhà trường, bệnh viện, gia đình và bè bạn. Với tất cả sự kính trọng, tôi xin trân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Phạm Thiện Ngọc - Chủ nhiệm bộ môn Hóa sinh - Trường Đại học Y Hà Nội. Thầy là người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, phương pháp và tác phong làm việc nghiêm túc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập. Thầy đã xây dựng ý tưởng, cung cấp kinh phí từ đề tài cấp Bộ y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Lê Quang Huấn - Trưởng phòng Công nghệ tế bào động vật - Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, là người hướng dẫn khoa học, người Thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu, tạo mọi điều thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô trong Hội đồng đánh giá đề cương và Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã góp ý cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Thầy Cô bộ môn hóa sinh trường Đại học Y Hà Nội đã cho tôi những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này. Ban giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, khoa Xét nghiệm Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.   4   Ban giám đốc, khoa ngoại vú, khoa giải phẫu bệnh, phòng mổ bệnh viện K trung ương đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện đề tài. Tôi xin gửi lời cám ơn tới tất cả các bạn phòng Công nghệ tế bào động vật, Viện Công nghệ sinh học đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Xin bày tỏ lòng biết ơn đối với bố mẹ và những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp là chỗ dựa vững chắc của tôi, luôn thương yêu, khuyến khích, động viên và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần giúp tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và thực hiện thành công luận văn này. Cuối cùng tôi xin gửi lời tri ân tới những bênh nhân đã tham gia vào nhóm nghiên cứu, sự đóng góp của các chị đã giúp tôi có thành công này. Hà Nội, 24 tháng 12 năm 2011 Hoàng Hải Yến     5 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình nào khác. Hà Nội, 24 tháng 12 năm 2011 Tác giả Hoàng Hải Yến   6   DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DNA : Dideoxyribonucleic acid RNA UTV UT : Ribonucleic ac : Ung thư vú : Ung thư UTBM PCR : Ung thư biểu mô : Polymerase Chain Reaction (Phản ứng tổng hợp chuỗi) RT- PCR bp : Reverse Transcriptase Polymerase Chain Reaction (Phản ứng tổng hợp chuỗi phiên mã ngược) : Base pair dNTP ddNTP : Deoxynucleoside triphosphate : Dideoxynucleotide triphosphate Kb mRNA TNM : Kilobase : messenger RNA (RNA thông tin) : Tumor Nude Metastasis TLPT TAE GAPDH MMLV-RT CTC : Trọng lượng phân tử : Tris - acid acetic - EDTA : Glyceraldehyde - 3 Phosphat Dehydrogenase : Moloney Murine Leukemia Virus-Reverse Trancriptase (Enzym phiên mã ngược) : Circulating Tumor Cell IAP : Inhibitor of apoptosis protein   7   (Chất ức chế quá trình chết theo chương trình của tế bào) ATCC FBS : American Type Culture Colection : Fetal Bovine Serum P/S DMEM DMSO : Penicillin/Streptomycin : Dulbecco’s Modified Eagle Medium : Dimethyl Sulfoxide PBS : Phosphate Buffer Saline ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vú (UTV) là loại ung thư (UT) phổ biến ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. UTV chiếm gần 30% các loại UT ở phụ nữ, là ung thư có tỉ lệ tử vong cao thứ 2 trong số các loại ung thư. Theo hiệp hội nghiên cứu ung thư thế giới, năm 2008, trên toàn thế giới có khoảng 1,3 triệu phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mới được chẩn đoán và 458.503 ca tử vong [49]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc UTV ở Hà Nội là khoảng 30/100.000 dân và ở TP Hồ Chí Minh là khoảng 20/100.000 dân, đứng đầu trong các loại UT ở phụ nữ [13]. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong tầm soát, phẫu thuật và các thuốc điều trị ngày càng có hiệu quả nhưng vẫn còn nhiều trường hợp bệnh nhân UTV nguyên phát ở giai đoạn sớm vẫn bị tái phát bệnh hoặc tử vong. Các phương pháp cận lâm sàng được áp dụng trong chẩn đoán UT như các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, các phương pháp sinh thiết và các phương pháp hóa sinh phát hiện các dấu ấn ung thư (tumor marker). Mỗi loại phương pháp chẩn đoán trên đều có những ưu điểm và hạn chế, do vậy thường phải kết hợp các phương pháp chẩn đoán khác nhau mới đem lại hiệu quả chẩn đoán chính xác và sớm UTV. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử, nhiều phương pháp mới giúp cho việc     8 chẩn đoán và phát hiện sớm một số loại UT nói chung và UTV nói riêng đã được ứng dụng. Nguyên tắc chung của phương pháp này là sử dụng kỹ thuật phân tích DNA xác định các đột biến gen liên quan tới UT. Việc phát hiện các đột biến gen UT lấy từ các mô UT, hạch bạch huyết hoặc tủy xương chỉ có thể thực hiện khi sinh thiết hoặc sau phẫu thuật do vậy nhược điểm là phát hiện muộn khi khối u đã lớn. Vì vậy, việc chẩn đoán UT thường ít còn ý nghĩa và không giúp cho việc điều trị có hiệu quả cũng như việc theo dõi điều trị. Do vậy, các nghiên cứu phát hiện các chỉ thị UT trong máu nhằm phát hiện di căn tiềm ẩn từ giai đoạn sớm của bệnh nhân ung thư là cần thiết. Các tế bào UT có nguồn gốc từ các tế bào khối u nguyên phát hoặc các khối u đã di căn, thâm nhập và di chuyển trong máu ngoại vi gọi là các tế bào khối u di chuyển (Circulating Tumor Cell - CTC). Các CTC là bằng chứng về sự di căn của các tế bào UT trước khi có các biểu hiện lâm sàng [22]. Vì vậy, việc sử dụng chỉ thị khối u để xác định các tế bào khối u trong máu đóng vai trò quan trọng, có thể góp phần xác định sớm các trường hợp di căn, giúp cho việc chẩn đoán và điều trị có hiệu quả. Một số gen chỉ thị khối u đã được phát hiện và nghiên cứu trong đó có gen mã hóa survivin. Gen survivin mã hóa một protein ức chế quá trình chết theo chương trình của tế bào (apoptosis). Gen này được biểu hiện mạnh trong các mô của bào thai đang phát triển và trong nhiều loại ung thư, trong đó có UTV, nhưng điều đặc biệt có ý nghĩa là gen survivin không biểu hiện ở các mô bình thường [11]. Do vậy, việc phát hiện gen survivin trong máu có thể góp phần chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi điều trị bệnh nhân UTV [18], [38], [50]. Đặc biệt khi kết hợp với các gen khác như survivin, hTERT và hMAM [41]. Vì vậy, để góp phần nghiên cứu xây dựng các phương pháp mới xác định các tế bào UT trong máu chẩn đoán UTV ở phụ nữ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu phát hiện gen survivin từ các tế bào ung thư vú” với 2 mục tiêu:   9   1. Xây dựng quy trình phát hiện gen survivin từ các tế bào ung thư vú. 2. Đánh giá khả năng ứng dụng xét nghiệm gen survivin trong chẩn đoán ung thư vú. Chương 1 TỔNG QUAN B nh ung th vú 1.1.1. Khái niệm bệnh Ung thư là từ dùng để chỉ u bướu ác tính do sự phát triển và biệt hóa của các tế bào ở các mô của cơ thể trong tình trạng không kiểm soát được. Ung thư vú là u ác tính phát sinh từ các tế bào biểu mô nguồn gốc từ mô vú, phần lớn từ các ống dẫn sữa hoặc các tiểu thuỳ. UT có nguồn gốc từ ống sữa được gọi là ung thư biểu mô tuyến sữa và UT có nguồn gốc từ tiểu thuỳ được gọi là ung thư biểu mô tiểu thuỳ. Có nhiều dạng UTV khác nhau với trạng thái khác nhau, sự ác tính khác nhau, bản chất di truyền khác nhau và tỷ lệ sống sót khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố này. 1.1.2. Dịch tễ học UTV Tình hình ung thư vú trên thế giới Ung thư vú không những là một bệnh ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ mà còn là nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ tại nhiều nước. Nguy cơ mắc bệnh UTV theo suốt cuộc đời người phụ nữ. Tỷ lệ mắc thay đổi   10   nhiều, từ 25-35/100.000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà Lan và Canada đến 15/100.000 dân tại Nhật Bản, Mexico, Venezuela [2]. Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Mỹ và Bắc Âu, tỷ lệ mắc trung bình ở Nam Âu, Tây Âu và thấp nhất ở châu Á. Người ta nhận thấy tỷ lệ mắc UTV tăng gấp 2 lần so với những năm 50 thế kỷ XX ở một số nước có nền công nghiệp phát triển mạnh trong các năm qua như Nhật Bản, Singapore, một số thành phố của Trung Quốc...Sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ mắc ở các vùng này phần nào được giải thích do sự thay đổi về lối sống, kinh tế phát triển, ngày càng có nhiều phụ nữ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, tuổi thọ trung bình tăng, thay đổi về sinh sản, chế độ ăn... Theo hiệp hội nghiên cứu ung thư thế giới, năm2008, trên toàn thế giới có khoảng 1,3 triệu phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mới được chẩn đoán và 458.503 ca tử vong [49]. Ở Mỹ, năm 2010, hơn 207.000 phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mới được chẩn đoán và ước tính có tới 39.800 ca tử vong [16]. Tỷ lệ UTV tăng theo tuổi, hiếm gặp ở lứa tuổi 30 (khoảng 0,8%), sau độ tuổi này, tỷ lệ mắc bệnh gia tăng một cách nhanh chóng (khoảng 6,5% ở tuổi 30-40). Theo thống kê của hiệp hội phòng chống UT Mỹ, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi tăng từ 25/100.000 dân ở độ tuổi 3034 lên đến 200/100.000 dân ở độ tuổi từ 45-49. Tuy nhiên người ta nhận thấy rằng nguy cơ mắc bệnh này tăng chậm ở độ tuổi từ 45-50. Điều này gợi ý rằng UTV là loại UT có liên quan mật thiết với nội tiết. Tỷ lệ chết do UTV tăng lên theo tỷ lệ mắc [2]. Tuy nhiên, ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc UTV gia tăng nhanh chóng nhưng tỷ lệ chết vẫn giữ được ở mức ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và những thành tựu đạt được trong điều trị. Tình hình ung thư vú tại Việt Nam   11   Tại Việt Nam, theo ghi nhận tình hình UT ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh trong nhiều năm, người ta ước tính tỷ lệ mắc UTV chuẩn theo tuổi năm 2000 là 17,4/100.000 dân. Khác với các nước phương tây, ở Việt Nam UTV bắt đầu tăng nhanh ở độ tuổi 35 và đạt tỷ lệ cao nhất ở độ tuổi trước và sau mãn kinh (45-54 tuổi) rồi sau đó có xu hướng giảm xuống rõ rệt. Tại Việt Nam giai đoạn 2001-2004, tỷ lệ mắc UTV chuẩn theo tuổi ở Hà Nội là 29,7/100.000 dân, tại TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ là 19,4/100.000 dân, ở Hải phòng là 10,5/100.000 dân, ở Thái Nguyên là 11,6/100.000 dân, ở Huế là 12,2/100.000 dân. Đây là loại UT có tỷ lệ mắc đứng đầu ở phụ nữ Việt Nam. Tóm lại, UTV là bệnh phổ biến nhất trong tất cả các loại ung thư ở phụ nữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. 