Nghiên cứu kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách và ảnh hưởng của chúng tới bầu không khí tâm lí tập thể sinh viên sư phạm

  • Số trang: 107 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 79 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƢỜNG Mã số: CS.98-05 NGHIÊN CỨU KIỂU NHÂN CÁCH, KIỂU QUAN HỆ LIÊN NHÂN CÁCH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG TỚI BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ TẬP THỂ SINH VIÊN SƢ PHẠM Người thực hiện: Võ Thị Ngọc Châu TP. HỒ CHÍ MINH 12/2002 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƢỜNG Mã số: CS.98-05 NGHIÊN CỨU KIỂU NHÂN CÁCH, KIỂU QUAN HỆ LIÊN NHÂN CÁCH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG TỚI BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ TẬP THỂ SINH VIÊN SƢ PHẠM Người thực hiện: Võ Thị Ngọc Châu TP. HỒ CHÍ MINH 12/2002 MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ..................................................................................................... 1 2 - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU............................................................................................. 2 3 - NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU............................................................................................. 2 4- ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU ............................................................ 2 5- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 3 6- GIỚI HẠN ĐỀ TÀI ........................................................................................................... 3 7 - PHƢƠNG PHÁP DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU ................................................................. 3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................................. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................................. 5 1.1- Kiểu nhân cách ............................................................................................................ 5 1.1.1-Những vấn đề lí luận về kiểu nhân cách xã hội ..................................................... 5 1.1.2 - Cách phân loại kiểu nhân cách xã hội ................................................................ 13 1.2- Quan hệ liên nhân cách ............................................................................................. 21 1.2.1- Khái niệm quan hệ liên nhân cách ...................................................................... 21 1.2.2- Kiểu quan hệ liên nhân cách ............................................................................... 22 1.3- Vấn đề về bầu không khí tâm lý................................................................................ 27 CHƢƠNG II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NGHIÊN CỨU ................................................ 36 2.1- Kiểu nhân cách sinh viên sƣ phạm ............................................................................ 36 2.1.1- Kiểu nhân cách sinh viên sƣ phạm nói chung .................................................... 36 2.1.2- Sự khác biệt về kiểu nhân cách giữa các nhóm sinh viên sƣ phạm .................... 44 2.1.2.1- Sự khác biệt kiểu nhân cách giữa nam và nữ sinh viên ............................... 44 2.1.2.2- So sánh sự khác biệt về kiểu nhân cách giữa năm thứ II và III ................... 48 2.1.2.3- Sự khác biệt kiểu nhân cách giữa các khối về kiểu nhân cách .................... 50 2.2- Kiểu quan hệ liên nhân cách của sinh viên sƣ phạm ................................................. 53 2.2.1- Kiểu quan hệ liên nhân cách nói chung của sinh viên sƣ phạm ......................... 53 2.2.2- Sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách giữa các nhóm sinh viên .............. 60 2.2.2.1- Sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách giữa sinh viên nam và nữ ...... 60 2.2.2.2- Sự khác biệt kiểu quan hệ nhân cách giữa sinh viên năm II và năm III ...... 62 2.3- Bầu không khí tâm lí trong nhóm sinh viên sƣ phạm ............................................... 65 2.3.1. Đặc điểm bầu không tâm lí sinh viên sƣ phạm ................................................... 65 2.3.2. Sự khác biệt về bầu không khí tâm lí .................................................................. 69 2.3.2.1- Sự khác biệt về bầu không khí tâm lí theo giới tính ..................................... 69 2.3.2.2- Sự khác biệt bầu không khí tâm lý giữa sinh viên năm II và năm III .......... 70 2.3.2.3- Sự khác biệt và bầu không khí tâm lý giữa các khối sinh viên .................... 