Nghiên cứu hiệu quả khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng

  • Số trang: 54 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --------------------- NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KHỬ TRÙNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ LÂY NHIỄM BẰNG CÔNG NGHỆ HƠI NƯỚC BÃO HÒA KẾT HỢP VI SÓNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội – Năm 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --------------------- NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KHỬ TRÙNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ LÂY NHIỄM BẰNG CÔNG NGHỆ HƠI NƯỚC BÃO HÒA KẾT HỢP VI SÓNG Chuyên ngành: Khoa học môi trường Mã số 60440301 : LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải Hà Nội – Năm 2014 Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT LỜI CẢM ƠN Sau thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành bản luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Mạnh Khải là giáo viên hướng dẫn, các cán bộ Khoa Môi trường đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung và Bộ môn Công nghệ Môi trường nói riêng đã giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến thức quý giá trong suốt khóa học. Trong quá trình nghiên cứu của mình, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ chia sẻ kinh nghiệm của các anh chị đồng nghiệp Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường. Tôi cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi, hợp tác của cán bộ, nhân viên các bệnh viện Lao phổi Trung ương. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè về sự chia sẻ, động viên, khuyến khích trong suốt quá trình nghiên cứu của mình. Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Học viên Nguyễn Thị Quỳnh Mai Khoa Môi trường iii Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3 1.1. Định nghĩa và các đặc trưng của chất thải rắn y tế...........................................3 1.1.1. Định nghĩa chất thải y tế..................................................................................3 1.1.2. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế...............................................3 1.1.3. Tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại.............................................................5 1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước.....................................................................7 1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước..................................................................... 9 1.4. Công nghệ khử trùng hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng............................... 12 CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 2.1. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................16 2.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 17 2.2.1. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu....................................................17 2.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn..................................17 2.2.3. Phương pháp định tính...................................................................................17 2.2.4. Đánh quá hiệu quả xử lý lò hấp bằng test BI theo GEF (Golbal health care waster Project )........................................................................................................19 2.2.5. Phương pháp phân tích đánh giá công nghệ...................................................20 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22 3.1. Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Lao phổi Trung ương 22 3.1.1. Tổ chức quản lý chất thải y tế........................................................................22 3.1.2. Năng lực của nhân viên y tế đối với việc quản lý chất thải y tế.....................24 3.1.3. Thực trạng phát sinh, thu gom và phân loại CTRYT tại bệnh viện................27 3.2.1. Hiện trạng hệ thống xử lý chất thải rắn y tế của bệnh viện............................32 3.2.2. Công nghệ khử khuẩn chất rắn lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng........................................................................................................33 3.3. Đánh giá hiệu quả khử trùng bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng............................................................................................................................... 36 Khoa Môi trường iv Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT 3.3.1. Xác định hiệu quả khử trùng đối với các nhóm vi khuẩn (phương pháp định tính)......................................................................................................................... 