Nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nam ở phụ nữ có thai và sau sinh của nhân dân xã hương long - thành phố huế

  • Số trang: 46 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 149 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Ngay từ thuở nguyên sơ, khi còn ở thời đại đồ đá, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật bảo vệ cuộc sống, người xưa đã biết dùng cây cỏ quanh mình để làm thuốc và biết sáng tạo ra những cách chữa bệnh không dùng thuốc. Công dụng chữa bệnh của chúng được thử thách qua thời gian và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Y học dân gian là một nền y học mang đậm tính đại chúng, tính phổ biến. Hầu hết các kinh nghiệm dân gian đều rất dễ dùng, dễ kiếm, đơn giản và rẻ tiền. Vì tính chuyên môn hóa không cao nên mọi người đều có thể nhận thức và vận dụng một cách dễ dàng. Ngày nay không chỉ nước ta và các nước có nền Y học cổ truyền ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương biết sử dụng cây cỏ làm thuốc, mà ở nhiều nước phát triển trên thế giới đang ngày càng có xu hướng quay lại với thảo dược để tận dụng các hoạt chất gần gũi với thiên nhiên, ít độc hại cho con người. Khí hậu và điều kiện tự nhiên ở nước ta rất thuận lợi cho việc phát triển các laọi cây thuốc, thảo mộc, nhất là thuốc nam. Cây thuốc nam được phân bố rộng rãi khắp tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và xã Huơng Long nói riêng là một thuận lợi trong việc chữa và phòng bệnh trong nhân dân. Hiện nay chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010”, đặc biệt quan tâm đến sức khỏe phụ nữ và trẻ em với quan điểm kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc trong chăm sóc sinh sản [ tr.19, CLQG ] . Do vậy, ngoài việc lưu giữa nhiều cây thuốc quý, bài thuốc hay trong phòng và chữa bệnh thông thường, đặc biệt là sử dụng cây thuốc nam cho phụ nữ có thai và sau sinh cần được khảo sát, thông kê đầy đủ nhằm tận dụng triệt để 2 nguồn dược liệu hiện có ở địa phương phát huy kinh nghiệm của nhân dân là công việc hết sức cần thiết. Xuất phát từ ý nghĩa và mục đích trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nam ở phụ nữ có thai và sau sinh của nhân dân xã Hương Long - Thành phố Huế” Mục tiêu: 1. Đánh giá tình hình sử dụng cây thuốc Nam được các phụ nữ có thai và sau sinh sử dụng. 2. Sưu tầm một số bài thuốc theo kinh nghiệm của các phụ nữ có thai và sau sinh sử dụng. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG THUỐC NAM TRONG NHÂN DÂN Y học cổ truyền đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Người nguyên thuỷ trong quá trình săn bắt, hái lợm đã biết dùng vỏ cây, làm áo chống rét, lấy da thú làm chăn đắp; dùng lá cây để đắp các vết thương... Tổ tiên chúng ta đã dùng nhiều loại thức ăn, gia vị, hành, tỏi, ớt...