71 2.4- Ảnh hƣởng kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách tới bầu không khí tâm lí nhóm sinh viên.................................................................................................................. 72 2.4.1- Ảnh hƣởng kiểu nhân cách tới bầu không khi tâm lí nhóm sinh viên ................ 72 2.4.2- Ảnh hƣởng kiểu quan hệ liên nhân cách tới bầu không khí tâm lý .................... 80 KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 83 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 88 Phụ đính: 3 bảng thăm dò ý kiến PHẦN I: MỞ ĐẦU 1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Vấn đề nhóm đƣợc các nhà tâm lí nghiên cứu rất nhiều, các quá trình và các hiện tƣợng tâm lí của nhóm ảnh hƣởng rất nhiều tới hiệu xuất các quá trình hoạt động (sản xuất, nghiên cứu, học tập....). Bầu không khí tâm lí là một trong những hiện tƣợng tâm lí có vai trò rất quan trọng ảnh hƣởng rất nhiều tới kết quả các hoạt động trong nhóm. Nó hình thành trạng thái tâm lí tích cực, sự đoàn kết nhất trí trong nhóm. Nhờ vậy các thành viên của nhóm sẽ hết lòng vì mục đích chung của nhóm, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh làm cho nhóm phát triển, đồng thời từng cá nhân trong nhóm cũng trƣởng thành về nhiều mặt. Nhóm là tế bào của xã hội, nhóm phát triển lành mạnh sẽ dẫn tới một xã hội phát triển ở mức độ cao. Trong bất cứ nhóm nào các thành viên trong nhóm bao giờ cũng tƣơng tác với nhau thông qua các vai của mình, sự tƣơng tác này nhƣ thế nào lại do đặc điểm tâm lí cá nhân và kiểu quan hệ liên nhân cách qui định. Trƣớc đây các công trình nghiên cứu chỉ chú ý nhiều tới vai trò của ngƣời lãnh đạo trong việc hình thành các bầu không khí khác nhau. Tuy nhiên, sự tác động lẫn nhau trong nhóm không chỉ giữa ngƣời lãnh đạo và ngƣời bị lãnh đạo mà còn giữa những ngƣời bị lãnh đạo với nhau. Những ngƣời này là những nhân cách đƣợc xã hội hóa trong các môi trƣờng xã hội khác nhau. Chính vì vậy họ sẽ có kiểu nhân cách và kiểu quan hệ liên nhân cách rất khác nhau. Các kiểu nhân cách và kiểu quan hệ liên nhân cách sẽ ảnh hƣởng tới bầu không khí tâm lí của nhóm và nó sẽ ảnh hƣởng trở lại đặc điểm tâm lí của cá nhân. Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu ảnh hƣởng của kiểu quan hệ liên nhân cách và kiểu nhân cách ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến bầu không khí tâm lí của nhóm, từ đó nó ảnh hƣởng tới hiệu quả lao động của nhóm. Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm xây các kiểu nhân cách và quan hệ liên nhân cách sao cho khi ở trong nhóm, họ là những thành viên luôn tạo ra đƣợc bầu không khí tâm lí tích cực trong nhóm, tạo điều kiện thúc đẩy nhóm đoàn kết, mọi ngƣời hết lòng vì công việc chung của nhóm làm cho nhóm phát triển ở mức độ cao. 1 2 - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Cơ sở lí luận của tâm lí học về quan hệ liên nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách, Nhân cách, kiểu nhân cách và bầu không khí tâm lí. - Tìm hiểu thực trạng về kiểu quan hệ liên nhân cách của sinh viên trƣờng Đại học Sƣ phạm. - Tìm hiểu thực trạng về kiểu nhân cách của sinh viên trƣờng Sƣ phạm. - Tìm hiểu bầu không khí tâm lí của các nhóm sinh viên. - Tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách với bầu không khí tâm lí - Đề xuất một số biện pháp về mặt tâm lí học để xây dựng kiểu quan hệ liên nhân cách và kiểu nhân cách sao cho nó có ảnh hƣởng tích cực tới bầu không khí tâm lí. 3 - NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Xuất phát từ mục đích đã nêu, nhiệm vụ cụ thể của đề tài là: 3.1- Tìm hiểu một số văn đề lí luận về: quan hệ liên nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách, nhân cách, kiểu nhân cách và bầu không khí tâm lí. 3.2 - Khảo sát thực trạng về: kiểu quan hệ liên nhân cách, kiểu nhân cách, bầu không khí tâm lí và mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau: + Tìm hiểu kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách và bầu không khí tâm lí của sinh viên sƣ phạm. + Tìm hiểu sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách của các nhóm sinh viên. + Tìm hiểu sự khác biệt về kiểu quan hệ liên nhân cách giữa các nhóm sinh viên. + Tìm hiểu khác biệt bầu không khí tâm lí của các nhóm sinh viên. + Phân tích mối quan hệ giữa kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách với bầu không khí tâm lí của các nhóm sinh viên. + Đề xuất xuất một số biện pháp xây dựng kiểu nhân cách và kiểu quan hệ liên nhân cách thích hợp 4- ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4.1 - Đối tượng nghiên cứu - Kiểu quan hệ liên nhân cách của sinh viên. 2 - Kiểu nhân cách của sinh viên. - Bầu không khí tâm lí của các nhóm sinh viên. 4.2- Khách thể nghiên cứu: - Sinh viên năm II và III Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh. Bao gồm sinh viên các khoa trong trƣờng và đƣợc phân chia đều thành ba loại: khối tự nhiên, xã hội và ngoại ngữ. - Số liệu khảo sát đƣợc thu thập trong các năm: 1999 – 2000 – 2001 - 2002. 5- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU - Các nhóm sinh viên khác nhau sẽ khác nhau về kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách và bầu không khí tâm lí. - Có mối tƣơng quan giữa kiểu nhân và kiểu quan hệ liên nhân cách với bầu không khí tâm lí. 6- GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng tới bầu không khí tâm lí, nhƣng đề tài chỉ tập trung nghiên tìm hiểu ảnh hƣởng của kiểu nhân cách và kiểu quan hệ liên nhân cách tới bầu không khí tâm lí của nhóm. 7 - PHƢƠNG PHÁP DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU 7.1- Phương pháp nghiên cứu + Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc sách, báo, tạp chí, phân tích tài liệu lý luận. + Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp ankét - Phƣơng pháp trò chuyện. - Phƣơng pháp quan sát. - Phƣơng pháp phỏng vấn. + Xử lý số liệu: Thống kê toán học bằng phần mềm SPSS for Windows: - Tính điểm trung bình (Mean) - So sánh (dùng kiểm nghiệm F). - Tƣơng quan (Peason). 3 7.2- Dụng cụ nghiên cứu - Trắc nghiệm 16 PF của R. B. Cattell đã đƣợc cải biên. - Trắc Nghiệm kiểu quan hệ liên nhân cách của T. Liri. - Test về bầu không khí tâm lí của O.Amikhalƣc. 7.3 - Cách xử lý số liệu Cách tính điểm: Mỗi một trắc nghiệm có chìa khóa đặc biệt để chấm điểm. 4 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1- Kiểu nhân cách 1.1.1-Những vấn đề lí luận về kiểu nhân cách xã hội Ý tƣởng về kiểu nhân cách đã có từ lâu, học thuyết phân chia về kiểu khí chất đƣợc đề xuất rõ nhất. Sau đó ý tƣởng này đƣợc bao trùm bằng học thuyết tính cách, về sau học thuyết nhân cách đƣợc đƣa lên hàng đầu. Tuy nhiên, thực chất học thuyết những học thuyết tâm lý về nhân cách hoặc bị mô tả một cách lu mờ (Lazunxki), hoặc là thiếu sự bình đẳng (Jungơ), hoặc bị rơi vào ý tƣởng hoàn toàn trìu tƣợng đƣợc dựng nên bằng cấu trúc trên cơ sở phƣơng pháp luận phức tạp. Những mối tƣơng quan và những kiểu mẫu của Frớt có thể làm ví dụ kinh điển. Frớt loanh quanh trong ngõ cụt về vấn đề kiểu nhân cách, bởi vì ông coi nền tảng sinh vật là duy nhất và là nguồn gốc để tạo nên kiểu nhân cách ở giai đoạn cuối cùng. Những nguyên tắc mẫu chứa đựng trong quan niệm về nhân cách của Aizenko và số ngƣời khác không có đƣợc chút ít lý lẽ của nó. Thực chất của vấn đề là họ đã rơi vào sự phân chia vội vàng hơn là đƣa ra kiểu nhân cách. Cách phân chia của họ đƣợc thể hiện trong tính chất cách thức lựa chọn, có đặc tính chuyên môn, và cách thức chuẩn đoán nhân cách. Tuy nhiên, quan niệm kiểu nhân cách thể hiện nhiều hơn - ít hơn ở các quan hệ tƣơng quan ổn định, giữa phẩm chất bên trong mỗi kiểu, nhu cầu trong bản thân đến kiểu này hay kiểu kia, với mục đích tự nhận thức. Thời gian gần đây ngƣời ta chú ý đến lịch nhân cách đặc thù, ở chỗ mỗi tháng đƣợc sinh ra tƣơng ứng với nhóm đặc điểm này hay kia của nhân cách và năng lực, cùng với hành vi của nó tới mức tình yêu chuyên chính và biết mặc quần áo. Quan niệm kiểu nhân cách nhƣ là điều lý thú đặc biệt dựa vào khoa học sự hoang tƣởng. Ví dụ, G. Kattnher đã gửi vị anh hùng của mình vào chuyến viễn du theo lịch sử để tìm kiếm chiến bại củakẻ thù - nó là nhà đạo diễn, sức mạnh của nhân cách. Vị anh hùng đi đến 5 nơi “ƣớm thử” vào mỗi khuôn mẫu các tính cách của nhân cách các thời đại khác nhau, kể cả Ivan Grốtnƣi đến việc giải quyết nhiệm vụ tâm lý học này đã rơi vào thế kỷ đồ đá. Tuy nhiên, vấn đề phân kiểu, có thể chia nhân cách theo kiểu này, kiểu kia nhằm không chỉ làm khuây khỏa hoặc là để phán xét mang ý nghĩa thực dụng (nhƣ là nền tảng có hy vọng để nghiên cứu nhân cách), vấn đề phân kiểu mang nặng thí điểm đặc biệt theo cách nhìn lí thuyết tâm lý về nhân cách, về sự biện chứng phƣơng pháp luận của nó. Chỉ trên cơ sở triết học Mác xít mới bao quát đƣợc toàn bộ kiến thức một cách biện chứng về cá tính, tính điển hình, mà điều này không thể hiểu đƣợc trong thời cổ đại. Bày tỏ ý kiến nổi tiếng nghịch lý của mình, Aristochen đã phân tích sự phân kiểu và tính cá biệt bằng tình thế phải chọn một trong mấy giải pháp trái nhau: Có thể giải thích tính cá biệt từ quan điểm khoa học đã đƣợc nghiên cứu phân kiểu, nếu cá tính không lặp lại thì nhƣ thế nào? Tiếp nhận những dạng khác nhau, ý kiến trái ngƣợc này không một lần xuất hiện trong những thời kỳ lịch sử cụ thể không giống nhau. Nhƣ vậy, thời kỳ cổ đại nhìn thấy sự có một không hai đặc biệt trong tính tích cực, còn trên cơ sở xác định nhân cách họ lại loại trừ đi tính tích cực, hòa lẫn nhân cách vào mối quan hệ thƣởng ngoạn với thiên nhiên. Chủ nghĩa cá nhân tƣ bản cũng nhìn nhận sự đặc biệt trong tính tích cực của nhân cách, nhƣng có đƣợc nhân cách cuối cùng chỉ đƣợc tạo nên từ thể thức loại trừ đi tác động của nhà nƣớc, cũng nhƣ kiểu ở dạng toàn thể. Trong kết quả trừ xuất