Nghiên cứu các bản dịch khoá hư lục chữ nôm và tiếng việt

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ờ giai đoạn tiếng Việt cồ (thế kỉ XIII- XVI), tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ có văn học và có vãn tự (chữ Nôm). Đây là mốc dấu quan trọng chứng tỏ vai ừò cùa tiếng Việt ngày càng chiếm ưu thế trong đòi sống xã hội. Mặc dù tiếng Việt và chữ Nôm không được coi là ngôn ngữ/ văn tự chính thức dùng ở công văn, giấy tờ, học hành, thi cử; song môi trường hành chức cùa nó không ngừng được mở rộng. Chữ Nôm và tiếng Việt được dùng để sáng tác văn học, như bốn bài phú Nôm đời Trần, tương truyền Chu An cũng có tập thơ Nôm. Nó còn được dùng để dịch kinh điển Nho giáo, đặc biệt là Phật giáo. Từ văn xuôi tôn giáo như bản dịch kinh Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kỉnh đến văn xuôi văn học như Tân biên truyền kì mạn lục tâng bo giải âm tập chú là một bước tiến đáng kể. Vấn đề diễn biến cấu trúc chữ Nôm trước nay đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Một số công trình mang tính lý thuyết chung về cấu trúc chữ Nôm đã lần lượt xuất hiện, như: Chữ Nôm- nguồn gốc- cấu tạo- diễn biến của Đào Duy Anh, Một so vấn đề về chữ Nôm cùa GS.Nguyễn Tài cẩn, Các mô thức cấu trúc chữ Nôm & Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm của GS.Nguyễn Ngọc San. Một số công trình đi sâu nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm trong từng văn bàn cụ thề như Chi Nam ngọc âm giải nghĩa của TS.Trần Xuân Ngọc Lan, Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại bảo phụ mẫu ân trọng kỉnh của TS. Hoàng Thị Ngọ, Tân biên truyền kì mạn lục nghiên cứu văn bản và vắn đề dịch Nôm của TS. Hoàng Thị Hồng cẩm... Một số khóa luận tốt nghiệp đại học về vấn đề này cũng đã được thực hiện. Vấn đề tiếng Việt lịch sử cũng là một mảng quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đầu tiên, phải kể đến những nghiên cứu về tiếng Việt của các giáo sĩ phương Tây. A. de. Rhodes viết Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng Đông Kinh năm 1651. Onofre Borges viết Dần luận về tiếng Bắc kì trong khoảng từ năm 1645 đến 1658, sau đó là những nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Quý Đôn (thế ki XVIII). Đến cuối thế ki XIX, cỏ các nghiên cứu của Trương Vĩnh Ký và một số nhà nghiên cứu người Pháp... 5 MÔ tả và nghiên cứu diện mạo tiếng Việt từ thế ki XIX trờ về trước thông qua các văn bàn Hán Nôm nói chung là một công việc có nhiều ý nghĩa nhưng khó khăn. Khó khăn ở chỗ các tư liệu chủ yếu được viết bằng Chữ Nôm, đa số là các văn bản cùa thế kỉ XIX, còn các văn bàn từ thế kỉ XVII về trước thì khá hiếm hoi. Các tác phẩm chữ Nôm cùa thế ki XV đa số không còn văn bàn gốc, chủ yếu là in/ chép lại từ thế kỉ XIX. Một số cuốn từ điển Hán- Nôm, từ điển Việt- La tinh, một số ít kinh Phật bằng chữ Nôm...cũng đã được khai thác, nghiên cứu. Đây là những cố gắng nghiên cứu về chữ Nôm và lịch sừ tiếng Việt qua các tư liệu thành văn. Cũng đi theo hướng này, luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu về tình hình cấu trúc chữ Nôm và lịch sừ tiếng Việt qua hai bản dịch Nôm củanguyên tác Hánvăn Khóa hư lục. Khóa hư lục là một tác phẩm Phật học của vua Trần Thái Tông (1281- 1277). Vì tầm quan ừọng của nó, Khỏa hư lục đã hai lần được phiên chuyển sang tiếng Việt. Đầu tiên là bàn giái nghĩa của Tuệ Tĩnh. Sau đó là bản giải âm của Phúc Điền được thực hiện vào năm 1861. Luận văn tiến hành nghiên cứu so sánh cấu trúc chữ Nôm và tiếng Việt qua hai văn bản dịch. Mục đích là tìm hiểu sự vận động của cấu trúc chữ Nôm và sự phát triển của tiếng Việt trong lịch sử. So sánh Khỏa hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh với Khóa hư lục giải âm của Phúc Điền, thực chất là so sánh hai bản dịch của cùng một nguyên tác Hán văn ở hai thời điểm khác nhau. Sự khác biệt giữa hai bên thề hiện sự khác nhau về ngôn ngữ / văn tự giữa hai thời kì. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Vãn bản Khóa hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh là một tư liệu quý về chữ Nôm và tiếng Việt lịch sử, nhưng mãi đến đầu thập kỉ 70 của thế kỉ XX, vãn bản này mới được chú ý. Trước đó, trong các tài liệu nghiên cứu về Tuệ Tĩnh (và cả Trần Thái Tông) chưa thấy nhắc đến văn bản này; ví dụ như từ Thư mục Việt Nam (Gaspadone, 1912, 1913); Truyện Tuệ Tĩnh (Phạm Xuân Dương, Đôrỉgy tùng báo, 1939); Đi thâm đền thờ Tuệ Tĩnh (Hồng Sơn, Nhân thuật tạp chí, 1957), Tuệ Tĩnh- người xây dựng nền móng cho y học dân tộc Việt Nam (Lê Huy Phách, 1957), ...cho đến bài Sự nghiệp của Tuệ Tĩnh (Lê Trần Đức, Nghiên cừu lịch sử.No 100. 