để phòng bệnh và tăng cường sức khoẻ. Tục ăn trầu, nhuộm răng, uống nước vối, nước trà, nhuộm răng... được hình thành và truyền từ đời này qua đời khác. Một số loại thức ăn được dùng làm vị thuốc như củ mài (hoài sơn) làm thuốc tăng lực, gừng để giải cảm, tiêu thực, hạt ý dĩ trừ phong thấp... Khi chưa có chữ viết, các kinh nghiệm được đúc rút, phương thức chữa bệnh được lưu truyền qua nhiều thế hệ khác nhau, nâng dần lên thành tập quán, kinh nghiệm, truyền miệng từ đời này qua đời khác. Với sức sống trường tồn, nền YHCT ( Y học cổ truyền) Việt Nam đã là một phần di sản văn hoá phi vật thể. Tiêu biểu cho nền y học nước nhà và có thể gọi là hai đại danh y của nền Y học Việt Nam là Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) - Ông Thánh của thuốc Nam với các tác phẩm Nam dược thần hiệu, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế kỷ thứ XVIII) với tác phẩm Y tông tâm lĩnh. Cho đến nay, những tác phẩm này không chỉ là tư liệu chuyên môn, lịch sử mà còn là tài liệu để học tập, nghiên cứu của nhiều thế hệ. Từ 1884 đến 1945 nước ta dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, nền Y học cổ truyền bị Tây y lấn át mất vị trí Nhà nước (1905). 4 Cách mạng Tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh Đông y được coi trọng với những tiềm năng vốn có của mình. Các nghị quyết của Đảng đã vạch rõ phương hướng và chủ trương kết hợp Đông Tây y để xây dựng nền y học Việt Nam mang tính khoa học, dân tộc và đại chúng. Y học hiện đại cũng như Y học cổ truyền có một mục đích cao đẹp là phục vụ sức khoẻ nhân dân. Hai nền y học bổ sung cho nhau để tiến tới một phương pháp điều trị hợp lý nhất với những vị thuốc, bài thuốc an toàn cho người bệnh [ ] 2.2. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH XÃ HƯƠNG LONG-THÀNH PHỐ HUẾ 2.2.1. Vị trí địa lý – khí hậu Hương Long, một xã nằm ở Tây Bắc ngoài thành Huế khoảng 5km thuộc địa phận huyện Hương T rà. Xã nằm cách quốc lộ 1A và đuờng sắt Bắc – Nam 3km, có sông Hương và sông Cổ Bưu bao bọc, một phần làm ranh giới với các xã lân cận như Hương An, Hương Hồ, Thuỷ Biều. Chạy ngang qua xã có sông Bạch Yến cung cấp nước cho cánh đồng của xã. Diện tích khoảng 7km 2, đất đai chủ yếu là đất nông nghiệp xen lẫn đất thổ cư Hệ thống sông ngòi, kênh mương thuỷ lợi đảm bảo cho canh tác nông nghiệp cũng như góp phần giải quyết ngập úng về mùa mưa lụt. Bên cạnh những đặc điểm đó, nơi đây còn có khi hậu tương đối khắc nghiệt, nắng nóng mùa hè, mưa kéo dìa về mùa đông, thậm chí cả lụt nhưng thảo dược phát triển tự nhiên hay uơm trồng 2.2.2 Dân số kinh tế - văn hoá – xã hội Dân số năm 2008 là 10.150 người, với 1987 hộ gia đình. Độ tuổi 15 – 49 là 5052 người chiếm 49,8% dân số. Xã gồm bốn thôn là Xuân Hoà , An Ninh Thượng, An Ninh Hạ, Trúc Lâm. Trong đó có một thôn nằm trên thục lộ Hương Bình nơi có Uỷ ban nhân dân xã. Một thôn nằm dọc bờ sông Hương và đuờng Kim Long, nơi đi đến chùa 5 thiên Mụ nổi tiếng. Hai thôn còn lại nằm dọc theo hai bên sông Bạch Yến và đồng lúa. Nghề nghiệp chính của người dân