hiện qui định nhân cách, trong sức mạnh, tích cực, ý chí hoàn toàn, Nhise xác định nhân cách nhƣ vậy. Phần lớn cách chia kiểu nhân cách đã có, thể hiện sự phân chia yếu kém, chúng đƣợc tạo nên trên những nền tảng khác nhau (ngẫu nhiên, từng phần...) ở mức độ các nguyên nhân phân chia không đƣợc giải thích rõ ràng, chúng nảy sinh động lực phát triển và điều kiện thay đổi kiểu này hay kiểu kia nhân cách. Khả năng cuối cùng chỉ có thể thông qua phát minh của phép biện chứng về xã hội - sinh vật, đặc thù - chung, biện chứng về cái chung, cái đặc biệt, cái duy nhất. Nhiệm vụ của các nhà tâm lý là ở chỗ vận dụng phƣơng pháp này vào vấn đề phức tạp phân kiểu nhân cách trong tâm lý học. 6 Việc nghiên cứu vấn đề này ở cấp nhà nƣớc có một số khuynh hƣớng khác nhau, chƣa thống nhất. Khuynh hƣớng đầu tiên cơ bản ở chỗ phân kiểu nhân cách ở mức lý thuyết trong tâm lý học chƣa đƣợc thống nhất. Nguyên tắc vai trò hay địa vị đem lại khả năng kiểu mẫu đặc thù này hay kia của nhân cách. Nguyên tắc này xem xét không phải dạng nhân cách đại chúng, nhƣ là ngƣời đại diện cho nhóm này hay nhóm kia, mà những đặc điểm của nhân cách có liên quan đến vị thế, chức năng trong nhóm. Kiểu mẫu nhƣ vậy của nhân cách ngƣời lãnh đạo cũng đƣợc A.L.Zuravlevƣi và một số khác đƣa vào, rất có triển vọng cho sự phân kiểu, mà những triển vọng này không chỉ lựa chọn các tính chất theo chức năng trong nhóm, mà còn nói lên mối liên quan tính chất và vị thế này tới động lực, mức độ và kiểu quan hệ trong tập thể (K.Iaro và những ngƣời khác). Sự phổ biến rộng rãi kiểu chia nhân cách theo nghề nghiệp: đƣợc xây dựng từ chân dung nhân cách của các kỹ sƣ, công nhân, các nhà bác học (nghiên cứu của E.C.Kuzmina; E.C.Trugunovôi; B.A.Iađôba và một số ngƣời khác). Những đặc điểm phong cách của hoạt động tham gia trực tiếp đến những chân dung này (E.H.Klimov và những ngƣời khác). Mặc dù thuyết kiểu chung không đƣợc thảo ra, nhƣng một loạt tác giả đã đƣa ra kiểu phân nhân cách theo những cơ sở đặc biệt (B.I.Đôđôn, N.I.Reinval và những ngƣời khác). Chắc chắn những nghiên cứu xu hƣớng nhân cách, theo nội dung cơ bản mang kiểu tính cách (L.I.Bozovit, A.V.Petrovxli và những ngƣời khác). Những ý kiến lý giải phƣơng pháp luận chính yếu bất thƣờng về vấn đề xây dựng kiểu nhân cách của B.M.Cheplov và những đại diện của ông ta ở trƣờng học (V.Đ.Aliebƣlisƣn và những ngƣời khác), vấn đề kiểu nhân cách đối với Cheplov đƣợc dẫn xuất từ vấn đề về sự kết hợp của nhiều đặc tính khác nhau, theo sự phối hợp có chừng mực đã chuyển thành tính cách đặc trƣng, tức là thành kiểu đặc tính, hoặc ngƣợc lại. Cheplov đã nhấn mạnh rằng vấn đề kiểu nhân cách cần phải đặt trong thời điểm, khi nghiên cứu các tính chất và các cách thức của những phối hợp tổng hợp của chúng. Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề phân kiểu bị đứt khúc ở mức độ tâm - sinh lý, không chuyển thành kiểu tâm lý đại cƣơng của nhân cách, mặc dù các kiến thức nhƣ vậy chính là tính cách, khả năng vv... Các nhà tâm lý đều cho vào cấu trúc nhân cách. 7 Những ý kiến phƣơng pháp luận quan trọng, đề cập đến sự chuyển từ kiểu nhân cách xã hội đến nguyên tắc cá tính hóa trong tâm lý học, đã đƣợc v.x Alerlin đã nhìn thấy mối quan hệ của kiểu dạng xã hội và cá tính trong nhân cách, thông qua cấu trúc liên kết của nhân cách. Trong sự khác biệt với nguyên tắc phân kiểu, nó không đƣợc đƣa ra trong tâm lý học, thực chất những nguyên tắc đã nêu trên, các nguyên tắc cá tính hóa và vấn đề cá tính đã thu hút hầu hết các nhà tâm lý. Đặc tính này, trong các quan niệm trên nền tảng qui định cá tính đã đƣợc ấn định bằng những tiêu chuẩn khác nhau. B.G.Ananhev coi cá tính nhƣ mức độ cao của sự phát triển nhân cách. A.X.Prangisvili đi theo nguyên tắc lý thuyết xếp đặt đã đƣợc Đ.N. Uznatze soạn thảo, liên quan cá tính với tính tích cực của nhân cách và một lần nữa giải thích cá tính nhƣ năng lực liên kết của nhân cách. Cuối cùng, X.L.Rubinstein đã mở ra nguyên tắc của sự cá tính hóa nhƣ là sự chọn lọc bên trong qua mối quan hệ với bên ngoài, năng lực bên trong biến đổi ra bên ngoài, và trở thành khách quan. Nguyên tắc cá tính hóa đƣợc đặt trên nền tảng qui định nhân cách xuyên qua nguyên tắc quyết định luật. Việc đƣa ra những hiển diện của nhiều quan điểm trên về vấn đề cá tính, hoàn toàn không đem đến sự mâu thuẫn giữa chúng. Tính tích cực, sự phát triển, sự liên kết - là những biểu thị cơ bản của tâm lý học nhân cách, mà chúng yêu cầu phép tổng hợp của mình. Phép tổng hợp này có thể đƣợc thực hiện trƣớc tiên trên nền tảng của sự chuyển hóa vấn đề của những khác biệt thuộc cá tính vào những vấn đề khác biệt thuộc kiểu dạng - cá tính, nghĩa là trên nền tảng hợp nhất của những xu hƣớng cá tính hóa và kiểu hóa. Nếu trên mức độ phân tích tâm lý, vấn đề của các quá trình tâm lý về sự khác biệt cá tính tạo