1967) tồng kết các nghiên cứu trước đó về Tuệ Tĩnh. Sự chú ý có lẽ bắt đầu với các công trình thư mục của Thư viện Khoa học Xã hội (Thư mục Hán Nôm 9 tập, 1969- 1972), Lược truyện 6 các tác gia Việt Nam (1962- 1971) và Tim hiểu kho sách Hán Nôm (1972-1973) của Trần Văn Giáp. Nhưng những tài liệu này mới chỉ là những giới thiệu vắn tắt có tính chi dẫn. Đến bài Chữ Nôm thòi Lý Trần (1974), Đào Duy Anh mới thực sự bắt tay vào nghiên cứu tác phẩm: “Cứ cách viết chừ Nôm (có thể là đã bị sửa nhiều trong khi chép lại) và sự dùng từ, do có một số chữ và từ thông dụng trong khoảng Lê sơ đến Mạc, chúng ta mới chi có thể đoán rằng sách này có khả năng thuộc thời Lê sơ. Tuy nhiên, thời gian gần nhau, thời Trần mạt và Lê sơ cách viết chữ Nôm và sự dùng từ không phải khác nhau nhiều lắm, cũng khó có thề khẳng định dứt khoát rằng sách này thuộc thời Lê sơ chứ không phải là thời Trần mạt, cho nên việc nhận đó là sách của Tuệ Tĩnh ở cuối thời Trần cũng không sai nhiều lắm” [3, 46]. Trong cuốn Chữ Nômnguồn gốc, cẩu tạo, diễn biến (1975), Đào Duy Anh đã đi sâu vào việc chứng minh những nhận định ữên. Một số công ừình nghiên cứu của Lê Trần Đức (Tuệ Tình và nềny dược cổ trityển Việt Nam, 1976 và Tuệ Tình toàn tập, 1977; ...) cũng đã đề cập đến bản giải nghĩa. Trong Tổng tập văn học Việt Nam tập 3B (1993), ông giới thiệu một số đoạn phiên âm bản giải nghĩa. Kết luận của ông cũng giống vói Đào Duy Anh. Nguyễn Huệ Chi trong phần kháo luận văn bản cuốn Thơ văn Lý Trần cũng đề cập đến văn bản này như một bàn Hán văn Khóa hư lục cổ nhất còn lại đến nay, nhưng ông không nhắc đến phần chữ Nôm và dịch giả của nó. Trong Việt Nam Phật giáo sử luận (1978, tập 2), Nguyễn Lang cũng giới thiệu đôi chút về văn bàn này. Căn cứ vào niên đại viết bài tựa, ông cho rằng Tuệ Tĩnh sống vào thế kỉ XVI- XVII. Mai Hồng cũng đặt lại đề Tim hiểu tư liệu về Tuệ Tình (1985) và khẳng định: Tuệ Tĩnh sống đời Trần mạt, giải nghĩa sách Khóa hư lục. Ngoài ra, trong một sách nghiên cứu chữ Nôm của Lê Văn Quán, Nguyễn Ngọc San, Trần Xuân Ngọc Lan, Hoàng Thị Ngọ...cũng nhắc đến tài liệu này. Năm 2001, trong báo cáo khoa học, Nguyễn Thanh Tùng đã tiến hành nghiên cứu khá toàn diện về văn bản, tác giả; phiên âm, nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt của bản AB.268. Văn bản Khóa hư lục giải âm của Phúc Điền là một văn bản có niên đại tuyệt đối về thời gian sáng tác và khắc in (1861). Năm 1984, Đào Duy Anh đã tiến hành phiên âm và chú thích. Như lời đánh giá của ông, ngôn ngữ trong bản giải âm là ngôn ngữ văn xuôi: “theo cách xếp đặt của sách và cách giải âm chữ Hán thì thấy, người giải âm đã làm việc phiên dịch, mà lời phiên dịch đã là lời văn xuôi rồi.” [3,6]. Năm 1983, N.v. Stankêvic đã tiến hành nghiên cứu sự giao thoa từ ngữ pháp Hán sang ngữ 7 pháp Việt qua tư liệu trong vãn bản này, bà cũng tiến hành thống kê/ nghiên cứu hư từ, hư từ chiếm 17-18%. Năm 1999, Hoàng Thị Hồng cẩm đã so sánh phong cách dịch cùa Khóa hư lục giải âm với Tân biên truyền kì mạn lục: “đây là bản dịch chậm so với Tân biên hơn hai thế kỉ nhưng là bản dịch rất đúng tinh thần của truyền thống: không những dịch sát với nội dung nguyên bàn mà còn bảo đảm sát về số lượng từ ừong câu, sự nhịp nhàng đăng đối của thể văn biền ngẫu...” [7, 134]. Nguyễn Thanh Tùng cũng bước đầu so sánh hai phong cách dịch giải nghĩa và giải âm trong báo cáo của mình: “nguyên bản Hán văn (quyển thượng) có 3.155 chữ Hán, Phúc Điền dùng 3.193 chữ Nôm để dịch, tỉ lệ gần như 1/1. Cách dịch như vậy giữ được nhịp điệu, hơi văn, nhưng khó hiểu cứng nhắc”. Còn văn phong của bản Tuệ Tĩnh “giản dị, gần với ngôn ngữ thường ngày, do đó giàu chất văn xuôi hơn, phản ánh trung thực lời ăn tiếng nói của người Việt xưa. Đó chính là giá trị của vãn bản. Cũng với 3.153 chữ Hán (quyển thượng), dịch già đã diễn nghĩa bằng 4.665 chữ Nôm, tỉ lệ đối dịch xấp xỉ 1.5/1. Toàn bộ văn bản Hán vãn Khóa hư lục với 8.234 chữ Hán được dịch bằng 12.135 chữ Nôm tỉ lệ cũng gần 1.5/1. Chúng tôi lại thừ thống kê 200 chữ Hán trong Nam Xương nữ tử truyện (Tân biên truyền kì mạn lục) thì thấy được dịch bàng 240 chữ Nôm, ti lệ 1,2/1. Như vậy càng thấy tính chất giải nghĩa của văn bản này.” Nguyễn Thanh Tùng cũng đã tiến hành so sánh số lượng hư từ giữa hai bản đề thấy được sự khác biệt giữa phong cách giải nghĩa và giải âm (lượng hư từ của bản giải nghĩa là 21-22%, so với tỉ lệ lượng hư từ của bản giải âm 17-18%)[50]. Như vậy, so sánh diễn biến cấu trúc chữ Nôm và sự phát triển tiếng Việt qua hai bản dịch Khóa hư lục là một vấn đề cần được nghiên cứu kĩ càng và toàn diện. 3. 3.1. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: a. Toàn bộ chữ Nôm xuất hiện trong văn bản Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 và văn bản Khóa hư lục giải âm AB.367 tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. b. Tiếng Việt (ngữ âm, từ vựng cồ, ngữ pháp) trong 2 văn bản . 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn xoay quanh: 8 a. Khía cạnh văn tự học của chữ Nôm qua hai văn bàn giải nghĩa AB.268 và bàn giải âm AB.367; b. Khía cạnh ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của tiếng Việt qua hai văn bàn này. c. Sự vận động ừong cấu trúc chữ Nôm và sự phát triển của tiếng Việt qua hai vãn bản. 3.3. Phương pháp nghiên cửu Luận vãn thực hiện những phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp văn bản học: so sánh phần Hán vãn giữa 2 văn bản, rà soát lại toàn bộ hệ thống chữ Nôm ừong bản AB.268, đính chính các sai lầm về tự dạng (có lập bảng thống kê). Phương pháp thống kê số liệu: tiến hành thống kê định lượng, lập bảng thống kê về số chữ và tần số xuất hiện đối với mỗi kiều loại chữ Nôm/ và từ ngữ tiếng Việt theo tiêu chí phân loại riêng. Từ những số liệu thống kê cụ thể, chúng tôi đưa ra một số nhận xét về đặc điềm ngôn ngữ văn tự qua hai văn bàn. Phương pháp so sánh, đối chiếu: lấy các kết quả nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm và ngữ âm tiếng Việt để so sánh và nêu ra sự khác biệt và quá trình vận động ngôn ngữ/ vãn tự qua hai băn bản. 4. 