là nông nghiệp và buôn bán nhỏ. Thu nhập bình quân 500.000đ/người/tháng. Nguồn thu chủ yếu là nông nghiệp, bên cạnh đó một số hộ kinh doanh mua bán nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, đời sống kinh tế của nhân dân tương đối ổn định. Các thôn đều có địa hình liên cư, điều kiện đi lại thuận lợi nên việc phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu thực hiện tốt. Trong xã có trường học, bưu điện, phương diện thông tin đại chúng có truyền thanh, truyền hình, sách báo tạo nên cuộc sống thêm phần nhộn nhịp 2.2.3. Hệ thống y tế - Tình hình sức khoẻ nhân dân Trạm y tế xã có 1 bác sĩ, 1 y sĩ, 1 y tá và 1 nữ hộ sinh. Ngoài nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân, trạm y tế xã dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Nhân dân xã, phối hợp với các ban ngành đoàn thể thực hiện các chương trình giáo dục sức khỏe. Do đó các chương trình y tế đuợc triển khai thực hiện khá đày đủ tại địa phương. Y tế tư nhân hành nghề khá nhiều, các hiệu thuốc tân dược và đông y kinh doanh trên địa bà không phải là ít, góp phần trong công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Môi trường sống tương đối thoáng, kết hợp với ý thức tự chăm sóc sức khoẻ của nhân dân tương đối đồng đều nên tình hình sức khoẻ của nhân dân nói chung chỉ mắc các bệnh thông thường, không có dịch bệnh xảy ra Người dân nơi đây có nhiều kinh nghiệm về trồng và sử dụng thuốc Nam trong phòng bệnh. Bên cạnh đó, trong xã có nhiều lương y giỏi góp phần không nhỏ và nâng cao hiệu quả trong công tá chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân 6 BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH XÃ HƯƠNG LONG Xã Hương Sơ Phường Kim Long Xã HươngAn Thôn Trúc Lâm Thôn Anh Ninh Hạ S. Cổ Bưu Cầu Chợ Thông Thôn Anh Ninh Thượng   UBND UBND Xã xã Thôn Xuân Hoà Sông Hương Xã Hương Hồ Phường Đúc Xã Thuỷ Biều 7 2.3. KHÁI NIỆM THUẬT NGỮ BỆNH PHỤ NỮ THEO YHCT [ ] 2.3.1. Điều kinh Đàn bà tượng trưng cho âm, tương ứng với mặt trăng, trăng mỗi tháng có một lần tròn, khuyết thi kinh nguyệt của đàn đà cũng hợp như thế. Gái 14 tuổi thì hành kinh, trai 16 tuổi thì tinh khí sinh, đó là hợp với lẽ âm dương. Bởi vậy yêu cầu của tinh khí của đàn ông phải thịnh, kinh nguyệt của đàn bà phải. Nếu sinh hoạt bất bình thường, ăn uống mất vệ sinh thì mọi bệnh đều do đó mà phát sinh. Cách chữa nội thương, ngoại cảm của đàn bà là ở các chứng thai tiền sản hậu, băng huyết, rong huyết và khí hư bạch đới mà thôi. Khi hành kinh cũng phải giữ gìn cẩn thận như lúc đẻ, nếu không sẽ dễ sinh bệnh nặng. Nói về hành kinh, kinh là kinh lạc, hành là vận hành, hễ đến kì hành kinh mà chậm thấy đấy là huyết hàn, chưa đến kỳ mà đã thấy là huyết nhiệt, đang hành kinh mà đau bụng là huyết trệ, sau hành kinh mà đau bụng là khí hư, màu kinh bầm tím là phong, đen là nhiệt, nhợt là dờm, màu khói bụi là huyết không đủ. 2.3.2. Kinh bế Kinh bế là đến kì hành kinh mà