nên vấn đề tâm lý phân biệt, thì trên mức độ phân tích nhân cách, vấn đề này đƣợc đƣa ra nhƣ là vấn đề tâm lý chung của cá tính. Có lẽ giữa chúng bản thân vấn đề cá tính nói lên nhƣ kiểu hóa, hay là vấn đề của sự phân biệt thuộc kiểu - cá tính, hay là vấn đề nhân cách, nếu trên nền tảng qui định kiểu nhân cách đƣa vào tổng hợp cả ba biểu hiện của nhân cách: tính tích cực, tính phát triển và tính liên kết. Vào thời gian hiện nay trong thực tế đã chia ra một số kiểu nhân cách, những thông số tâm lý của kiểu này phục vụ nhƣ là mẫu trừu tƣợng - tiêu chuẩn hay nhƣ là mẫu hoàn hảo, theo mối quan hệ với cơ chế tâm lý thực tế của các nhân cách thực. Đặc điểm của nhân cách thực gặp phải không nhiều hơn sự sai lệch, biến đổi của cá tính. Nếu xem 8 xét vấn đề nhƣ vậy với vị trí lý thuyết cá tính, thì gặp phải sự điều chỉnh lý về mặt thuyết này (không phụ thuộc với những giải thích khác của nó) các quan niệm về bản chất của nhân cách, và không can thiệp vào mẫu tiêu chuẩn duy nhất: các cá tính đƣợc phân biệt theo mức độ của sự phát triển, theo số đo của tính tích cực và vv... Có thể giả thiết rằng sự tổng hợp của ba thể thức này cho sự phát triển toàn bộ bản chất, mà thực tế tạo thành vài mẫu, vài kiểu nhân cách. Kiểu duy nhất, mẫu tâm lý chung duy nhất chịu thấp kém nơi hàng loạt kiểu thực tế, cơ sở thành lập của chúng sẽ tổng hợp đa dạng tính tích cực, tính phát triển và tính liên kết của nhân cách. Lúc bấy giờ sự phát triển cá tính xếp đặt lại chỉ bằng sự biến đổi của mẫu duy nhất của nhân cách. còn cá tính sẽ không rõ ràng và bằng cách thông qua mối quan hệ với mức độ cao hơn - tiêu chuẩn của tính phát triển, tính tích cực, liên kết. Cá tính đƣợc thiết lập lại thành ý tƣởng của sự phát triển, tính tích cực vv... của nhân cách, còn nó trở thành sự biểu thị của mức độ thực tế của tính phát triển, tính tích cực, tính liên kết trong khối duy nhất của chúng. Rõ ràng, sự xây dựng yêu cầu biểu lộ những tình thái mới, cơ bản cao hơn. Có thể cho rằng khoa học tâm lý hiện đại còn chƣa đủ lớn để xây dựng nên kiểu hóa. Tuy nhiên, trong toàn bộ các đòi hỏi nghiên cứu hệ thống nhân cách, sự tìm kiếm kiểu hóa nhƣ vậy, những thử nghiệm việc chế tạo nên nó, không nghi ngờ, đƣa ra dẫn chứng dẫn đến sự liên kết lớn của các kiến thức tâm lý học về nhân cách. Hiện nay, cần phải loại bỏ đi sự phải chọn một trong mấy giải pháp trái nhau của sự cá tính hóa, kiểu hóa trong tâm lý học: khả năng có thể thuộc cá tính, biểu thị không phải bằng phƣơng cách duy nhất của hiểu, mà bằng mẫu đặc biệt, qua giữa hàng loạt kiểu, cùng một lúc sẽ là các kiểu của cá tính, đƣợc xác định theo bộ khung. Nhiệm vụ cốt yếu khi xây dựng kiểu hóa nhân cách trong tâm lý học - thực hiện hợp lý phƣơng pháp Mác-xít-phân kiểu (sự điển hình hóa). Điều đặc biệt của phƣơng pháp Mácxít. Cuối cùng thể hiện ở chỗ, không thể đƣa ra sự tuyển chọn những nét nhân cách (mặc dù những nét này rất quan trọng), đặc biệt còn biểu thị sức năng động của tính tích cực, tính phát triển của nhân cách, tƣơng quan của chúng với xu hƣớng xã hội, với sức mạnh xã hội đang phát triển. Trong đó có sự khác nhau thuộc nguyên tắc của kiểu hóa nguyên gốc với sự phân loại. Cuối cùng mang tính chất mô tả, cân bằng, trong chừng mực không mổ xẻ những nguyên nhân xuất hiện sức mạnh động của tính phát triển, những điều kiện 9 thay đổi kiểu này hay kiểu kia. Đặc trƣng của kiểu nhân cách phải đƣợc thông qua qua sự biểu hiện những điều kiện hình thành của nó, thông qua sự vạch rõ tính cách, khí chất và nó đƣợc thể hiện, thi hành trong những xu hƣớng nào, bằng sức mạnh nào, trong khuynh hƣớng nhƣ thế nào (đôi khi cả trong phạm vi nhƣ thế nào?), đã hỗ trợ cho sự phát triển, thông qua những mâu thuẫn nào, nhờ vậy nó đƣợc hoàn thành và trở thành hiện thực. Nhiệm vụ quan trọng từ kết quả này là sự thực hiện của một con đƣờng duy nhất và phép biện chứng, đi từ dạng xã hội của nhân cách (rõ rệt hơn từ sự phân kiểu, điển hình hóa xã hội của nhân cách đến sự phân kiểu xã hội - tâm lý. Yêu cầu duy nhất của các bƣớc chuyển tiếp từ phân kiểu này đến phân kiểu khác đƣợc cung cấp đủ bằng sự áp dụng những tính chất đi theo của các điều kiện, mà chúng trở thành đứng đầu cho mỗi phân kiểu tiếp theo. Ví dụ, sự chuyển từ dạng xã hội đến dạng xã hội - tâm lý cần có bƣớc tiếp theo bằng sự phân tích những điều kiện này (cả mặt xã hội, cả mặt xã hội - tâm lý), những điều kiện này thuộc vào sức động của các dạng xã hội - tâm lý hay khí chất. Khi đó các nét xã hội sử dụng dấu hiệu không nhận biết cho sự tìm tòi những nét tƣơng tự giống nhau của kiểu xã hội-tâm lý, có những nét chung, đƣợc biểu thị trong chức năng hoàn thiện khác. Những nét qui định mốc chuẩn cho sự tìm tòi những điều kiện then chốt, mà chúng gây ra sự đa dạng của kiểu xã hội - tâm lý qua sự hiện diện của kiểu duy nhất xã hội. Sức mạnh động