4.1. Nguồn tư liệu sử dụng Tư liệu lý thuyết về cấu trúc chữ Nôm, luận văn sừ dụng phương pháp phân loại theo tiêu chí âm đọc của GS Nguyễn Ngọc San có điều chỉnh đôi chút cho phù họp với tình hình thực tế của văn tự trong hai vãn bản và mục đích của luận văn. Tư liệu lý thuyết về tiếng Việt, luận văn kế thừa các thành tựu nghiên cứu về ngữ âm lịch sử (của M.Ferlus, Nguyễn Tài cẩn, Nguyễn Ngọc San, Vương Lộc, Hoàng Thị Ngọ...); luận văn cũng kế thừa cách phân kì lịch sử tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn, kế thừa và phát triển những mô hình phân loại từ cổ của các nhà nghiên cứu đi trước như Vương Lộc, Nguyễn Ngọc San, Trần Xuân Ngọc Lan... 4.2. Tư liệu văn bản Khóa hư lục 4.2.1. Chúng tôi sử dụng các bàn Nôm sau: 9 a. Khóa hư lục giải nghĩa (còn có tên Thiền tông khỏa hư ngữ lục) kí hiệu AB.268 tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. b. Khóa hư lục giải âm (trong Kim cương Bát nhã Khỏa hư quốc âm) kí hiệu AB.367 tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngoài ra, luận văn sử dụng một số bàn Hán văn Khóa hư lục khác để tham khảo, đối chiếu. Luận văn cũng sử dụng các vàn bản Nôm cổ để so sánh như Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Thiền Tông bản hạnh, Quốc ảm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Chỉ nam ngọc âm, Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Truyện Kiều bản Liễu Văn Đường 1871... 4.2.2. Luận văn sừ dụng các bàn quốc ngữ Khóa hư lục sau: a. Bàn phiên âm, dịch nghĩa, chú thích bản giải âm của Đào Duy Anh [3]. b. Bản phiên âm, chú thích bàn giải nghĩa của Nguyễn Thanh Tùng[50]. c. Bàn phiên âm, dịch nghĩa, chú thích Khóa hư lục của PGS.TS. Trần Thị Băng Thanh [53]. d. Bản phiên âm Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 của chúng tôi (xin xem phụ lục 5 trong luận văn). 5. Cấu trúc của luận văn Luận văn gồm ba phần chính: 1. Phần mở đầu Giới thuyết chung tình hình nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt lịch sử. Tình hình nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua các bản dịch Khóa hư lục. vấn đề khoa học cần được giải quyết. 2. Phần nội dung Phần này bao gồm 3 chương: Chương I: Một số vấn đề vãn bản học của Khóa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm. Chương này đề cập đến: 1- vấn đề tác giả Khóa hư lục, các truyền bản cùa Khóa hư lục, phân loại các văn bản theo nội dung và theo hình thức chữ viết; 2- Vân 10 đề văn bàn Khóa hư lục giải nghĩa', lai lịch, hiện trạng văn bàn, vấn đề dịch giá của Khóa hư lục, vấn đề xác định thời gian sáng tác của bàn giải nghĩa thông qua các thông tin trong vãn bản, qua chứng tích ngôn ngữ văn tự, và vấn đề thời gian hình thành văn bản AB.268; 3- vấn đề văn bản Khỏa hư lục giải âm AB.367: lai lịch và hiện ừạng văn bản, vấn đề dịch giả. Chương II: Tình hình cấu trúc chữ Nôm qua vãn bản Khóa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm. Chương này đưa ra mô hình cấu trúc phân loại chữ Nôm dựa theo tiêu chí âm đọc. Gồm 13 loại chữ Nôm. Chương này đưa ra bảng thống kê tỉ lệ các loại cấu trúc chữ Nôm qua hai văn bàn. Tiến hành so sánh các loại cấu trúc qua các số liệu đã thống kê được. Nhận xét sự vận động, thay đồi cùa các loại cấu trúc. Chương III: Tiếng Việt qua văn bản Khỏa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải ấm. về ngữ âm tiếng Việt: luận văn tiến hành mô tà ngữ âm tiếng Việt cổ qua các cứ liệu chữ Nôm trong bàn giải nghĩa (gồm các tồ hợp phụ âm đầu BL, KR, KL và các xu hướng xát hóa, xu hướng hữu thanh hóa), mô tả hệ thống thủy âm tiếng Việt cận đại qua chữ Nôm trong bản giải âm. về từ vựng: luận văn tiến hành nghiên cứu khối từ vựng cồ qua hai bàn giải nghĩa và giải âm. Tiến hành phân loại các từ cổ theo nguồn gốc. Đưa ra các số liệu thống kê để thấy được sự thay đổi hệ thống từ vựng tiếng Việt qua hai giai đoạn. về ngữ pháp: luận văn tiến hành thống kê (lập bảng thống kê) về số lượng và tần số các hư từ, từ đó nhận định về sự khác biệt giữa phong cách giải nghĩa và phong cách giải âm; luận văn khảo sát các cụm danh từ chịu ảnh hưởng của văn ngôn chữ Hán để tìm sự thống nhất trong cấu trúc tiếng Việt trong hai giai đoạn; luận văn tiến hành khảo sát các câu bị động qua hai văn bản nhằm đi đến cái nhìn có tính lịch sử vê phạm trù bị động trong tiếng Việt. 3. Phần kết luận Tồng kết lại các vấn đề về cấu trúc chữ Nôm từ cái nhìn lịch đại. Vị trí của chữ Nôm trong hai văn bàn trong tiến trình lịch sử chừ Nôm. 11 Nhận thức về sự vận động ngữ âm tiếng Việt