không thấy kinh, hoặc ra một ít rồi thôi, đến nổi bụng đau kết lại sinh hòn cục, đó là do hành kinh thất thường mà sinh ra. Tuy sách Nội kinh có chia làm 8 nguyên nhân nhưng đại khái đều do hai yếu tố chinh là “Hư” và “Đờm”. Người gầy mà kinh thường bế là do huyết hư, kịch mạch không đầy đủ nên không thấy kinh. Người béo thường do nhiều đờm cho nên kinh lạc tắp lấp không thông 2.3.4. Băng huyết, rong huyết Băng huyết rong huyết là không phải lúc hành kinh mà huyết ra dầm dề (băng), ra lỉ rĩ mãi không thôi (rong). Đó là do khí huyết thương tổn, mạch xung 8 mạch nhâm không giữ vững mới thành chứng này. Nhưng trong lâm sàng còn chia ra âm chứng và dương chứng Đàn bà 50 tuổi trở lên, kinh đã hết vài năm mà bỗng nhiên lại có kinh, bụng đạu, mình nóng, khát nước là âm chứng: gọi là “băng”. Còn người 20-40 tuổi mà huyết ra xối xả không ngăn đựoc là “dương chứng” gọi là “rong”. 2.3.5. Khí hư bạch đới Đàn bà ra khí hư hoặc trắng đỏ, cũng giống như chứng di tinh bạch trọc của đàn ông, đều do sẵn có bệnh thấp nhiệt, lại thêm vào mừng giận, lo nghĩ, sinh đẻ, nuôi con và kinh ra chưa hết mà giao cấu, làm cho trọc khí thấm vào bàng quang, cho nên mới chảy ra vật uế tạp hoặc trắng đỏ, vàng, xanh, đen, hoặc nhiều hoặc ít đến nổi sắc mặt người như có bệnh Hoàng đản, eo lưng, bắp đùi đau nhức, ăn uống sút kém, tinh thần uể oải mà sinh ra bệnh. Chữa bệnh này không nên dùng thuốc nóng, vì nó sẽ giúp cho hỏa nóng thêm, cũng không nên dùng thuốc mát, vì nó sẽ hư liệt mất chân khí ở trong. Chủ yếu là phải ôn bổ vinh vệ cho khí huyết vững mạnh, thì bệnh sẽ khỏi. 2.3.6. Dưỡng thai “Âm dương hoà hợp thì muôn vật sinh: tinh huyết giao cảm thì thai nghén thành”: đó là lẽ tất nhiên. Trời đất có thái sơ (lúc thoạt tiên), thái thuỷ (lúc bắt đầu) lúc hỗn độn đã phân chia rồi, khi đã thấy thì gọi là thái sơ, hình đã thành thì gọi là thái thuỷ. Khi với hình nhân quả với nhau, sinh sinh hoá hoá, thí các vật hình thành. Trong vạn vật thì chỉ có loài người đuợc là chính khí của trời đất, gốm cơ trí của muôn vật, vuợt sáng suốt của trăm loài, do nên lúc sinh đẻ, lúc nuôi nấng, so với mọi loài vật đều khác xa. Lấy lai lịch loài người mà nói thì phép dưỡng thai là rất quan trọng, thời kỳ mang thai là rất quan hệ: vì có tổ tiên mới sinh ra con cháu, có con cháu mới nối dõi tổ tiên, cho nên trong lúc thai nghén cần phải giữ gìn điều dưỡng, không nên xem thường. 2.3.7. Động thai 9 Thai nghén và sinh nở là việc to lớn của đàn bà. Nếu ăn uống hợp vệ sinh, cư xử đúng khuôn phép, thì khi sinh nở mẹ tròn con vuông, nếu ăn ở sai trái, ham muốn xằng bậy thì khi sinh nở mẹ ốm con đau, mẹ đau con chết, phát ra nhiều chứng bệnh. 2.3.8. Sản Hậu Đàn bà sau khi sinh nở, tInh thần hao tổn, khí huyết hư kém, kinh lạc rời rạc, gân xương yếu đuối, toàn thân như cành liễu trước gió, như cá ngược dòng, lúc bầy giờ nên giữ gìn chăm chú bồi dưỡng, buồng the kín đáo, tính tình phải ôn hoà, tay chân