của tính tích cực nhân cách khác nhau đối với tính chất xã hội - tâm lý không giống nhau, còn những tính cách không giống nhau tiến hành trong hoạt động bằng những xu hƣớng xã hội - tâm lý và xu hƣớng xã hội khác nhau. Vấn đề quan trọng trong sự tạo nên phân kiểu tâm lý đại cƣơng thể hiện ở chỗ, biểu thị xu hƣớng xã hội-tâm lý nào sẽ liên quan toàn bộ này hay khác các nét nhân cách và các bản chất. Trong sự phân loại nhân cách đang có đƣợc, đó là mối quan hệ với điều kiện xã hội (xã hội-tâm lý) này hay kia. Trong tâm lý học tƣ bản, không có tính tích cực bên trong của nhàn cách và vị thế xã hội của nó, tính năng động đƣợc nhận thấy chỉ trong sự thay đổi vai trò vị trí, trong sự thực thi của chúng, không động đến tính tích cực bên trong nhân cách. Thực chất con đƣờng đi của Mác-xít bao gồm không chỉ việc vạch ra định loại xã hội, cấu trúc xã hội trên phƣơng diện động lực của chúng, mà còn mang tính tƣơng quan các qui luật xã hội với tính tích cực của con ngƣời, với các hình thức cần 10 thiết của sự tham gia của chúng vào trong quá trình xã hội vv... Không phải sự trùng nhau các nhân tố của các đặc tính này hay kia của nhân cách với những hoàn cảnh, sự kiện, các quá trình xã hội này hay khác, còn các phƣơng thức thuộc nguyên tắc liên quan với xu hƣớng bên trong và bên ngoài (sự trùng nhau của chúng, những mâu thuẫn...) qui định phƣơng pháp Mác-xít trong việc phân kiểu. Tiếp theo những nguyên tắc này, tâm lý học Xô Viết gắn chặt tính tích cực với nhân cách khách quan (Đ.N.Uznatre), mở ra phép biện chứng bên ngoài và bên trong (X.X. Rubinstein). Vị trí phƣơng pháp luận này cần phải thực hiện khi xây dựng kiểu loại. Chắc là, sự thiết yếu từ thiết kế trừu tƣợng các kiểu nhân cách từ những bản chất và tính chất riêng lẻ của nhân cách, liên quan từ sự so sánh đối chiếu các nhân cách với nhau, đến sự nghiên cứu kiểu nhân cách, các mối quan hệ nhân cách với xu hƣớng xã hội-tâm lí với cuộc sống. Nhân cách thể hiện không nhƣ tích phân bên trong của thể thức tâm lý mà nhƣ tích phân các mối quan hệ xã hội, mà tích phân này có thể lộ rõ qua sự tác động lẫn nhau của nhân cách với những điều kiện, hoàn cảnh của cuộc sống. Nói cách khác, trên nền tảng xây dựng nên kiểu nhân cách cần phải đƣa vào nguyên tắc phân tích nhân cách thông qua hoạt động sống của nó, thông qua phƣơng cách sống của nó. X.L. Rubinstein đã khai thác triệt để nguyên tắc này áp dụng vào tâm lý học, dựa vào luận điểm nổi tiếng của Mác: hoạt động của cá nhân trong cuộc sống nhƣ thế nào, thì nó sẽ trở thành nhƣ thế ấy. Toàn bộ quan điểm nhƣ vậy đã cho ra khả năng vƣợt qua kiểu nghiên cứu một chiều cấu trúc và đặc tính nhân cách bên ngoài những hoạt động, những thay đổi, những phát triển xảy ra trong cuộc sống nhân cách. Một thời gian dài khái niệm tâm lý học về nhân cách bị hạn chế về hiểu biết cấu trúc của nó (tổng hợp khí chất, tính cách...). Thậm chí khi nhấn mạnh tính chất năng động của cấu trúc này hay quá trình tiến triển của nó tạo thành, tâm lý học nhân cách đƣa ra nhƣ đặc tính tâm lí của nó. V.N.Miaxisev đã đƣa ra một bƣớc cơ bản tiên phong, coi nhân cách nhƣ một hệ thống các mối quan hệ của nó với thế giới. Tuy vậy, hệ thống này trong quan điểm của ông vẫn không thay đổi. B.G. Ananhev đƣa ra vấn đề thuộc nguyên tắc về tính chất hoạt động các mối quan hệ của nhân cách với thế giới và ông phân bố kiểu mẫu của nhân cách theo quá trình phát triển trong quá trình sống. ông đã hoàn thiện và vƣợt qua một cách triệt để từ vấn đề về cấu trúc các yếu tố tâm lý trong 11 nhân cách đến vấn đề về cách tổ chức nhân cách của các mối quan hệ với thế giới, chú ý tới quá trình tiến triển của các thuộc tính cuối cùng. Tuy nhiên, việc thử thực hiện tiếp cận mang tính hệ thống đến việc nghiên cứu nhân cách đã mâu thuẫn với phƣơng thức tĩnh tại của các kết cấu phân tích từng đoạn trong cuộc sống của dạng xã hội tâm lý trong tâm lý học xã hội. Trƣờng phái của B.G.Ananhev đụng tới điều nan giải khác, trên cơ sở phân tích cách sống của nhân cách đã xem sự hiểu biết về nó nhƣ lịch sử cá thể. Tuy nhiên, việc phân tích thời kỳ giai đoạn sống, kiểu loại của kết cấu cuộc sống và của hình thức tính tích cực (sự giao tiếp, sự nhận thức, sự hoạt động) khi bắt tay tiến hành nghiên cứu trong thực tế, đã đƣa ra một cách thực tế khái niệm về lịch sử tiêu biểu, cách sống tiêu biểu, sự phân chia thời kỳ cuộc sống của mọi nhân cách bất kỳ. Vì sao không thành công thực thi khái niệm cá thể hóa vào học thuyết con đƣờng quá trình sống? Trƣớc tiên, vì nhân cách chƣa đƣợc nghiên cứu xem xét nhƣ là một chủ thể của hoạt động sống, tức là sự phân chia thời kỳ sống (theo tất cả các chi tiết và sự chuẩn xác của nó) sự phân chia không liên quan với tính tích cực của chính nhân cách, mà tính tích cực tạo nên sự tổng hợp sống của mình, tạo hình con đƣờng cho cuộc sống của