qua hai giai đoạn: xu hướng đơn tiết hóa triệt để của âm tiết, sự ồn định của hệ thống thủy âm tiếng Việt từ giai đoạn cận đại đến nay. Tổng kết các xu hướng vận động ừong từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt qua hai văn bàn. Ngoài 3 phần chính, luận văn còn có 2 phần phụ: 1. Danh mục tài liệu tham khảo 2. Phu luc: • • Phụ lục 1: Bảng đối chiếu cấu trúc phần Hán văn AB.268 và AB.367 Phụ lục 2: Bảng đính chính Hán văn bàn AB.268 Phụ lục 3: Bảng đính chính chữ Nôm văn bàn AB.268 Phụ lục 4: Bàng các đoạn bỏ dịch trong văn bàn AB.268 Phụ lục 5: Phiên âm, chú thích Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 Phụ lục 6: Bảng ừa chữ Nôm ữong Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 Phụ lục 7: Bảng tra chữ Nôm trong Khóa hư lục giải âm AB.367 Phụ lục 8: Bảng tra từ cổ trong Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 Phụ lục 9: Bàng tra từ cổ trong Khóa hư lục giải âm AB.367 Phụ lục 10: Bảng đính chính phần phiên âm bản AB.367 Phụ lục 11: Bảng đối chiếu thủy âm Việt Hán qua loại chữ Nôm đọcchệchâm (Loại C) trong Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 Phụ lục 12: Bảng đối chiếu thủy âm Việt Hán qua loại chữ Nôm đọcchệchâm (Loại C) trong Khóa hư lục giải âm AB.367 Phụ lục 13: Bảng tra hư từ trong Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 Phụ lục 14: Bảng tra hư từ trong Khóa hư lục giải âm AB.367 12 Chương I M ỘT SÓ VẤN ĐÈ VĂN BẢN HỌC CỦA KHOẢ H ư LỤC GIẢI NGHĨA VÀ KHOẢ H ư LỤC GIẢI ÂM 1. Khoá hư lục và các truyền bản Khoá hư lục1 1.1. Tác giả Khoá hư lục 1.1.1. Thuyết thử nhất: Thuyết này cho ràng Khoả hư lục là do vua Trần Nhân Tông soạn (12581308). Tiêu biểu cho thuyết này có ý kiến của Thiều Chừu Nguyễn Hữu Kha, Trần Văn Giáp [23], Nguyễn Tài cẩn...Thiều Chửu cho rằng: “Nguyên văn chữ Hán chép là của vua Trần Thái Tông soạn, nhưng căn cứ vào sử và xét đến bài Thăm cụ Huyền Quang ở Yên Tử và mấy lời đức Trần Hưng Đạo (1232- 1300) mời về thì sách này là của vua Trần Nhân Tông. Dịch giả đem ba bàn ra xét để tìm lấy sự thực thì dám cả .quyết rằng những bản chép là của vua Trần Nhân Tông là sai. [Dần theo Trần Văn Giáp, 24]. Kết luận này đã bị nhiều học già nghi vấn, bác bỏ (Trần Văn Giáp [24], Nguyễn Huệ Chi [53]). 1.1.2. Thuyết thứ hai: Đa số các học giả đều khẳng định đây là tác phẩm của Trần Thái Tông, căn cứ vào lý do sau: 1. Nội dung và văn phong của Khoá hư lục, thể hiện tư tưởng của Trần Thái Tông (so sánh với Thiển tông chỉ nam tự và Toàn thư). 2. Thư tịch cồ hiện còn có xác nhận thông tin này, ví như Thánh đăng ngữ lục được trùng san năm 1750 do nhà sư Chân Nguyên (1646- 1780); Việt sử tiêu án, Đại Việt sử kí tiền biên của Ngô Thì Sĩ (1726- 1784); Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) cho biết: Thái Tông soạn sách này sau khi nhường ngôi vào núi tu hành. Đại Việt thông sử. Nghệ văn chí của 13 Lê Quý Đôn (1726- 1784); Lịch triều hiến chưcmg loại chí. Văn tịch chí của Phan Huy Chú cũng ghi: “Khoả hư lục, 1 quyền, Trần Thái Tông soạn, ý văn là thích cành rừng núi, coi bàng lẽ sống chết, chí thú khoáng đạt, sau khi truyền ngôi, Thái Tông nghiên cứu đạo Phật mà làm” [14, 116]. Và ngay trong cuốn Đại Nam thiền ưyển kế đăng lược lục (1734) (VHv.9, tờ 5a-b) cũng khẳng định như Kế đãng lược lục. Ta biết rằng Kế đăng lược lục vốn là sách của Như Sơn (đời Lê mạt) gồm 3 quyển, được Phúc Điền tập hợp vào bộ sách của mình, cho nên mới dẫn đến sự mâu thuẫn với chính Phúc Điền viết về Nhân Tông. Bàn thân các văn bản Khoá hư lục từ trước đến nay, từ bàn in đến đến bản 3. chép tay đều ghi rõ tác giả của nó là Thái Tông. Như bản AB.268 chép: Ẳ. & í 'ặ' M iặ. ỂL ỉặ- Thái Tông hoàng đế ngự chế Khoả hư lục hoặc PẬ 3l ịÍL ố M M ẺL iẶ Trần triều Thảnh Tổ tự soạn Khoả hư lục. Chúng tôi nghiêng về thuyết thứ 2 cho rằng: vua Trần Thái Tồng là tác giả của Khoả hư lục. 1.2. Các truyền bản Khoá hư lục Bản có niên đại sớm nhất hiện còn, theo niên đại chép trong sách (mà sau đây chúng tôi chứng minh là khá tin cậy), là bàn chép tay mang kí hiệu AB.268 (tựa viết năm 1631). Các bản in trước đó chắc chắn đã thất truyền. Đây chỉ là bản chép lại của bàn in đó. Trong các thế kỉ XVIII, XIX, XX, Khoá hư lục đều được in lại. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn các bản A.1531 (in năm 1841), A.1426 (in năm 1856); bản của Tồng hội Phật giáo Bắc kì in năm 1943. Thư viện Quốc gia và một số thư viện khác cũng có các bản tương tự. 1.2.1. a. Căn cứ vào nội dung (cơ cấu) sách, Khoá hư lục có thể chia làm 2 loại: Loại thứ nhất: Gồm các bản AB.268. A.1531, A.1426, AB.367 đều gồm 3 quyển: Quyển thượng: gồm các bài Phố thuyết (trình bày tồng quát về quan niệm nhân sinh, vũ trụ và sự cần thiết phải “hư tâm kiến tính” gồm: Phổ thuyết tứ sơn, Phổ thuyết sắc thân, Phổ khuyến phát Bồ Đề tâm. Quyển trung và Quyển hạ dạy về 1 Phần này chúng tôi tiếp thu từ Nguyễn Thanh Tùng [50] 14 khoá lễ của sáu thì (sáng, tnra, chiều, tối, nửa đêm, mờ sáng), gồm các bài kệ, văn tụng niệm, cúng lễ, đầu quyển trung có bài tựa Lục thì sám hối khoa nghi. b. Loại thứ hai: có