1.1.3.Tiến triển và các giai đoạn ung thư vú. 1.1.3.1. Tiến triển ung thư vú. Biểu hiện lâm sàng của UTV có đặc trưng là kéo dài và rất khác nhau giữa các bệnh nhân. Đa số các trường hợp UTV xâm lấn phát sinh từ tế bào biểu mô của thùy hoặc của ống dẫn của tuyến vú. Các tế bào bị UT hóa nhân lên với tốc độ khoảng 60 ngày một chu kỳ. Ước tính, từ khi tế bào chuyển biến ác tính đầu tiên đến khi phát hiện được khối u có kích thước 1cm thì phải mất khoảng thời gian vài năm. Chỉ một số ít bệnh nhân (< 3%) ngay sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên, UTV tiến triển nhanh và tử vong trong vài tháng [1]. UTV có khả năng chữa khỏi ở nhiều bệnh nhân nếu bệnh được chẩn đoán trong giai đoạn tiền lâm sàng (chưa có triệu chứng hay dấu hiệu lâm sàng). Green Wood, Bloom và cộng sự theo dõi những trường hợp UTV không điều trị, thấy thời gian sống thêm trung bình kể từ khi chẩn đoán là 31   12   tháng, tỷ lệ sống thêm 3 năm là 40% và 5 năm là 18 - 20%, có 4% sống thêm 10 năm [2]. Giai đoạn tại chỗ: Khối u nguyên phát xuất phát từ đơn vị tiểu thùy - ống tuyến tận cùng, tức phần chế tiết của tuyến vú. Sau đó phát triển lan sang mô lân cận, xô đẩy tổ chức tuyến vú bình thường. Xu hướng vượt khỏi mô tuyến vú xâm nhiễm mô xung quanh đến các cấu trúc lân cận như da, làm co rút da, sần da cam, phù nề da, đỏ và loét da. Khi chúng xâm nhiễm đến cân cơ ngực và thành ngực tạo thành một khối cứng. Giai đoạn lan tràn: + Theo đường bạch huyết: Nhờ mạng lưới mạch bạch huyết dày đặc, UTV lan tới các chặng hạch trong đó hạch nách là vị trí hay gặp do đây là vị trí chính dẫn lưu dịch, bạch huyết của vú. Tiếp theo là hạch thượng đòn, rồi đi vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch cạnh sống, đám rối này được nối trực tiếp với vú qua mạch máu liên sườn. + Theo đường máu: Các tế bào UTV có thể di căn đến khắp nơi trong cơ thể, tuy nhiên UTV thường di căn tới xương, phổi, gan, não. Khoảng 20 30% các bệnh nhân hạch bạch huyết âm tính nhưng vẫn có di căn xa chứng tỏ di căn theo đường máu là chủ yếu ở các bệnh nhân này [39]. Đôi khi sự lan tràn xảy ra thêm từ hệ tĩnh mạch ở vú, tiêu biểu từ hệ hạch bạch huyết của da dẫn đến lan rộng, xâm lấn thành ngực và sau đó đến màng phổi và phổi. Các tế bào UTV thường di căn rất sớm và tại thời điểm chẩn đoán được bệnh không thể phát hiện được các di căn này bằng các phương pháp chẩn đoán hiện có, do vậy việc nghiên cứu phát hiện các tế bào UTV thực sự là cần thiết có thể góp phần chẩn đoán sớm UTV.   13   1.1.3.2. Các giai đoạn của ung thư vú. * Hệ thống xếp giai đoạn TNM Dưới đây là hệ thống xếp giai đoạn (2004) của ủy ban Liên kết chống Ung thư của Mỹ (AJCC) [42]. Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu trong đó có các nghiên cứu đa quốc gia áp dụng hệ thống xếp giai đoạn này. T: U nguyên phát Không có u nguyên phát T0 Tis (UTBM tại chỗ): UTBM nội ống, UTBM thùy tại chỗ, bệnh Paget núm vú không có u. T1 U có đường kính lớn nhất ≤ 2cm T2 U có đường kính lớn nhất > 2cm và ≤ 5cm T3 U có đường kính lớn nhất > 5cm T4 U xâm lấn thành ngực hoặc da bất kể kích thước (thành ngực gồm xương sườn, cơ gian sườn, cơ răng cưa trước, không tính cơ ngực) N: Hạch vùng N0 Không di căn hạch vùng N1 Di căn hạch nách cùng bên di động N2 Di căn hạch nách cùng bên cố định hoặc dính nhau hoặc di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không di căn hạch nách. N3 Di căn hạch hạ đòn cùng bên có hoặc không kèm hạch nách cùng bên, hoặc di căn hạch vú trong cùng bên kèm di căn hạch nách cùng bên, hoặc di căn hạch thượng đòn cùng bên có hoặc không kèm hạch nách hoặc hạch vú trong cùng bên.   14   M: Di căn xa M0 Không di căn xa M1 Có di căn xa Phân loại có những điểm mới: di căn hạch hạ đòn xếp vào N3 (trước không đề cập), di căn hạch thượng đòn không xếp M1 nữa mà thành N3. Di căn hạch vú trong trước đây xếp vào N3, nay phân ra không kèm di căn hạch nách (N2b) và kèm di căn hạch nách (N3b) * Xếp giai đoạn lâm sàng Bảng 1.1. Phân chia giai đoạn UTV Giai đoạn TNM tương ứng 0 Tis N0 M0 I T1 N0 M0 T0 N1 M0 IIA T1 N1 M0 T2 N0 M0 T2 N1 M0 IIB T3 N0 M0 T0 N2 M0 T1 N2 M0 IIIA T2 N2 M0 T3 N1 M0 T3 N2 M0 IIIB T4 N0 M0   15   T4 N1 M0 T4 N2 M0 IIIC T bất kỳ, N3, M0 IV T bất kỳ, N bất kỳ, M1 1.1.4. Chẩn đoán ung thư vú 1.1.4.1. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán xác định UTV nhất thiết phải có sự khẳng định của giải phẫu bệnh học. Giải phẫu bệnh được coi như “một tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán ung thư vú. Hiện tại Bệnh viện K, UTV được chẩn đoán xác định dựa vào 3 phương pháp: + Lâm sàng: khối u và tính chất khối u. + Chụp tuyến vú. + Mô bệnh học: chọc hút bằng kim nhỏ. Nếu một trong 3 yếu tố này còn nghi ngờ phải sinh thiết tức thì để chẩn đoán xác định. Ngoài 3 phương pháp thông dụng trên còn một số phương pháp khác như: sinh thiết kim, sinh thiết mở, sinh thiết 48 giờ, chụp vú kỹ thuật số, siêu âm vú, chụp cộng hưởng từ hạt nhân... được áp dụng cho từng trường hợp. Hiện nay, do nhiều lý do mà chẩn đoán UTV bằng kỹ thuật sinh học phân tử chưa được ứng dụng rộng rãi, mặc dù kỹ thuật này thường cho kết quả chẩn đoán chính xác và độ tin cậy cao. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm nghiên cứu khả năng ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử góp phần vào việc phát hiện, chẩn đoán UTV ở phụ nữ. 1.1.4.2. Chẩn đoán mô bệnh học Carcinom chiểm khoảng 90% trong đó: - Carcinom ống tuyến xâm nhập : 78%   16   - Carcinom tiểu thùy : 9% - Carcinomdạng tủy : 1,5% - Carcinom dạng kéo : 1,5% - Sarcom, paget không xếp loại, nhưng bệnh paget có khối u được phân loại theo kích thước của u. 1.1.5. Các yếu tố tiên lượng bệnh UTV Các quyết định trong điều trị bổ trợ UTV được dựa vào các yếu tố tiên lượng. Bên cạnh việc đánh giá các yếu tố tiên lượng kinh điển như kích thước u, loại mô học, độ mô học, tình trạng hạch nách, các nhà nghiên cứu đang có xu hướng đi sâu về bệnh học phân tử và gen để tìm ra bản chất phát triển của khối u nhằm đưa ra một phương thức điều trị tối ưu nhất cho bệnh nhân. 1.1.5.1. Hạch vùng Hạch nách: Tình trạng hạch nách được coi là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất liên quan đến tỷ lệ tái phát và sống thêm của bệnh nhân UTV. Tỷ lệ sống thêm, tái phát, thời gian tái phát, thất bại trong điều trị đều liên quan chặt chẽ với số lượng hạch di căn [6]. 