thoải mái, nói năng nhỏ nhẹ, ăn uống có điều độ, kiêng khem, quần áo thì ấm mát vừa phải, cẩn thận đuợc như thế thì tật bệnh sẽ tiêu tan. Nội kinh có nói: “Lúc lầm lỡ chỉ nhỏ như mảy lông mùa thu, mà khi phát bệnh thì to bằng quả núí” như thế không cẩn thận sao đuợc. 2.3.9. Đau vú Đau vú là vú sưng cứng mà đau nhức. Vì vú thuộc kinh dương minh vệ, nuốm vú thuộc kinh quyết âm, can, chỉ vì bồi dưỡng thiếu thốn, hoặc tức giận xông lên, hoặc lo nghĩ uất kết, hoặc ăn uống đồ ngon quá nhiều, đều hay sinh đau. Nếu có thai mà đau vú thì gọi là “nội xuy nhũ” đã có con bú mà đau thì gọi là “ngoại xuy nhũ”, 2 chứng ấy vù đều sưng đau, nặng lắm thì nóng rét dữ dội, nếu không kịp chữa thì vú nung mủ lở loét ra 2.3.10. Thông sữa Đàn bà sữa không ra hoặc ra ít là do khi huyết hư hao. Ví như nước nguồn có dâng đầy thì dòng nước chảy nhanh, cho nên phép chữa nên bồi bổ khí huyết làm chủ, vì khí huyết đầy đủ thì sữa tự nhêin tràn đầy mà chảy thông 2.4. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA PHỤ NỮ KHI MANG THAI VÀ SAU SINH THEO QUAN NIỆM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN Sinh lý của phụ nữ có nhiều chỗ không giống với nam giới, như lấy nội tạng mà nói, thì bào cung là khí quan riêng của phụ nữ, chuyên chủ giữ nguyệt kinh và hệ bào, nó là chỗ phát nguồn của mạch xung và mạch nhâm. Mạch xung 10 là bể của huyết, mạch nhâm là chủ về bào thai, cho nên công năng của bào cung cùng với 2 mạch xung và nhâm có quan hệ không thể tách rời ra được. Sau nữa vì sự nuôi con bú, nên 2 vú cũng phát triển đặc biệt. Vú thuộc về kinh túc dương minh vị, vị là bể chứa thức ăn uống, có thể do chỗ ấy mà biến hóa thành sữa. 2.4.1. Thời kì có thai: Phụ nữ sau thụ thai về biến hóa sinh lí thì trước hết là tắc kinh. Cuối tháng thứ nhất nói chung bắt đầu có những hiện tượng kén lựa thức ăn, dạ dày không thư thái, lợm giọng, nôn ọe... - Lúc mới phôi thai chân khí mới gặp, mềm yếu dễ bị thương cho nên phải ăn kiêng đồ cay nồng, nên chọn đồ ngon ngọt. - Tháng thứ 3 là tháng tướng hỏa làm chủ thai rất dễ động, phải giữ gìn cẩn thận tránh va chạm mạnh. - Trong 3 tháng đầu khí huyết chưa đủ, năm vị chưa hóa, khí trung tiêu tắc lại làm hơi bẩn nhớp của đàm hỏa uất trệ xông lên dạ dày cho nên nôn mửa, kém ăn, ghét mùi đồ ăn, ham ăn đồ chua. - Phù nhẹ ở mặt, chân, trong những tháng cuối, sau sinh thì hết - Những tháng cuối của thai kì, thai lớn chèn ép bàng quang gây ra tiểu tiện không thông, đái són. 2.4.2. Thời kì hậu sản - Sau sinh nguyên khí tổn hại, tỳ vị hư yếu nên ăn những thức ăn mềm, dễ tiêu và nhiều chất bổ. - Sau đẻ do huyết độc, huyết ứ tắc trệ không ra hết làm cho đau bụng. 2.5. CÂY THUỐC NAM ĐƯỢC SỬ DỤNG CHO PHỤ NỮ MANG THAI VÀ SAU SINH Có rất nhiều tác giả nghiên cứu và sử dụng các cây thuốc nam để chữa và phòng bệnh thông thường, trong đó một số cây thuốc nam được thường dùng cho phụ nữ có thai và sau sinh 11 Theo Đỗ Tất Lợi, trong thời kỳ mang thai dùng cây Ngãi Cứu, Tía Tô có tác dụng an thai, chữa động thai. Cây Mã Đề, Có Tranh, Rau má có tác dụng lợi tiểu, thông tiểu. Sau khi sinh các phụ nũ thường sử dụng các cây Vằng, Bướm Hạt, Hà Thủ Ô, Lạc Tiên, Bạch Đàn có tác dụng kích thích tiêu hóa, ăn ngon miện, an thần. Ích mẫu có tác dụng chữa rong huyết sau sinh, chữa viêm niêm mạc tử cung, kinh nguyệt không đều [ ] Theo Hoàng Xuân Đại chữa rong kinh: Lá huyết dụ¸ Hoa quỳnh¸Hoa mộc Chữa bế kinh đau bụng, tắc kinh: Rẻ quạt , Ngải cứu, Ích mẫu, Nghệ, Củ gấu. Chữa bạch đới: Hoa giấy , hoa mào gà trắng , rau sam. Chữa sưng vú: Dùng lá hoa Chữa ít sữa sau sinh: Quả sung, mít non, đậu xanh, Hay làm lợi sữa: Dùng rau mồng tơi. Chữa sữa không thông: sắc rau diếp này chế thêm chút rượu uống sẽ thông sữa. [ ] Theo Hữu Bảo Chữa ít sữa hoặc tắc tia sữa ở phụ nữ mới đẻ: Cỏ sữa lá nhỏ cây bông gạo [ ] Theo kết quả điều tra của Trần Thị Như Mai và cộng sự (1977) tại thành phố Huế và các xã vùng ven như Hương sơ, Kim Long, phường Vĩ Dạ cho thấy: Trong khi mang thai khuyên nên dùng các cây lá như: Ngải cứu, Hà thủ ô, Ích mẫu với mục đích an thai, dễ sinh, bổ huyết, an thần. Người mẹ sau khi sinh dùng lá Vắng, lá Bò Bò, lá Ngấy, lá Bướm bạc có tác dụng lợi tiểu, kích thích tiêu hóa giúp sản phụ ăn ngon cơm và có sức khỏe.[ ] Trương Văn Anh, Nguyễn Quỳnh (1999), điều tra tình hình sử dụng cây thuốc nam cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sau sinh tại xã Hương Sơ, thành phố Huế cho biết Ngải cứu, Vằng, Bướm bạc, Hà Thủ Ô được dùng nhiều nhất. 12 13 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Các phụ nữ có thai và sau sinh, từ 18 tuổi trở lên ở xã Hương Long, thành phố Huế. - Cây thuốc nam có sẵn ở địa phương được các phụ nữ có thai và sau sinh thường sử dụng. 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu Chúng tôi sử dụng nghiên cứu mô tả điều tra cắt ngang 2.2.2. Mẫu nghiên cứu 2.2.2.1. Cỡ mẫu Cỡ mẫu nghiên cứu tính theo công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên với đơn vị nghiên cứu là hộ gia đình. n Z 2 / 2 p (1  p ) d2 Z/2 =1,96 trong đó  = 0,05 Với: n: là số hộ gia đình cần chọn mẫu p: là tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cây thuốc nam và ước tính p= 0,6 d: là sai số chọn = 0,06 với xác suất 95% thì  = 1,96 (tra từ bảng phân phối Z) Ta có: n (1,96) 2 0,6 (1  0,6) 256 (0,06) 2 Thực tế chúng tôi khảo sát là 300hộ gia đình hộ gia đình 14 2.2.2.2. Chọn mẫu - Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 300 hộ có phụ nữ có thai và sau sinh. - Phỏng vấn, trực tiếp các hộ gia đình. 2.2.3. Thời gian nghiên cứu Từ ngày 20/5 / 2008 đến 10/5/2009 2.3. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN 2.3.1. Phương pháp tiến hành - Lập “phiếu điều tra” để phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nằm trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nghề nghiệp, trình độ văn hoá. Tiến hành thăm dò, điều tra 300 phụ nữ có thai và sau sinh hiểu biết về cây thuốc nam. Tại 4 thôn Xuân Hoà, An Ninh Thượng, An Ninh Hạ, Trúc Lâm thuộc xã Hương Long, huyện Hương Trà. - Xem thực tế các cây thuốc có trong vườn và định danh đúng tên cây - Thu thập các bài thuốc hay, các cây thuốc quý theo kinh nghiệm của nhân dân phường Phú Hậu - thành phố Huế. - Tên cây thuốc được tra cứu và thống nhất với sách "Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi [ ]. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được qua phiếu thăm dò, chúng tối phân tích, xử lý theo các mục sau: - Tuổi: + < 20 tuổi + 20 – 29 tuổi + 30 – 39 tuổi + ≥ 40 tuổi tuổi - Tỷ lệ các hộ phụ nữ sử dụng cây thuốc nam theo 4 thôn 15 - Nghề nghiệp và liên quan với sử dụng thuốc nam + Cán bộ công nhân viên ( CBCNV) + Buôn bán + Làm ruộng + Lao động chân tay (LĐCT) + Nội trợ - Trình độ học vấn và liên quan với sử dụng thuốc nam + Tiểu học + Trung học cơ sở ( THCS) + Trung học phổ thông (THPT) - Xác định tên cây thuốc, tên khoa học (tiếng La Tinh) - Tỷ lệ cây thuốc nam được các phụ nữ có thai sử dụng. - Tỷ lệ cây thuốc nam được các phụ nữ sau sinh sử dụng. - Bộ phận dùng cây thuốc nam - Toàn cây, Lá thân, Rễ củ, Quat hạt vỏ - Cách dùng ( chế biến) cây thuốc nam - Nấu tươi uống, phơi khô sắc uống, ngâm rượu. - Mục đích sử dụng cây thuốc nam - Thống kê tất cả các cây thuốc nam các phụ nữ có thai và sau sinh thường dùng với mục đích gì. - Đặc điểm phân bố cây thuốc nam được sử dụng cho phụ nữ có thai và sau sinh - Trồng, mọc hoang, trồng và mọc hoang - Một số bài thuốc kinh nghiệm của nhân dâ xã Hương Long thường dùng cho phụ nữ có thai và sau sinh. 16 2.3.2. Câu hỏi sử dụng cây thuốc nam ở phụ nữ có thai và sau sinh Khi mắc bệnh thông thường, Chị ( Cô) có sử dụng thuốc nam nam không ?  Không  Có  Thường xuyên  Thỉnh thoảng  Hiếm Khi có thai hoặc sau sinh, Chị ( Cô) có sử dụng thuốc nam nam không ?  Có  Không Các cây thuốc nam dùng trong thời kỳ mang thai Tên cây Tên gọi Tác Bộ phận thuốc khác dụng dùng Dạng dùng Tươi Cách dùng Khô Đặc điểm phân bố Trồng Mọc hoang Các cây thuốc nam dùng trong thời kỳ sau sinh Tên cây Tên gọi Tác Bộ phận thuốc khác dụng dùng Dạng dùng Tươi Cách dùng Khô Đặc điểm phân bố Trồng Bài thuốc kinh nghiệm dùng cho ohụ nữ có thai và sau sinh mà anh chị biết Tên bài thuốc Cách chế biến và sử dụng Ghi chú Tác dụng Vì sao Chị ( Cô) dùng thuốc nam để điều trị cho phụ nữ có thai và sau sinh  Tin vào thuốc nam  Rẽ tiền  Ít tác dụng phụ  Lý do khác 2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU  Dễ kiếm Mọc hoang 17 Các số liệu thu thập được phân tích, xử lý theo phương pháp thống kê y học thông thường bằng phần mềm Excell 2007 và SPSS 15.0 Để tính trung bình cộng tuổi trung bình các đối tượng được phỏng vấn chúng tôi tính theo công thức X X 1  X 2  .....  