mình. Và cùng với những điều này, quan niệm của Ananhev đã trở thành tiền đề tiên quyết cho việc giải quyết tiếp theo vấn đề về kiểu nhân cách và cá nhân. Nhiệm vụ của ngày hôm nay ở chỗ không đơn giản thiết lập qui định sự phù hợp các giai đoạn, các sự kiện biến cố, các hoàn cảnh tình huống này hay kia của cuộc sống, cùng với những đặc điểm, những nét này hay khác của nhân cách, mà còn là ở chỗ là để khám phá các mối quan hệ mang tính chất nguyên nhân của chúng. Sự phụ thuộc của nhân cách vào tính chất khách thể của hoạt động sống cũng nhƣ quá tình xã hội là điểm xuất phát. Nhƣng đồng thời nhân cách bao gồm sự tổng hòa các nguyên nhân và kết quả của cuộc sống của chính mình nó không chỉ nhƣ phụ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, mà còn nhƣ sự biến đổi tích cực của chúng, hơn thế, nhƣ sự tạo thành trong phạm vi xác định vị trí và con đƣờng sống của mình. Bằng quan điểm nhƣ vậy, tính tích cực của nhân cách đƣợc xác định không trìu tƣợng, còn chính qua sự tổng hợp hoàn cảnh đã biến đổi nó, hƣớng tới tiến trình của cuộc sống - tạo thành vị thế cuộc đời. Tính năng động của cuộc sống chấm dứt việc xác 12 định qua những biến cố, nhƣng lại trở thành sự bị phụ thuộc vào tính chất tích cực của nhân cách, vào năng lực tổ chức và hƣớng tới biến cố trong xu hƣớng cần thiệp cho hợp ý muốn. Quan điểm nhƣ vậy không chỉ năng động, mà còn có thiên hƣớng. Hệ thống các mối quan hệ nhân cách đƣợc xem nhƣ hệ thống xu hƣớng bên trong của nhân cách, hƣớng tới biến đổi hay tăng cƣờng hoạt động các điều kiện bên trong của nhân cách. 1.1.2 - Cách phân loại kiểu nhân cách xã hội Nhân cách là tổng hòa các phẩm chất tâm lý của cá nhân đƣợc hình thành và phát triển trong các mấu quan hệ xã hội. Mỗi cá nhân có khí chất, năng lực, tính cách, ý thức và tính tích cực khác nhau, có lý tƣởng sống riêng của mình. Do vậy mà trong nhóm tồn tại những kiểu nhân cách khác nhau. Sự hình thành các kiểu nhân cách này không chỉ phụ thuộc chính bản thân cá nhân đó, mà còn tùy thuộc vào quan hệ xã hội, vào điều kiện lịch sử mà con ngƣời đó sống. Các nhà nghiên cứu dựa trên những tiêu chí khác nhau để phân loại kiểu nhân cách, vì thế cho nên có rất nhiều cách phân loại. Tuy nhiên tất cả các cách phân loại đều chỉ mang tính chất tƣơng đối vì trên thực tế không có ngƣời nào chỉ thuộc về một kiểu nhân cách. Chỉ có thể coi đó là thiên hƣớng chính của họ bởi vì trong những hoàn cảnh môi trƣờng khác nhau họ có những cách ứng xử, biểu hiện nhân cách khác nhau. 1.1.2.1- Phân loại theo định hướng giá trị Spranger (1882-1963) là nhà tâm lý ngƣời Đức thuộc trƣờng phái tâm lý học, mô tả, Spranger dựa vào các định hƣớng giá trị trong hoạt động sống của các nhân, đã chia ra các kiểu nhân cách sau: a. Người lý thuyết Kiểu ngƣời này chỉ biết có một niềm say mê: giải thích và thiết lập mối quan hệ có tính chất lý luận giữa các hiện tƣợng và sự việc. Họ sống thoát ly thực tế. Đối với họ giá trị lớn nhất là phƣơng pháp nhận thức đúng, coi đó là giá trị chân lý với bất cứ giá trị nào. Họ sống trong một thế giới không có thời gian, cái nhìn của họ hƣớng về tƣơng lai xa xôi, họ liên kết quá khứ với tƣơng lai theo một qui luật tinh thần do chính họ lập ra. b. Người kinh tế Động cơ quyết định chính những lĩnh vực khác nhau nhất của cá nhân và tính chất lối sống của kiểu ngƣời này là lợi ích. Trong các mối liên hệ sống, họ luôn đặt lợi 13 ích lên hàng đầu. Họ tiết kiệm từ vật chất, sức lực đến thời gian với mục tiêu là chiếm đƣợc lới ích tối đa. Những ngƣời kinh tế thƣờng là những ngƣời sống thực dụng. Với họ, mọi hành động đều phải đem lại hiệu quả thiết thực, và tất cả đều là phƣơng thức hỗ trợ cuộc sống, đấu tranh vì sự tồn tại và tiện nghi sống tốt nhất. Kiểu nhân cách này đối lập với kiểu nhân cách của những ngƣời lý thuyết. c. Người thẩm m ỹ Nhân cách này không chỉ có ở ngƣời sáng tạo nghệ thuật, mà ở cả những ngƣời hay tƣởng tƣợng. Họ thông qua tƣởng tƣợng mà tri giác hiện thực. Họ có một năng khiếu đặc biệt, đó là linh cảm. Họ thƣờng sống mơ mộng, đứng trƣớc những khó khăn về kinh tế thƣờng tỏ ra bất lực. Với họ cái quan trọng nhất là sự trong sáng và vẻ đẹp cao quí của tâm hồn. Cuộc sống nội tâm của họ hƣớng tới cái đẹp thiên nhiên, sự toàn mỹ của các tác phẩm nghệ thuật cụ thể. d. Người vị tha Đặc điểm của kiểu nhân cách này là chú ý quan tâm đến cuộc sống của ngƣời khác, cảm nhận thấy mình ở trong ngƣời khác. Cống hiến vì ngƣời khác là nhu cầu chủ yếu và lẽ sống của kiểu ngƣời này. Biểu hiện cao nhất trong xu hƣớng xã hội của họ là tình yêu. Tình yêu không chỉ đơn thuần ở chỗ yêu cuộc sống, yêu ngƣời khác mà còn có bản chất sâu xa hơn: tình yêu là một tình cảm còn lại ở trong mình, chú ý đến cuộc đời khác vì những giá trị của chính cuộc sống đó. Chính tình yêu đã khám phá ở ngƣời khác những giá trị nhất định, mà nhờ đó