1.1.5.2. Khối u nguyên phát Kích thước u nguyên phát: Kích thước u nguyên phát có mối liên quan với thời gian sống thêm của bệnh nhân và tình trạng di căn hạch vùng. Kích thước u tăng làm tăng hệ thống huyết quản và bạch mạch làm tăng nguy cơ di căn. 1.1.5.3. Vị trí u Vị trí u là một trong những yếu tố liên quan đến tiên lượng của UTV và mức độ di căn hạch nách. 1.1.5.4. Giai đoạn bệnh Giai đoạn bệnh có thể đánh giá trước và sau mổ. Giai đoạn trước mổ còn gọi là giai đoạn lâm sàng được đánh giá dựa trên kích thước u, sự di   17   động, thâm nhiễm da, tình trạng hạch và những bằng chứng về di căn. Giai đoạn lâm sàng giúp lập kế hoạch điều trị bước đầu. Giai đoạn sau phẫu thuật còn gọi là giai đoạn giải phẫu bệnh. Giai đoạn bệnh càng cao thì tiên lượng bệnh càng xấu [3], [6], [13]. 1.1.5.5. Loại mô học Hai thể mô học chính của UTBM tuyến vú là loại xâm lấn và loại không xâm lấn. Trong hai loại này UTBM thể không xâm lấn có tiên lượng tốt hơn. Ung thư biểu mô tại chỗ bao gồm cả ung thư ống và tiểu thuỳ tại chỗ là loại có thể chữa khỏi hoàn toàn, và chỉ có 1% là di căn căn hạch nách. Theo báo cáo của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, loại này chiếm khoảng 6,3% tổng số bệnh nhân UTV. Ung thư biểu mô thể ống xâm nhập chiếm tỷ lệ cao nhất là 67,9%, tỷ lệ sống thêm chung sau 5 năm ở nhóm này là 79%. Ung thư biểu mô thể tiểu thuỳ xâm nhập chiếm khoảng 6,3%, tỷ lệ sống thêm chung sau 5 năm là 82% [6], [7]. 1.1.5.6. Độ mô học (ĐMH) Độ mô học là một yếu tố tiên lượng quan trọng mặc dù nó không sử dụng để đánh giá giai đoạn bệnh. Độ mô học dựa vào sự hình thành ống nhỏ, sự đa hình thái của nhân và hoạt động nhân chia. 1.1.5.7. Tỷ lệ sống theo giai đoạn Bảng 1.2. Tỷ lệ sống thêm theo giai đoạn Giai đoạn Tỷ lệ sống 5 năm (%) Tỷ lệ sống 10 năm (%) 0 100 100 I 87 78 II 68 52 III 41 28   18   IV 10 0 1.1.6. Điều trị ung thư vú Cho tới nay, việc nghiên cứu điều trị UTV vẫn đang được tiếp tục và ngày càng hoàn thiện. Điều trị UTV là sự phối hợp điển hình giữa phương pháp điều trị tại chỗ (phẫu thuật, tia xạ) và điều trị toàn thân (hoá chất, nội tiết miễn dịch). Trên thực tế lâm sàng, trước khi quyết định áp dụng phương pháp điều trị các thầy thuốc căn cứ vào nhiều yếu tố bao gồm giai đoạn bệnh, thể mô học, độ mô học, tuổi và một số yếu tố khác. Giai đoạn bệnh là yếu tố chính quyết định việc lựa chọn phương pháp điều trị [13]. 1.1.7. Các dấu ấn sinh học trong chẩn đoán và theo dõi điều trị UTV. Dấu ấn sinh học là một nhóm các chất (enzym, hormon, receptor, protein,…v.v) được các tế bào khối u trực tiếp sản xuất hoặc do các tế bào bình thường sản xuất do tác động kích ứng của các tế bào ung thư đi vào vòng tuần hoàn và có thể được sử dụng để chẩn đoán và theo dõi điều trị ung thư. Các dấu ấn huyết thanh gồm CEA, CA15-3 và CK-BB. Các mô có thể được phân tích đối với các receptor estrogen và progesteron, receptor của yếu tố sinh trưởng biểu mô (Epidermal Growth Factor- EGF). Sự lựa chọn cách điều trị phụ thuộc vào các định lượng trên. 1.1.7.1. Dấu ấn là protein. Nhiều protein huyết thanh do tế bào UT sản xuất ra lưu thông trong máu đã được sử dụng như dấu ấn UT. Dấu ấn là protein thường đặc hiệu hơn dấu ấn là enzym, hormon và dễ phát hiện hơn so với các dấu ấn khác vì vậy được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên để chẩn đoán xác định cần phải phối hợp với lâm sàng và các xét nghiệm khác nữa.   19   - CEA (Carcino Embryonic Antigen) được Gold và Freedman mô tả lần đầu tiên vào năm 1965, là kháng nguyên ung thư bào thai có bản chất là glycoprotein. CEA được sản xuất trong