36 3.3.2. Xác định hiệu quả khử trùng bằng phương pháp test BI theo GEF................38 3.4. Ý nghĩa môi trường của công nghệ lò hấp tiệt trùng hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng được sử dụng tại bệnh viện................................................................39 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40 1. Kết luận............................................................................................................. 40 2. Kiến nghị........................................................................................................... 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 1.Tiếng Việt...........................................................................................................41 2.Tiếng Anh...........................................................................................................43 Khoa Môi trường v Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT BVĐK : Bệnh viện đa khoa BHLĐ : Bảo hộ lao động CTMTĐT : Công ty môi trường đô thị CTRNH : Chất thải rắn nguy hại CTRYT : Chất thải rắn y tế CTLN : Chất thải lây nhiễm CTYT : Chất thải y tế CTYTLN : Chất thải y tế lây nhiễm GB : Giường bệnh PCB : Polyclobiphenyl PVC : Polyvinylclorua PE : Polyetylen NVYT : Nhân viên y tế PP : Polypropylen TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam VNĐ : Việt Nam Đồng VSV : Vi sinh vật WHO : Tổ chức Y tế thế giới Khoa Môi trường vi Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT DANH MỤC BẢNG Bảng 1. Yêu cầu về thời gian trong phươmg pháp tiệt khuẩn bằng hơi nước..........16 Bảng 2. Danh sách vi sinh vật theo thứ tự giảm sức đề kháng với nhiệt và hóa chất khử trùng.................................................................................................................20 Bảng 3. Phân bố chức danh của nhân viên y tế........................................................24 Bảng 4. Kết quả thăm dò về nhận thức của NVYT đến nội dung phân loại CTRYT ................................................................................................................................. 24 Bảng 5. Kết quả thăm dò kiến thức của NVYT về quy định thu gom CTYT..........26 Bảng 6. Khảo sát thực hành phân loại sai chất thải..................................................27 Bảng 7. Thực trạng CTYT phát sinh hàng ngày tại BV ở thời điểm nghiên cứu.....29 Bảng 8. Thông số kỹ thuật của thiết bi hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng...............35 Bảng 9. Tính năng kỹ thuật của máy cắt chất thải y tế sau khi đã tiệt khuẩn...........36 Bảng 10. Kết quả phân tích thành phần vi sinh vật trong CTYTLN trước xử lý và sau xử lý theo thời điểm xử lý.................................................................................37 Bảng 11. Kết quả XN test BI Geobacillus stearothermophilus sau xử lý..................... 39 Khoa Môi trường nhiên vii Trường Đại học Khoa học Tự Luận văn tốt nghiệp Khoa Môi trường nhiên Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT viii Trường Đại học Khoa học Tự Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT DANH MỤC HÌNH Hình 1. Sơ đồ phân bố áp suất của thiết bị khử trùng..............................................14 Hình 2. Sơ đồ thiết bị khử trùng CTRYTLN bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng..............................................................................................................16 Hình 3. Mô tả các vị trí kiểm tra trong lò................................................................20 Hình 4. Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải y tế bệnh viện..........................................23 Hình 5. Hiện trạng CTRYT được thu gom và phân loại tại các khoa phòng ...........33 Hình 6. Quy trình thu gom phân loại và xử lý CTRYTLN tại bệnh viện.................34 Hình 7.Thiết bị khử trùng CTRYTLN bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng......................................................................................................................... 34 Khoa Môi trường ix Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT MỞ ĐẦU Chất thải rắn y tế thường chứa nhiều thành phần nguy hại như mầm bệnh dễ lây nhiễm, các hoá chất độc hại và các vật sắc nhọn nguy hại. Việc xử lý chất thải bệnh viện nói chung và chất thải rắn y tế nguy hại nói riêng đã là một vấn đề cấp bách cần phải quản lý và xử lý an toàn không chỉ tại Việt Nam mà cả thế giới. Theo báo cáo