bản in A.2013 và văn bàn trùng san của Tổng hội Phật giáo Bắc kì. Sách chỉ có hai quyền thượng và hạ. Nhưng, ngoài các bài đã có ở loại thứ nhất còn có các bài khác như: Giới sát sinh vãn, Giới định tuệ luận, Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ, ngữ lục môn hạ vấn đáp. 1.2.2. Căn cứ vào chữ viết, Khoả hư lục có thể phân làm hai loại: a. Loại thứ nhất'. Loại chi có chữ Hán (không có chữ Nôm), loại này gồm các bàn A.1351, A.1426, A.2053, và bản trùng san năm 1943. b. Loại thứ hai: loại có phần giải âm, giải nghĩa bàng chữ Nôm: gồm các bàn AB.268 và AB.367 (còn có tên là Kim cương phát nguyện Khoả hư quốc âm. Bàn giải âm do Phúc Điền hoà thượng thực hiện khắc in năm 1861 và đã được học giả Đào Duy Anh phiên âm. [1975, 4]. Có thể nói, quá ữình truyền bản Khoá hư lục là quá trình bồ sung các di văn khác nhau của Trần Thái Tông, từ 1 quyển (có lẽ là quyển thượng- Nguyễn Huệ Chi) như Phan Huy Chú nhắc đến, tới 3 quyển, rồi 2 quyển lớn mà số lượng các bài theo đó không ngừng tăng lên. Khoả hư lục do đó, chắc chắn không còn nguyên dạng như ban đầu nữa. Đặc biệt, trong lịch sử, Khoá hư lục đã hai lần được giải Nôm với hai phong cách khác nhau: giải nghĩa và giải âm. 15 2. vấ n đề văn bản Khoá hư lục giải nghĩa 2.1. Lai lịch và hiện trạng văn bản Thiển tông khoá hư ngữ lục AB.268 thư viện Viện Nghiên cứu Hán N ôm .Sách chép tay, có 77 tờ gồm 154 ừang, khổ 17 X 28,5 cm, giấy dó m òng, ngà vàng, bìa cậy quét sơn (có dấu nhập của BEFEO, có lẽ là sách do BEFEO thuê chép lại từ đầu thế kỉ XX). Chữ viết theo lối khải, đôi ba chữ viết đá hành thào, nhiều tục tự và chữ viết tắt. Mỗi tờ có 6 cột chữ Hán lớn, kèm theo phần giải Nôm dịch đuổi ở phía dưới theo hình thức lưỡng cước. Sách mở đầu ghi Thiền tông khoá hư ngữ lục, dưới chú “Tào Động thiền tông”. Sách có một bài tựa, do Huệ Duyên soạn, nội dung nêu sự nhiệm màu của Phật pháp và hoàn cảnh cho in sách, tiếp đến là phần mục lục; phần chính văn song ngữ Hán- Việt (chữ Hán- chữ Nôm) như đã mô tả ở trên, cộng thêm bài thơ của Lý Ngọc Kiều, tức Diệu Nhân (1041- 1113) chép lẫn vào cuối sách cùng một bài Bạt hậu văn không rõ người soạn, bài bạt này ngoài việc nêu cảm nghĩ về Phật pháp thì không có nội dung gì thật đặc biệt. về phần giải nghĩa bằng chữ Nôm: sách Khóa hư lục giải nghĩa dịch hầu như toàn bộ nguyên tác chữ Hán, tuy có một số đoạn trong các bài bị lược bỏ (xem phụ lục IV) Việc bò dở này là do người chép, càng về sau càng bỏ nhiều. Nhiều chỗ chép sai, chép lầm, chép thừa. Có thể nói văn bản bộc lộ những nhược điểm của một bản chép tay. Nhưng, ngoài giá trị như là một “dị bàn” cổ cùa Hán văn, văn bàn còn lưu giữ được phần giải nghĩa bằng chữ Nồm duy nhất hiện còn. 2.2. Vấn để dịch giả và niên đại của bản Khoá hư lục giải nghĩa 2.2.1. V ấn đề dịch giả Sách chép: Thiền tử Thận Trai pháp hiệu Huệ Tình tự Vô Dật giải nghĩa ịụ -ĩ # ỉầ ầ #■ Ý & t# Â nghĩa là: “Phật từ chốn thiền lâm là Thận Trai, pháp hiệu Huệ Tĩnh, tự là Vô Dật giải nghĩa.” (ba lần ờ cả 3 quyển Thượng- Trung Hạ tờ 5b, 31b, 77b). Tên tuổi này chúng ta đã biết chính là Tuệ Tĩnh. Các sách Hồng nghĩa giác tư y thư, Nam dược thần hiệu, Thập tam phương gia giảm, Nguyên tiên sinh bảo y thư.. .đều cỏ ghi tên ông. Trong bài Nam dược quốc ngữ phú, tác giả 16 tự giới thiệu: “Sách này Tráng Từ còn hơi vụng, Vô Dật hoạ khi rồi, luận nam dược chép lại một phú...”. Tuy nhiên, lai lịch của Tuệ Tĩnh thế nào và việc giải nghĩa sách Khoá hư lục có phải do Tuệ Tĩnh thực hiện hay không là điều luận văn cần tìm hiểu. Các thư tịch cồ có ghi chép về nhân vật lịch sừ này. Hải Dưcmg phong vật chí A.882 năm Gia Long 10 (1812) ghi: “Thầy thuốc Tuệ Tĩnh tiên sinh, người xã Nghĩa Phú, huyện cẩm Giàng (Hải Dương) chuyên dùng thuốc Nam cứu người rất công hiệu, trứ tác có các tập Dược tỉnh chỉ nam và Thập tam phương gia giảm lưu hành ờ đời.” Bài tựa sách Hồng nghĩa giác tưy thư (in năm Vĩnh Thịnh 13- 1717): “Từng có bậc danh sư hiệu Tuệ Tĩnh, người làng Nghĩa Phú, huyện cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, ông là nhà sư hằng nghiên cứu rộng lẽ âm dương huyền bí, tìm hiểu sâu về đạo Kì, Biển tinh truyền, đã soạn Bản thảo bàng quốc âm...Sau lại đem 13 phương thuốc chữa tạp bệnh và 37 phép chữa thương hàn kinh nghiệm của ông dịch ra ca Nôm.” Lịch triều hiến chưcmg loại chí. Văn tịch chỉ ghi: “sách Nam dược thần hiệu, 6 quyển, Tuệ Tĩnh tiên sinh ở cẩm Giàng soạn.” [14, 28]. Một tấm bia cổ (văn chi) ở Hài Dương có ghi chép về Tuệ Tĩnh thì không còn nguyên vẹn (bị đục thời Minh Mệnh, bị dờ năm 1960). Các sách khoa mục hiện còn cũng không thấy ghi chép về ông. Song truyền thuyết ở địa phương vẫn cho rằng: Tuệ Tĩnh là một nhà sư đời Trần, rất giỏi y học, sau bị đem cống cho Trung Quốc, và câu chuyện về Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Quốc (tk XVII), viếng mộ Tuệ Tĩnh và đã ghi vào văn chỉ như sau: “Trần triều Tân Mão đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, hiệu Tuệ Tĩnh tiên sinh.” [Dan theo Mai Hồng, 28]. Các sách từ đầu thế kỉ trở lại đây hầu hết nhất trí với truyền thuyết