họ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của mình khi đƣợc cống hiến cho ngƣời khác, cho xã hội. e. Người chính trị Một ngƣời có quyền lực với ngƣời khác khi ngƣời đó có kiến thức và trí tuệ cao, hoặc là có cơ sở vật chất dồi dào, hoặc là có nhân cách hoàn chỉnh và nội tâm phong phú, hoặc là do niềm tin tôn giáo nào đó mà mọi ngƣời coi ngƣời đó nhƣ một ông thánh. Trƣờng hợp đặc biệt khi con ngƣời không hƣớng tới một trong bốn giá trị đặc biệt này, mà cái chính đối với họ là củng cố thế mạnh của chính bản thân mình, ở đây uy quyền đƣợc xem nhƣ khả năng cũng nhƣ sự cố gắng biến xu hƣớng giá trị của cá nhân thành động lực chủ yếu cho ngƣời khác. Đặc điểm nhân cách nổi bật của học là tính tự khẳng định, cố gắng đạt thành tích, sức sống, lối sống mạnh mẽ. Mọi biểu hiện của các mối 14 quan hệ dựa trên quyền lực đều mang một phong cách mà ta gọi là chính trị. Những ngƣời lấy uy quyền làm giá trị chủ đạo gọi là kiểu ngƣời chính trị. h. Người tôn giáo Ngƣời tôn giáo có đặc điểm là luôn hƣớng tới và đạt đƣợc giá trị ở mức cao nhất. Xét trên cơ sở các giá trị có quan hệ nhƣ thế nào với ý nghĩa chung của cuộc sống có thể phân ra ba loại ngƣời tôn giáo: tích cực, tiêu cực và hỗn hợp (lúc tích cực, lúc tiêu cực). Khi các giá trị của cuộc sống thể hiện trong quan hệ tích cực thì kiểu nhân cách này thể hiện sự thần bí nội tại; nếu giá trị đặt trong quan hệ tiêu cực thì xuất hiện ngƣời thần bí siêu nghiệm. Nếu là giá trị hỗn hợp thì xuất hiện tƣ chất tôn giáo nhị nguyên. Sự phân chia kiểu nhân cách xã hội nhƣ trên của Spranger dựa trên cơ sở các định hƣớng giá trị. Tác giả không tính đến ý nghĩa của vai mà cá nhân đảm nhận trong nhóm, chƣa tính đến các điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Spranger mới chỉ dừng lại ở việc mô tả các biểu hiện đặc trƣng của các loại nhân cách. Ông chƣa lý giải đƣợc các loại nhân cách này hòa nhập vào nhóm khác nhƣ thế nào, sẽ tồn tại ra sao và có vai trò gì trong các quan hệ tƣơng tác của nhóm. Tuy nhiên tính hợp lý của cách phân chia này là ở chỗ nó liên hệ cấu trúc của tính nhân cách cụ thể với các giá trị tinh thần mà nhân dân xây dựng nên cùng với các hình thức văn hóa. Karen Horney (1885-1952) ông là nhà tâm lý học ngƣời Mỹ, theo trƣờng phái phân tâm học, dựa vào định hƣớng giá trị trong quan hệ ngƣời - ngƣời, ông phân ra ba kiểu nhân cách: - Kiểu ngƣời nhƣờng nhịn (bị áp đảo). - Kiểu công kích (mạnh mẽ). - Kiểu hờ hững (lạnh lùng). Ông cho rằng cơ sở phân loại là nhu cầu tâm lý trội hơn trong quan hệ với ngƣời khác. a. Người nhường nhịn Nhu cầu tâm lý chủ yếu của loại ngƣời này tập chung ở những ngƣời thân cận nhất, gần gũi nhất, là sao để cho mọi ngƣời hiểu và thƣơng mến họ. Khi quan hệ với ngƣời khác họ luôn muốn tìm hiểu thái độ của ngƣời đó đối với mình, có thể diễn đạt 15 dƣới dạng các câu hỏi nhƣ: bạn sẽ thƣơng tôi hay không? Bạn có muốn để tôi quan tâm đến bạn không? b. Người công kích Những ngƣời này có xu hƣớng đối nghịch với ngƣời khác, luôn có nhu cầu kiểm tra ngƣời khác. Trong thế giới riêng của họ chỉ tồn tại những ngƣời mạnh mẽ. Họ khó chịu đựng đƣợc những thất bại và luôn khôn ngoan, khéo léo hơn ngƣời khác. Trong mọi quan hệ kiểu ngƣời này luôn quan tâm đến việc làm nhƣ thế nào để có lợi. c. Người hờ hững Ngƣời hờ hững luôn muốn xa lánh mọi ngƣời, và thƣờng tự thiết lập khoảng cách nhất định giữa mình với ngƣời khác trong mọi lĩnh vực. Họ có nhu cầu muốn đƣợc yên tĩnh trong một góc nhỏ của mình hoặc liên kết với ai mà họ thấy cần thiết. Kiểu ngƣời này không thích khuất phục và phụ thuộc ngƣời khác. Dựa vào cách phân loại này các nhà tâm lý học Liên Xô đã tìm thêm một số đặc điểm của các kiểu nhân cách trong lĩnh vực hoạt động khác. Một nghiên cứu của Vinhiukh về vấn đề thủ lĩnh trong hành vi ảnh hƣởng đến xu hƣớng hoạt động nhƣ thế nào thì thấy rằng kiểu ngƣời công kích không muốn hợp tác với những ngƣời ngang hàng mà chỉ thích làm việc với thủ lĩnh. Trong khi đó kiểu ngƣời nhƣờng nhịn thì thích làm việc với những ngƣời có phong cách dân chủ. Một nghiên cứu khác của I.C.Kôn về định hƣớng giá trị trong lĩnh vực giao tiếp ảnh hƣởng đến việc chọn nghề cho thấy kiểu ngƣời nhƣờng nhịn có quan hệ tốt với những ai có giao tiếp rộng và hay chọn nghề có tính chất xã hội. Kiểu ngƣời công kích thƣờng hƣớng tới thành công có giá trị cao cho nên hay chọn nghề có khả năng thành công lớn. Ở kiểu ngƣời lạnh lùng, hờ hững thì nhu cầu và sáng tạo và tự do luôn ở mức độ cao. Vì thế họ hay chọn hƣớng hoạt động khoa học và nghệ thuật. 1.1.2.2- Phân loại nhân cách qua giao tiếp Trong giao tiếp con ngƣời thể hiện rất rõ nhân cách và cá tính của mình, đặc biệt là trình độ ứng xử, nét tính cách, những phẩm chất và năng lực các nhân. Thông qua giao tiếp có thể chia ra các kiểu nhân cách sau: a- Người thích sống bằng nội tâm 16
- Xem thêm -