của Bộ y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có 1.087 bệnh viện bao gồm 1.023 bệnh viện nhà nước, 64 bệnh viện tư nhân với tổng số hơn 140.000 giường bệnh. Ngoài ra còn có hơn 10.000 trạm y tế xã, hơn chục ngàn cơ sở phòng khám tư nhân. Theo ước tính, trung bình mỗi giường bệnh một ngày phát sinh từ 2,0 đến 2,5 kg chất thải trong đó khoảng từ 10- 25% chất thải nguy hại. Như vậy, với khoảng trên 140.000 giường bệnh đang hoạt động hết công suất, mỗi ngày có khoảng 280-350 tấn chất thải phát sinh từ các bệnh viện. Theo ước tính của các chuyên gia, đến năm 2010 tổng lượng chất thải rắn phát sinh sẽ là 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 60 - 70 tấn/ngày là chất thải rắn nguy hại phải xử lý. Tỷ lệ gia tăng chất thải rắn y tế phụ thuộc vào số giường bệnh, tình hình thực hiện các kỹ thuật y tế và sự tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế (khoảng 7,6%/năm). Ước tính đến năm 2015 số lượng chất thải y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày. Lượng chất thải y tế này, nếu không được xử lý đúng phương pháp sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, đe dọa đến sức khỏe con người trước tiên là những nhân viên y tế, người bệnh [1]. Để xử lý và tiêu huỷ chất thải y tế, mỗi nhóm và loại chất thải có phương pháp riêng. Chất thải rắn trong y tế thường được xử lý bằng phương pháp đốt ở nhiệt độ cao trên 1000oC [36]. Đây chưa phải là phương pháp thân thiện môi trường và an toàn vì trong quá trình đốt, rất nhiều những khí thải, khí độc hại sinh ra làm ô nhiễm môi trường, nhất là nhựa có chứa clo. Bên cạnh đó, đa phần các vật liệu nhựa dùng cho ngành y tế thường là những loại có chất lượng tốt nên việc đốt toàn bộ chất thải y tế sẽ gây ra sự lãng phí. Các chất thải rắn như bơm tiêm, chai nhựa đựng dịch truyền, dây truyền dịch… nếu được quản lý, phân loại và xử lý ban đầu tốt thì Khoa Môi trường 1 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT sẽ trở thành nguyên liệu hữu ích tái chế cho các mục đích sử dụng khác. Làm được điều này sẽ đem lại những lợi ích thiết thực như làm giảm chi phí trong việc xử lý chất thải y tế của các bệnh viện, tiết kiệm được nguyên liệu, giảm ô nhiễm môi trường do chất thải y tế phát sinh từ bệnh viện, góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân viên y tế và cộng đồng dân cư [43]. Bệnh viện Lao phổi Trung ương nằm trên địa bàn Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, đây là khu vực có mật độ dân số cao. Là bệnh viện chuyên khoa hạng I tuyến cao nhất. Bệnh viện có chức năng khám, chữa bệnh, dự phòng và phục hồi chức năng cho người bệnh thuộc chuyên khoa lao và bệnh phổi ở tuyến cao nhất, giải quyết các kĩ thuật chẩn đoán, điều trị các bệnh lao ngoài phổi từ các tuyến dưới chuyển đến và là tuyến cuối cùng tập trung bệnh nhân điều trị bệnh nặng có nhiều nhiễm trùng cơ hội trong bệnh cảnh nhiễm lao, nấm, HIV, các vi khẩn đường ruột với yếu tố lây nhiễm cao. Bệnh viện có 500 giường bệnh luôn trong tình trạng quá tải, thời gian điều trị đối với bệnh nhân thường kéo dài nên lượng rác thải phát sinh hàng ngày cao, đặc biệt là lượng chất thải lây nhiễm. Trong công tác quản lý chất thải, bệnh viện đã sử dụng công nghệ khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng. Để có số liệu khoa học xem xét đến hiệu quả cũng như những ưu điểm của công nghệ này với việc khử trùng, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu hiệu quả khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng". Địa điểm nghiên cứu được chọn tại bệnh viện Lao phổi Trung ương với nội dung chủ yếu gồm: 1. Đánh giá thực trạng nhận thức và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao phổi Trung ương. 2. Đánh giá hiệu quả khử trùng của công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng đối với chất thải rắn y tế lây nhiễm. Khoa Môi trường 2 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1.1. Định nghĩa và các đặc trưng của chất thải rắn y tế 1.1.1. Định nghĩa chất thải y tế Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu, đào tạo về khám chữa bệnh... CTYT lây nhiễm là chất thải có các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, chất phóng xạ ... thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYTLN được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây nguy hại sức khỏe, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ [2]. 1.1.2. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế Căn cứ vào đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, CTRYT được phân thành 5 nhóm sau[2] : 1. Chất thải lây nhiễm: a) Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. d) Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. Khoa Môi trường 3 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT 2. Chất thải hoá học nguy hại: a) Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. b) Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế. c) Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu. d) Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). 3. Chất thải phóng xạ: Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế. 4. Chất thải chứa khí có áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt. 5. Chất thải thông thường: Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). b) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại. Khoa Môi trường 4 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT c) Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim. d) Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Các chất thải được thu gom vào các thùng và túi theo màu quy định tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế. - Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm. - Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ. - Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ. - Màu trắng đựng chất thải tái chế. Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 1998 - 1999 thành phần CTYT ở một số bệnh viện Việt Nam gồm: + Chất thải rắn y tế: Giấy các loại, kim loại, vỏ hộp; thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa, bông băng, bột bó gãy xương; chai, túi nhựa các loại, bệnh phẩm, rác hữu cơ, đất đá và các vật rắn khác. + Chất thải lỏng bệnh viện: nước thải từ khoa Xét nghiệm, X quang, khoa lâm sàng, cận lâm sàng, bộ phận phục vụ trong bệnh viện và nước mưa. - Chất thải khí: khí thải từ các công trình, thiết bị xử lý, tiêu huỷ CTYT 1.1.3. Tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại Trong chất thải y tế nguy hại có khả năng chứa đựng tất cả các loại vi sinh vật như: vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng, tụ cầu vàng. Đặc biệt là những VSV có sức đề kháng cao với môi trường như vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn nhiễm trùng bệnh viện, các loại virut đường ruột, virut viêm gan, HIV [3]. Việc tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương vì những lý do chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm như các dược phẩm có thành phần độc hại, chất phóng xạ, vật sắc nhọn gây tổn thương, chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội. Khoa Môi trường 5 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT Những đối tượng có nguy cơ với chất thải y tế bao gồm tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại. Đó là các bác sĩ, y tá, hộ lý, y công, bệnh nhân, nhân viên thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải, cộng đồng dân cư G (đặc biệt những người chuyên thu nhặt phế thải). Tại Pakistan [25], Bangladesh [28], Ấn Độ [29], các nghiên cứu về quản lý và xử lý chất thải y tế quan tâm nhiều về ảnh hưởng của chất thải y tế lên sức khỏe cộng đồng ở nhiều khía cạnh khác nhau như: - Nguy hại của chất thải lây nhiễm đối với sức khỏe cộng đồng. - Chất thải y tế với sự lan truyền dịch bệnh - Chất thải nhiễm xạ với sức khỏe - Tổn thương nhiễm trùng ở y tá, hộ lý và người thu gom rác, nhiễm trùng bệnh viên, nhiễm trùng ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, nhân viên vệ sinh. Ngoài ra còn những người thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế từ ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện và những người làm việc tại bãi đổ rác thải, các lò đốt rác có nguy cơ cao với lý do: - Sống trong môi trường ô nhiễm. Thường xuyên tiếp xúc với chất thải y tế lây nhiễm. - Trình độ văn hóa kém, không nhận thức đầy đủ về những về những nguy hại của chất thải y tế. Có thể họ không sử dụng phương tiện bảo hộ lao động do cảm thấy vướng trong khi làm việc. Theo báo cáo tại Banglades có một người nhặt rác y tế để bán đã mắc phải viêm gan B [28]. Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ dịch vụ cơ sở y tế tư nhân, quy mô lẻ, nằm rải rác cũng là nguồn thải gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới. Đôi khi, ngay cả những tủ Khoa Môi trường 6 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT thuốc gia đình hoặc một số tệ nạn xã hội như tiêm chích ma tuý cũng là nguồn phát sinh chất thải y tế nguy hại có tiềm năng gây rủi ro cao về môi trường và sức khoẻ. 1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về quản lý và xử lý chất thải y tế. Theo nghiên cứu của Awad, A.R., M. Obeidat, and M. Al-Shareef tại thành phố Irbid, Jordan tại 3 bệnh viện đã sử dụng mô hình thống kê toán học để tính ra lượng chất thải rắn phát sinh tại 3 bệnh viện. Lượng chất thải phát sinh được tính bằng kg/bệnh nhân/ngày/giường bệnh cho các khoa như khoa phẫu thuật, khoa nội, khoa sản [26]. Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy mỗi ngày các bệnh viện thải ra 6600 tấn chất thải và xấp xỉ 85% chất thải là lượng chất thải rắn không độc hại như thức ăn, bìa cứng và chất dẻo. Việc xử lý các chất thải này có thể dẫn tới các vấn đề về môi trường đối với cộng đồng. Do vậy, để giảm lượng chất thải xử lý cần có chương trình giảm thiểu lượng chất thải ở các bệnh viện [39]. Xu hướng của thế giới hiện nay là tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểu lượng chất thải y tế nguy hại thông qua thực hành phân loại tốt và nâng cao tỷ lệ tái sử dụng, tái chế chất thải y tế, xử lý chất thải y tế theo hướng thân thiện hơn. Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành chính sách quản lý an toàn chất thải y tế, theo đó việc xử lý an toàn để tái sử dụng, tái chế chất thải y tế rất được khuyến khích [43]. Theo các chuyên gia của ngành y tế, hiện nay trên thế giới đang loại bỏ công nghệ đốt chất thải rắn y tế, bởi khó kiểm soát khí thải độc hại phát sinh [8]. Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [20]. Nghiên cứu thực hiện 51 cơ sở y tế ở Alexandria cho thấy 31,4% có lò đốt rác thải y tế, song hầu hết các lò đốt rác các chất được đốt cháy không hoàn toàn [38]. Khoa Môi trường 7 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT Đối với chất thải y tế có thể dùng tái chế người ta thường áp dụng các công nghệ không đốt như: Khử khuẩn bằng hoá chất, xử lý bằng nhiệt ướt, lò vi sóng. Công nghệ xử lý bằng hoá chất có hiệu quả xử lý cao nếu thực hiện theo đúng các điều kiện vận hành, không tốn kém về kinh tế nhưng không hiệu quả đối với chất thải hoá học nguy hại và một số loại chất thải lây nhiễm đặc biệt [42]. Công nghệ xử lý nhiệt ướt rất thân thiện với môi trường, có thể giảm đáng kể khối lượng chất thải, chi phí đầu tư và chi phí vận hành không cao. Tuy nhiên để đạt được hiệu suất khử khuẩn, qui trình vận hành phải được tuân thủ nghiêm ngặt, thường xuyên kiểm tra bằng các chỉ điểm sinh học hoặc lý học và kỹ thuật viên vận hành phải đựợc đào tạo và có trình độ nhất định. Theo nghiên cứu của Byeong-Kyu Lee, MichaelJ.Ellenbecker, Rafael Moure-Ersaso xử lý và loại bỏ chất thải y tế tại ba bệnh viện của thành phố ở tiểu bang Massachusetts cho thấy hầu hết các chất thải y tế sử dụng công nghệ đốt có chi phí xử lý cao. Để giảm chi phí xử lý bệnh viện đã phân loại các chất thải y tế dựa vào đặc tính của chất thải sử dụng công nghệ vi sóng tại bệnh viện cho hiệu quả cao, giảm chi phí xử lý và khối lượng chất thải [27]. Nghiên cứu ở 95 cơ sở y tế ở Attica, Ai Cập để tính toán lượng chất thải phát sinh cũng như thành phần chất thải y tế nhằm thiết kế hệ thống xử lý chất thải. Kết quả cho thấy, trung bình 17% tổng lượng chất thải phát sinh là chất thải lây nhiễm, tuy nhiên không có mối liên quan giữa số lượng giường và lượng chất thải, do lượng chất thải phát sinh còn phụ thuộc vào từng khoa phòng của mỗi bệnh viện, số lượng bệnh nhân ngoại trú [37]. Tại Palestine để ước lượng khối lượng chất thải rắn bệnh viện, một nghiên cứu đã được tiến hành ở các bệnh viện vùng Jenin, trên cơ sở đó xây dựng mô hình chất thải rắn bệnh viện để ước lượng lượng chất thải rắn phát sinh ở những bệnh viện thuộc các thành phố phát triển [32]. Tại Balan đã nghiên cứu ảnh hưởng của các cơ sở đốt chất thải bệnh viện tới môi trường thấy rằng trong tro, xỉ của lò đốt chất thải bao gồm kim loại nặng, phần Khoa Môi trường 8 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT lớn là kẽm, clorua và anion sulfate những chất thải này độc hại hơn đối với môi trường so với chất thải khi chưa đốt [34]. 1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh của Đinh Hữu Dung và cộng sự (2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y tế và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện [14]. Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43%, rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện. Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn. Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ và gây ô nhiễm môi trường [12]. Hiện nay cả nước có trên 13.000 cơ sở y tế, trong đó các bệnh viện trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 450 tấn chất thải, trong đó 47 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại phải được xử lý bằng những biện pháp phù hợp [9]. Việc xử lý rác thải y tế còn quá nhiều bất cập bởi nguy cơ lây lan mầm bệnh nếu không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng và nếu chôn lấp có thể gây ô nhiễm nguồn nước và đến một lúc nào đó sẽ không còn đất để chôn lấp. Mặt khác, việc xử lý rác thải nguy hại bằng lò thiêu ngoài trời, thủ công đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cũng như thải ra rất nhiều chất độc hại ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân [7]. Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTYT (chiếm 73,3%). Trong số các bệnh viện có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tính là 79/106 lò. Nhưng chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt Khoa Môi trường 9 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT thiết kế và chế tạo trong nước và cũng chưa có số liệu về số lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải. Thiết kế cơ bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [11]. + Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: hiện nay phần lớn các bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời. Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công và tuyến huyện là 97/201 lò đốt. Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủ công [15]. Hiện nay tại các bệnh viện, phương pháp xử lý đối với chất thải rắn có khả năng tái chế như phần bơm tiêm, chai nhựa đựng dịch truyền và phần dây truyền dịch vẫn là đốt cùng với chất thải rắn lây nhiễm. Nguy cơ gây ô nhiễm cho môi trường và người sử dụng của các CTR nêu trên (bơm tiêm, chai nhựa đựng dịch truyền và phần dây chuyền dịch) chủ yếu do dính máu và dịch nhiễm khuẩn, mang theo các tác nhân vi sinh gây bệnh. Nếu lượng CTR có khả năng tái chế này được tái chế sẽ tiết kiệm chi phí xử lý chất thải hàng tháng cho các bệnh viện và giảm bớt nguy cơ ô nhiễm môi trường cho xã hội [13]. Trên thực tế, bên cạnh tính quyết định của các yếu tố kỹ thuật, hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế có khả năng tái chế phụ thuộc rất nhiều vào khâu quản lý phân loại và xử lý. Phân loại tốt sẽ đảm bảo không có các thành phần hoá học nguy hại, các thành phần phóng xạ, các chất gây độc tế bào trong các chất thải tái chế. Sau đó với thành phần chất thải rắn như trên, một quy trình khử trùng đạt yêu cầu sẽ đảm bảo chất thải y tế có khả năng tái chế không còn tác nhân vi sinh gây bệnh, cũng như hoá chất độc hại tạo nên sự an toàn về mặt sinh học cho người tiếp xúc và môi trường xung quanh [42]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Khoa và cộng sự (2002), tiến hành khảo sát tại 294 bệnh viện cho 61 tỉnh thành, thành phố trên cả nước về vấn đề quản lý, Khoa Môi trường nhiên 10 Trường Đại học Khoa học Tự Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT xử lý chất thải kết quả cho thấy quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT đã có tiến bộ, nhiều cơ sở y tế thực hiện đúng theo quy chế quản lý CTRYT thấy: 94% số bệnh viện thực hiện phân loại ngay tại nguồn là 93% số bệnh viện thu gom riêng vật sắc nhọn, 85% số bệnh viện sử dụng các phương tiện thu gom, vận chuyển theo đúng quy định [17]. Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nhau. Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất [4, 23]. Lượng chất thải rắn y tế phát sinh là cơ sở quan trọng để xác định khối lượng thu gom, công suất lò đốt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu trong nước về tổng lượng CTYT phát sinh trên địa bàn cả nước có sự sai lệch: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển 50 - 70 tấn/ngày, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là 16,5 tấn/ngày [20]; kết quả nghiên cứu của Lê Doãn Diên 37,5 tấn/ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5 tấn/ngày [10]. Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể phốt, hoặc thời điểm nghiên cứu. Theo quy chế hướng dẫn Quản lý chất thải y tế - QĐ số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, những chất thải được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế là các vật liệu thuộc chất thải thông thường, không dính, không chứa các thành phần nguy hại như lây nhiễm, chất hoá học nguy hại, chất phóng xạ, thuốc gây độc tế bào [5]. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới và các chuyên gia thì Việt Nam cần nghiên cứu các công nghệ mới để xử lý chất thải y tế tái chế, ưu tiên các công nghệ thân thiện với môi trường như hấp khử khuẩn nhiệt ướt, vi sóng [44]. Các nghiên cứu về xử lý chất thải rắn y tế cho thấy các công nghệ xử lý CTRYT hiện hành đều là công nghệ đốt. Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương Khoa Môi trường nhiên 11 Trường Đại học Khoa học Tự
- Xem thêm -