trên. E.Gaspardone trong [19], Nguyễn Xuân Dương trong Đôngy tùng bảo (N°1.1939), Lê Huy Phách, Hồng Sơn trong Nhân thuật tạp chỉ (N°.4,5.1957), Ban Hán- Nôm trong Thư mục Hán Nôm (1969- 1977), Trần Văn Giáp trong Lược truyện tác gia Việt Nam (1970-1971), Đào Duy Anh trong Chữ Nôm: nguồn gốc- cấu tạo- diễn biến (1974)[1], Lê Trần Đức 1975 [17, 18], Mai Hồng (1985) [28], Trần Nghĩa (1993) [91]. Theo kết quà nghiên cứu của Lê Trần Đức và Mai Hồng,ta có chi tiết về tiểu sử Tuệ Tĩnh như sau: - Gia đình: nhà nông, cha là Nguyễn Công Vĩ, mẹ là Hoàng Thị Ngọc ở xã Nghĩa Du, huyện Dạ cẩm, phủ Hồng Châu; mô côi năm 6 tuôi. 17 - Thời đại: sống vào thời hậu Trần. - Cuộc đời: 10 tuôi được sư chùa Giao Thuý trấn Sơn Nam đưa về cho ăn học, lấy tên Tiểu Huệ, sau đi tu đặt pháp hiệu Tuệ Tĩnh. - Khoa bàng: đỗ thi hương năm 22 tuồi (1351), đỗ Hoàng giáp năm 55 tuồi (1385). - Năm 55 tuôi bị công cho Trung Quôc, được nhà Minh giữ lại ở Thái y viện, rồi mất, mộ ở Giang Nam [17, 9]. Một thuyết khác cho rằng: Tuệ Tĩnh sống vào thời Lê Trung hưng (tk XVIXVII), như Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (1972- 1988), Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận (1977). Trần VănGiáp cho ràng: Tuệ Tĩnh sống vào thời Lê Thần Tông (1732- 1735) có lẽ là Nguyễn Quốc Tĩnh (đi thi, đỗ và làm quan đến hết đời)1. Nguyễn Lang cho rằng: “Thiền sư Tuệ Tĩnh sinh vào cuối thế ki XVI...Bài tựa sách Khoá hư lục được viết năm 1631 cho nên ta biết ông sinh vào cuối thế kỉ XVI.” [34, 153]. Ý kiến này đều dựa vào bài tựa viết năm 1631 (bị viết nhầm là 1734). Nhưng, bài tựa này là do người khác-Huệ Duyên viết, năm 1631 chỉ là năm viết của bài tựa, cho nên chưa thuyết phục. Việc giải nghĩa sách Khoá hư lục khồng thấy đề cập trong các thư tịch cồ, trừ cuốn AB.268. Các sách báo từ trước năm 1960 cũng không biết đến bản sách này. Đến thập kỉ 70 của thế kỉ XX, cuốn sách này mới được Đào Duy Anh chú ý đến. Mặc dù vậy ta vẫn có thể nhận định ràng: bản giải nghĩa có thề do chính Tuệ Tĩnh thực hiện, bởi: - Tuệ Tĩnh là một người theo học Phật. Việc Tuệ Tĩnh đọc và giải nghĩa Khoá hư lục- một tác phẩm Phật học nổi tiếng là việc có thể xảy ra. 1 “Theo tục truyền Tuệ Tĩnh thiền sư tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh, đậu Thái học sinh đời Trần Dụ Tông (1341-1369). Nhưng tìm trong các sách Đăng khoa lục, không thây chép tên các Thái học sinh đời Trần Dụ Tông và cũng không thấy tên Nguyễn Bá Tĩnh P/L tà đậu Thái học sinh đời Trần. Khảo đời Lê Dụ Tông (1705-1731) thì chi thấy có tên Nguỵễn Quốc Tĩnh R, B người làng ồ n g Mặc, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc, đậu đồng Tiến sĩ khoa Vĩnh Thịnh thứ 6(1710), tức là năm thứ 6 đời Lê Dụ Tông mà không thấy có tên Nguyễn Bá Tĩnh. Vậy có thể, truyền thu vết sai từ Lê Du Tỏng sang Trần Dụ Tồng và từ Nguyễn Quốc Tịnh Sang ĩ ^ g e y ễ h h Ê á ơ ĩM iố P ^ I^ ^ mậy nỊiiên, giả thuyết này còn chưa thuyết phục. T P1JNQ T ÂM T HÕ ON G TIM IÊN • TRUNG TAM TH NG TIN TMI THƯr V VIỆN V- LS/ể>69 18 Tuệ Tĩnh đã từng diên Nôm các sách y học (Thập tam phương gia giảm, - Nam dược quốc ngữ phủ.. vì vậy không thể phủ nhận khả năng ông đã diễn nghĩa sách Khoá hư lục. ■ Những chứng tích ngôn ngữ, văn tự trong vãn bàn cho phép chúng ta tin rằng bản AB.268 là bàn chép lại từ một bán in cồ, ít ra là từ thế ki XVII. Đặc biệt quan ừọng là ngôn ngữ của Khóa hư lục giải nghĩa thuộc về tiếng Việt cổ (Tk XIIIXVI) như chúng tôi chứng minh trong chương ni cùa luận văn. 2.2.2. Vấn đề niên đạì của dịch bản 2.2.2.L Thông tin trong văn bản AB.268 là một bản chép tay, chép lại từ một bàn khắc in xưa (khoảng thêếkỷ x v n ), nhưng nay đã thất truyền. Chúng tôi cho ràng: có thể sách được chép vào đầu thế kỉ XX do BEFEO. Văn bản chỉ có một lần kị huý: chữ thì ữị được ghi bằng chữ thần Jệi trong câu: i'Si n. ® pặ Ạ. Trích nghiêm sương thuỷ giảng chi thời.lồbS. Chữ này được đặt ra ở thời Tự Đức (1847-1883). Có hai khả năng đặt ra: thứ nhất, lúc đầu, người chép có ý thức về sự kiêng huý nên viết thế, sau lại không để ý đến nữa và cứ chép nguyên theo bản chính; thứ hai, người chép chép lại từ một bản có kị huý, nhưng kị huý không triệt đề. Chúng tôi nghiêng về thuyết thứ hai. Theo lời bài tựa, một người có tên là Huệ Duyên ở Từ Quán chùa Sùng Quang, huyện Giao Thuỷ, lộ Thiên Trường, “tìm thây lời vàng quảng tại” mà sinh lòng cảm ngộ, bèn “kêu gọi mọi người, cùng xuất của nhà, sai thợ khắc in (Ệh /51 ỷ K Ệ. jff tb X. ìSi # Khuyến cập đa nhân, cộng xuất gia tư, mệnh công tầm tử). Như vậy, đã từng tồn tại một văn bản Thiền tông khoá hư ngữ lục từ trước,và Huệ Duyên là người cho đem in khắc. Cuối bài tựa có ghi niên đại: % §ĩ\ ĨỀ í t ậ- -%- 1st 1+ 4- % 0 Ạ -ỈU Lè triều Long Đức tam niên tuế thứ Tân Mùi trọng đông vọng nhật bái soạn [3a5] nghĩa là: “Kính soạn vào ngày rằm tháng trọng đông (tháng 11 âm), năm Tân Mùi, niên hiệu Long Đức thứ 3 triều Lê”. Năm ĨỀ í t Long Đức 3 là năm 1734 triều Lê Thuần Tông (1732- 1735), nhưng năm can chi là Giáp Dần. Thực ra, người chép đã chép nhầm chữ Đức Long. Năm í t i í