X n 1 n   xi n n i 1 - Độ lệch chuẩn tuổi tính theo công thức S 1 n ( x1  x) 2  n i 1 - So sánh sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ % của 2 mẫu nghiên cứu: Dựa vào công thức t PA  PB pq pq  nA nB PA tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nA PB tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nB Trong đó p và q là 2 tỷ lệ của mẫu nghiên cứu được ước lượng dựa trên 2 mẫu như sau: p * p > 0,05 XA  XB n A  nB : Khác biệt không có ý nghĩa thống kê * 0,01 < p < 0,05 : Khác biệt không có ý nghĩa thống kê * p < 0,01 : Khác biệt rất có ý nghĩa thống kê 18 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Qua điều tra 300 hộ gia đình ở xã Hương Long, thành phố Huế, chúng tôi thu được kết quả như sau 3.1.TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÂY THUỐC NAM DÀNH CHO PHỤ NỮ TRONG THỜI KỲ MANG THAI VÀ SAU SINH 3.1.1. Tuổi đối tượng điều tra Bảng 3.1. Phân bố theo tuổi Nhóm tuổi < 20 20-29 30-39 ≥ 40 Tổng Tuổi trung bình n 8 166 115 11 3,7 300 Tỷ lệ % 2,7 55,3 38,3 Ý nghĩa thống kê =328,28 p < 0,01 100,0 X SD = 29,30 ± 5,7 Biểu đồ 3.1. Phân bố theo tuổi Trong 300 phụ nữ được điều tra có 166 đối tượng ở nhóm 20-29 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 55,3%. Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê ( p < 0,01). Tuổi trung bình 29,30 ± 5,7, tuổi lớn nhất 57 tuổi, tuổi thấp nhất 18 tuổi 3.1.2. Số hộ sử dụng cây thuốc nam cho phụ nữ có thai và sau sinh 19 Bảng 3.2. Tỷ lệ sử dụng cây thuốc nam theo các thôn Hộ Thôn Xuân Hoà An Ninh Thượng Anh Ninh Hạ Trúc Lâm Hộ sử dụng n Tỷ lệ % 75 25,3 75 25,3 75 25,3 71 24,1 296 98,7 Hộ không sử dụng n Tỷ lệ % 0 0,0 0 0,0 0 0,0 4 100,0 4 1,3 Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ sử dụng cây thuốc nam Trong 300 hộ được phỏng vấn ở 4 thôn, có 296 hộ sử dụng thuốc nam chia đều cho 4 thôn (24,1% -25,3%). Cả 4 thôn hộ sử đụng thuốc nam chiếm 98,7%, có 4 hộ không sử dụng thuốc nam thuộc thôn Trúc Lâm chiếm 1,3%. 3.1.3. Liên quan giữa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá với việc sử dụng thuốc nam Bảng 3.3. Liên quan giữa tuổi với việc sử dụng thuốc nam 20 Nhóm tuổi < 20 20-29 30-39 ≥ 40 Tổng Số hộ điều tra 8 166 115 11 300 Số hộ sử dụng n % 8 100,0 164 98,8 113 98,3 11 100,0 296 98,7 p = 0,42 p > 0,05 Các đối tượng được điều tra đều có tỷ lệ sử dụng thuốc nam khá cao với tất cả các nhóm tuổi, trong đó phụ nữ ở nhóm < 20 tuổi và ≥ 40 tuổi có tỷ lệ 100% dùng thuốc nam. Bảng 3.4. Liên quan giữa nghề nghiệp với việc sử dụng thuốc nam Số hộ sử dụng p n % điều tra CBCNV 47 47 100,0 = 6,28 Buôn bán 77 76 98,7 Làm ruộng 37 35 94,6 p > 0,05 Lao động CT 67 66 98,5 Nội trợ 72 72 100,0 Tổng 300 296 98,7 Các đối tượng được điều tra đều có tỷ lệ sử dụng thuốc nam khá cao với Nhóm tuổi Số hộ tất cả các nghề nghiệp, trong đó phụ nữ ở nhóm CNVC và nội trợ có tỷ lệ 100% dùng thuốc nam. Bảng 3.5. Liên quan giữa học vấn với việc sử dụng thuốc nam Nhóm tuổi Tiểu học Số hộ điều tra 133 Số hộ sử dụng n % 132 99,2 p
- Xem thêm -