thời kỳ bào thai đặc biệt ở dạ dày, tụy và gan. Sau khi sinh chỉ tồn tại với hàm lượng rất trong huyết thanh của người bình thường và tăng cao trong một số loại ung thư. CEA được coi là dấu ấn đặc hiệu cho ung thư đại tràng, tuy nhiên CEA còn thấy tăng trong ung thư vú, đường tiêu hoá, phổi, buồng trứng, tụy và tuyến tiền liệt. Hơn nữa, nó cũng tăng lên ở người nghiện rượu, viêm ruột, xơ hoá bàng quang (cystic fibrosis) và ở những người hút thuốc lá nặng. Mặc dù CEA không đặc hiệu cho chẩn đoán, nhưng có giá trị tiên lượng và theo dõi điều trị. Nồng độ CEA cao sau điều trị là cơ sở nghĩ đến sự tiến triển của khối u hay di căn. - CA15-3 (Carbohydrat Antigen) bản chất là một glycoprotein không đặc hiệu nhưng nhạy cảm đối với UTV. Bình thường có trong huyết thanh người với nồng độ < 25 U/ml, CA15-3 tăng trong 10% phụ nữ mắc bệnh UTV và tăng trong 70% những người mắc UTV di căn. Do vậy CA 15-3 thường được sử dụng để sàng lọc, theo dõi điều trị và phát hiện tái phát UTV sau giai đoạn điều trị. 1.1.7.2. Dấu ấn là các enzym. Các xét nghiệm về enzym huyết thanh để chẩn đoán UT thường có độ đặc hiệu kém do vậy hiện nay rất ít được sử dụng trong chẩn đoán. Enzym CK-BB là enzym được sử dụng trong chẩn đoán UTV. Tuy nhiên để chẩn đoán xác định cần phải phối hợp với lâm sàng và các xét nghiệm khác nữa. - Creatine kinase: Isoenzym creatine kinase BB (CK1, CK-BB) có trong huyết thanh có nguồn gốc từ não và liên quan đến nhiều bệnh ung thư ác tính. CK-BB trong huyết thanh tăng ở một số bệnh UT ác tính như: UTV,   20   UT buồng trứng, UT não, UT phổi,.. Isoenzym CK-BB được phát hiện và định lượng nhờ điện di. Tuy nhiên CK-BB trong huyết thanh không đặc hiệu. 1.1.7.3. Dấu ấn là các receptor. Rất nhiều khối u ác tính gây những biến đổi về chức năng và số lượng receptor nên các receptor có thể được sử dụng như dấu ấn UT. Các dấu ấn là receptor thường được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi điều trị như các receptor estrogen và progesteron, receptor của yếu tố sinh trưởng biểu mô (Epidermal Growth Factor- EGF). Có hai phương pháp cơ bản để định lượng receptor của tế bào: Định lượng trên mẫu mô sinh thiết hoặc tổ chức u sau khi phẫu thuật cắt bỏ. - Thụ thể estrogen và progesteron (ER và PR): ER và PR đã được nghiên cứu rộng rãi khoảng 10 năm trở lại đây. Các ER và PR được định lượng trong lâm sàng để xác định các bệnh nhân bị UTV có thể đáp ứng với phương pháp điều trị bằng hormon. Có khoảng 50 - 85% các khối u nguyên phát và 45 - 55% các u di căn có ER dương tính. Có nhiều nghiên cứu cho thấy giảm tỷ lệ tử vong và tái phát từ 20% - 30% ở những BN có ER (+) được điều trị nội tiết bổ trợ. Khi cả ER và PR (+) khoảng 80% trường hợp u sẽ đáp ứng với phương pháp điều trị nội tiết. Những u càng biệt hoá cao thì tỷ lệ dương tính với ER và PR cao. Những ung thư biểu mô dương tính với ER và PR có tiên lượng tốt hơn so với những u âm tính với hai thụ thể này [3], [6], [24]. - Thụ thể yếu tố sinh trưởng biểu mô (Epidermal Growth Factor receptor- EGFR): là thụ thể của các yếu tố sinh trưởng biểu mô (EFG) và yếu tố biến đổi sinh trưởng tế bào α (Transforming Growth Factor α TGF-α). Họ thụ thể của các yếu tố sinh trưởng gồm các thụ thể: EGFR (ErbB-1), HER2/cneu (ErbB-2), HER3/c-neu (ErbB-3), HER4/c-neu (ErbB-4). Nồng độ cao của thụ thể có liên quan đến sự tái phát khối u và sự sống sót của bệnh nhân UTV  
- Xem thêm -