Đức Long 3 là năm Tân Mùi, năm 1631 triều Lê Thần Tông (1629- 1634) [Trần Văn Giáp, Lê Trần Đức, Nguyễn Huệ Chi... cải chính]. Nay khẳng định lại lần nữa vì đến Di sán Hán Nôm thư mục 19 đề yếu (1993) vẫn ghi năm Long Đức (1734)[91]. Tuy nhiên, ữong bài tựa, Huệ Duyên không hề nhắc đến việc giải Nôm. Vậy thì phải chăng việc giải nghĩa đã được xem là một phần của văn bản, khồng cần phải nhắc lại nữa, và chứng tò nó xưa hơn thời điểm viết bài tựa này? Ngược lại, chúng ta cũng không loại trừ khả năng: bàn giài Nôm được viết sau, còn bài tựa được viết vào năm 1631, về sau bài tựa vẫn được giữ lại ữong các lần in và chép khác, nghĩa là Huệ Duyên không hề biết đến bản giải nghĩa này. Chúng tôi nghiêng về giả thuyết thứ nhất hơn vì chứng tích ngôn ngữ, văn tự của bàn giải nghĩa là thuộc về tiếng Việt cồ (Tk XIII- XVI), cô hơn cả Tân biên Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú của Nguyễn Thế Nghi và gần với Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa (xem chương II, chương III của luận văn này, Đào Duy Anh cũng đã chứng minh). Cũng không thể phủ nhận khả năng đây là một ngụy thư, do người khác thác tên Tuệ Tĩnh. Nhưng trong tình hình tư liệu hiện có, khả năng này sẽ khó xảy ra. 2.2.22. Tinh hình chữ Nôm trong văn bản Toàn văn bản có khoảng 12.244 lượt chữ Nôm. Theo thống kê của chúng tôi, loại chữ sẵn có (mượn nguyên hình thể chữ Hán) chiếm 76,73% độ dài văn bản, chữ tự tạo chi chiếm 23,27%. Theo các nhà nghiên cứu chữ Nôm, loại A càng nhiều thì niên đại của văn bản càng xa vì nó phản ánh sự phát triển của chữ Nôm từ già tá sang hình thanh. Chúng tôi đã lập bàng thống kê ở chương II mục 4. Bảng thống kê cho thấy: mặc dù bản Khóa hư lục giải nghĩa là vãn bản chép vào đời Nguyễn, nhưng tỉ lệ chữ Nôm sẵn có cho phép chúng tôi nhận định rằng đây là một văn bản chép lại một bản in vào thế kỉ xvn, bản in này có thể cũng đã tiếp thu từ một bàn cổ hơn nữa. Cũng tính theo tỉ lệ các loại chữ giả tá như vậy, học giả Đào Duy Anh cũng đã đi đến kết luận: “Đối chiếu tỉ lệ phép viết chữ Nôm như thế (xem chương bốn) thì thấy rằng bản Nôm này sớm hơn các bản từ Truyền kì mạn lục giải âm về sau là những sách dùng tỉ lệ chữ hình thanh nhiều hơn, và muộn hơn các bài phú Nôm đời Trần là những tài liệu dùng nhiều cách giả tả thứ nhất hơn.” [1, 37- 38]. Chúng tôi cũng chú ý đến cách viết một số chữ Nôm cổ có mặt trong bản AB.268. Các chữ cổ được xác định niên đại tuyệt đối trong các văn bản văn bia, ván in so với các văn bản mới [xem Nguyễn Tài cẩn, 10, 205-215]. Cụ thể như sau: 20 STT Âm đọc Cách viết cũ Tần số Cách viết mới Tần số 1. Một * 4 tí 2 2. Buồn & 1 3. Đêm & 16 % 4. Vẻ 2 m 5. Xưa & ìn 9 % 6. Đến _Đ 5 Ss 7. Mặt tí 11 8. Chân Ằ 6 A 9. Con £ 40 ft 10. Mũi 2 11. Thấy ■ặ: % 31 % 3 12. Ra 33 5» 36 13. Dặm V * ĨẰ 5 n. 14. Trong X 3 ¥ 15. Trồng 6 tt 16. Sa 1 iỷ 17. Trả te 1 * 18. Trái Ỗ 1 m 19. Trọn iềĩ 8 * 2 Như vậy, tình hình bản giải nghĩa này cũng giống như các văn bản của Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thỉ tập: đều là các văn bản đời sau in/ chép lại. Qua các số liệu thống kê trên, chúng ta có thề hình dung phần nào vị trí của bản giải nghĩa AB.268 trong lịch sử ngôn ngữ, văn tự. Điều này chứng minh: già thuyết bản giải nghĩa có trước thời điểm viết bài tựa của Huệ Duyên (1631) là có thể chấp nhận được. Trong 20 ví dụ chúng tôi nêu trên, có các ví dụ 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 là phản ánh cách ghi chuyền từ giả tá sang hình thanh, có ví dụ 1 phản ánh cách ghi từ giả tá c chuyển sang già B, các ví dụ 14, 15, 16, 17, 18, 19, 10 là các chữ Nôm cồ phản ánh ngữ âm tiếng Việt của thế kỉ XV- XVII. 2.2.23. Chữ Nôm phản ảnh ngữ âm tiếng Việt cỗ trong bản Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 Một số chữ Nôm trong văn bàn là những chữ Nôm phản ánh ngữ âm tiêng Việt cổ. Gồm hai loại: a.Loại chữ Nôm ghi tồ hợp phụ âm đầu; b.Loại chữ Nôm thê hiện một số phụ âm đơn của tiếng Việt cồ. 21 a. Loại chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm đầu: a. 1. Loại chừ Nôm dùng hai mã chữ để ghi tổ hợp phụ âm đầu: gồm hai trường hợp là bà cắt và la đả, xuất hiện 3 lần (cụ thể xin xem chương n, loại El) a.2. Loại chữ Nôm dùng một mã để ghi tổ hợp phụ âm đầu: a.2.1. Loại ghi đầy đủ tổ hợp phụ âm đầu: như H Klống ghi TRỐNG [67b3, 75b3, 43b6], ệg. Klước ghi TRƯỚC [7a4, 8b5, 13a4], Krang ghi SA NG [15b2, 40b3, 70a6], ÌÍK ra ghi SA [49al], ệpKro ghi s o [7a4]. a.2.2. Loại ghi không đầy đủ tồ hợp phụ âm đầu: - Loại ghi phụ âm trước trong tổ hợp phụ âm đầu: như -te Bả ghi Bỉầ (Trả) [15al], XẠ£Cơ/7gghi Kỉong (Trong) [12b3,22b4] - Loại ghi phụ âm lỏng trong tồ hợp phụ âm đầu: như Luận ghi Blọn {trọn) [12al, 25bl, 70b3, 70b4,...], s Lã ghi Tlở(Trở) [17a2, 44a5...], *ế-Lược ghi Tlước (Trước) [35b5, 42a6...]. Thực chất loại chữ Nôm này phản ánh quá trình đom tiết hóa đang diễn ra mạnh vào thế kỉ XV- x v n . Như H.Maspero [46] dự kiến các khà năng biến đồi của các tồ hợp phụ âm như BL, TL, KL, ML, PL...CÓ thể là: a. Hòa đúc thành một âm mới: TL > TR; b. Rụng yếu tố đầu, để lại yếu tố sau: TL > L; Rụng yếu tố sau để lại yếu tố đầu: TL > T...[Chuyển dẫn theo Vũ Đức Nghiêu, 37]. Trong từ điển A de Rhodes vẫn còn thấy cả ba nhóm phụ âm BL, TL, ML; trong đó, BL, TL tồn tại song song với TR (7 trường hợp BL tồn tại song song với TR, 7 trường họp BL tồn tại song song với TL. Như GS.Nguyễn Ngọc San cho biết: “Ở thế ki XVII trong tiếng Việt vẫn còn tồn tại các nhóm phụ âm đầu có L như BL, TL, ML và vào cuối thế kỉ này nó sẽ được rút gọn thành các phụ âm đơn. [44, 213]. M. Ferlus giải thích sự chuyển biến này là do sự rung âm nồ đứng trước giống như số phận cùa các tiền âm tiết. Trong Chỉ nam ngọc âm, âm đầu TR còn được ghi bằng cả hai hình thức TR và KL, ví dụ: :rk ^ :cẻ Ỳ thanh thủy là nước trong, 'í’ b. iâ /a X i\đ ế vương lên trị kỉong đời. Loại chữ Nôm thể hiện một số phụ âm đơn của tk XV - XVII. b.l. Loại chữ nôm dùng [S’] ghi [t’]: như dùng Sài ghi THAY [10b...], dùng ỉj| Suối ghi Thoái (trong Thoái lui) [50b2, 74b2], dùng Súc ghi THÚC [13b6]; 22 cũng có một số trường hợp ngược lại như dùng [t’] ghi [S’] như: dùng # Thượng ghi SẢNG [41b2, 41b2], dùng ĩtyThế ghi XẾ [40b2, 44bl] Hiện tượng này được nhiêu nhà nghiên cứu (Vương Lộc, Nguyễn Ngọc San...) khăng định là đã hoàn thành ở thê ki XVI như là hệ quả của quá trình s > t [36]. b.2. Loại chữ Nôm dùng [t] để ghi [r]: như dùng ỉề Táo ghi RÁO (Khô ráo) [35a4, 64bl], dùng Tạc ghi RẠC (rời rạc) [9a3], dùng Tốt ghi RÓT [69b3, 72b3]. Như ta biết s là tiền thân của T. Lại có sự tương ứng s > r (Mường sang Việt) Từ những chứng cứ trên, chúng tôi bước đầu nhận định rằng: bản AB.268 tuy là một bàn chép tay, nhưng nó vẫn còn giữ được những chữ Nôm ghi tiếng Việt cổ. 2.2.2.4. Từ vựng tiếng Việt cỗ Từ ngữ cô là những từ ngữ xuất hiện trong các văn bàn cồ mà ngày nay không còn được sử dụng nữa, hoặc sử dụng hết sức hạn chế, hoặc chỉ còn tồn tại trong một số vùng phương ngữ. Từ cồ là những yếu tố mờ nghĩa đối với người đọc hiện đại. Theo nguồn gốc ngôn ngữ, từ cồ trong bản Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 được phân làm ba loại: l.Các từ Việt cổ; 2. Các từ ngữ Hán văn được sừ dụng như là một yếu tố của tiếng Việt trong bán giải nghĩa; 3.Các từ ngữ văn Nôm phiên chuyển từ các từ ngữ hay thuật ngữ Hán vãn (cụ thề xin xem mục 2.1 và 2.2 chương ni). Trong đó, từ Việt cổ có ý nghĩa trong việc xác định niên đại tương đối một văn bàn Nôm. về số lượng: Từ Việt cồ có 185 đơn vị (/ 2169 đv, chiếm 8,60%), với 1.191 lần xuất hiện (/12.244 lần, chiếm 9,73 %). Tỉ lệ số lượng từ Việt cổ trong bàn giải nghĩa thấp hơn Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (25,21 %), cao hơn Đắc thú lâm tuyền (6,9%), Cư trần lạc đạo (8,32%) và Ouổc âm thi tập (8,75%). Như vậy, về mặt lượng của từ cổ, ta có thể nhận định rằng tiếng Việt trong bản giải nghĩa Khoá hư lục thuộc về giai đoạn tiếng Việt cổ (Tk XIII- XVI), bản giải nghĩa có thề được viết vào cuối thế ki XIV, trước cả Quốc âm thỉ tập (cụ thể xin xem mục 2.1 và 2.2 chương III). 23 Ve chat lượng của từ cô: chúng tôi thây Khỏa hư lục giải nghĩa còn một số từ cô thuộc lóp từ vựng của tiếng Việt thế kỉ XVI trở về trước. Để xác định được các từ cô thuộc giai đoạn này, chúng tôi tiến hành fra cứu, so sánh qua một số bộ từ điên cô như: A de Rhodes, Bỉ Nhu, Béhaine... Đồng thời so sánh với một số văn bàn Nôm sớm của giai đoạn thế kỉ XV- x v m như: Phật thuyết, Quốc âm thi tập, Hông Đức quôc âm thi tập, Chi nam ngọc âm, Tân biên truyền kì mạn lục tăng bố giải âm tập chủ. Ví dụ: từ cổ THƠ Rơ xuất hiện hai lần trong bản AB.268, cả hai lan đeu được dùng đê dịch từ y hy trong nguyên vãn chữ Hán: Thơ rơ mặt nước sang rỡ rỡ đóm nháng $ Ịễị ỉ ị Jg Jg £ & . 5 5 a 4 [nv.fc it, nghĩa là: lơ thơ mặt nước mây con đom đóm đang bay qua]; Thơ rơ mà rừng trúc rây vàng, thấp thoáng trong sân hoa mà chơi ngọc i f ỉ ị M S.62a5 [nv.#i # Ễ; ^ iậ & BU ị ị fir ễặ $ M & Ỳ # ÍÊ ^ s. ]. Chúng tôi đã lập bàng thống kê việc xuất hiện của từ THƠ Rơ và các từ tương tự của nó (các từ phái sinh cùa nó từ cuối thế kỉ XIX về sau qua các bộ từ điền cổ và hiện đại). Đồng thời có so sánh với từ Lơ THƠ, MỈA MAI, BẺ BAI đề làm bằng chứng. Sự tồn tại và diễn biến của L ơ THƠ, THƠ R ơ, MỈA MAI, BẺ BAI trong một số từ điển T ừ điền N ăm De Rhodes 1651 L ơ THƠ M IA MAI THƠ R ơ L ơ thơ, lơ xơ. ốm T hơ rơ. Cây không có lá, yếu, lử thử, lừ thừ trụi lá[223] BẺ BAI V V Mỉa mai. Bẻ bai. Chê trách [36] (?) [138, 223] P.Beshaine Taberd T h ơ rơ. Cây trụi lá. [470] 1772- L ơ thơ.Sự vật bên 1773 ngoài chi đáng chê. 2Ìống như [259] L ơ láo [ 259] [292] 1838 Miả mai. Bẻ bai. Vafer tantùm contemneuda giống như [21] [269]. Lơ láo [269] [646] L ơ thơ. res specie T h ơ rơ. [499] Huình Tịnh 1895 L ơ láo. [546, 573] Xơ rơ .T h ơ rơ. L ơ thơ. Mỉa mai. Bẻ bai. Chê bai, Paulus Của 1896 X ơ lơ xáo láo [573] (cây cối) [573, 874, 1018, giống nhau nhiều tiếng nói 1198] [452] [44] L ơ láo. Insolent, Lơ thơ. hở hửng [415], Xơ Mỉa mai. Bẻ bai [30] negligent, dégouté rơ (cỏ cây) [978],T h ơ rơ giống Mỉa mai [452] [415] [845] [452] Génibrel 1898
- Xem thêm -