Nghiên cứu bào chế pellet glyceryl Trinitrat tác dụng kéo dài

  • Số trang: 46 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 20 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

p ... ......... a BỘ YTẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI NGUYỄN THỊ MINH TÂM NGHIÊN CỨU BÀO CHÊ PELLET GLYCERYL TRINITRAT TÁC DỤNG KÉO DÀI (KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP D ư ợ c s ĩ ĐẠI HỌC 20Ố2-2007) 10Ố2-2007) Ị ' K - (0- c r : '\ (^TÌlịPnỆN;*) V-ị:-.Ị Thuốc TDKD không loại trừ ra khỏi cơ thể được ngay khi có hiện tượng ngộ độc thuốc hoặc không chịu thuốc. ❖ Chỉ có một số ít dược chất bào chế được dưới dạng TDKD. Thuốc TDKD là những dạng bào chế đòi hỏi kỹ thuật cao. 1.1.3. Một số hệ thuốc TDKD và cơ chế giải phóng dược chất [3] [6] Dược chất được giải phóng kéo dài nhờ bốn cơ chế giải phóng chính: 1. Khuếch tán: cốt trơ khuyếch tán, màng bao khuyếch tán 2. Hòa tan: hệ cốt hòa tan, màng bao hòa tan 3. Ăn mòn: hệ cốt ăn mòn 4. Thẩm thấu: hệ thẩm thấu (bơm thẩm thấu) a/ Hệ cốt ❖ Cốt hòa tan: Dược chất được phối hợp với một polyme thân nước (Alginat, gôm adragant, gôm xanthan, dẫn xuất của cellulose: NaCMC, CMC, HPMC) đóng vai trò như một cốt mang thuốc. Sau khi uống, cốt sẽ hòa tan từ từ trong đường tiêu hóa để kéo dài sự giải phóng dược chất. ❖ Cốt ăn mòn: Dược chất được phối hợp với sáp hay chất béo (alcol cetylic, alcol cetostearylic, alocol stearyl, acid stearic, acid oleic, este của các acid 3 béo, dầu hydrogen hóa, Eudragit) đóng vai trò như một cốt mang thuốc. Sau khi uống, cốt sẽ hòa tan từ từ trong đường tiêu hóa để kéo dài sự giải phóng dược chất. Sự giải phóng dược chất của hệ cốt này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố ngoại môi như: pH, enzym,... của đường tiêu hóa. • Cốt trơ khuyếch tán: Dược chất được phân tán vào một polyme không tan trong đường tiêu hóa (EC, polyvinyl clorid, methyl acrylat, methyl methacrylat), đóng vai trò như một khung mang dược chất. Sau khi uống thuốc được giải phóng ra khỏi cốt bằng cách khuếch tán từ cốt ra dịch tiêu hóa, sau đó cốt được đào thải nguyên vẹn ra ngoài. • Cốt trao đổi ion: Là một dạng của cốt trơ không tan, trong đó dược chất ion hóa được gắn với nhựa trao đổi ion. Sau khi uống, thuốc sẽ được giải phóng khỏi cốt bằng cách trao đổi với các ion có trong dịch tiêu hóa. b/ Hệ màng bao • Màng bao hòa tan: Dược chất được bao bởi một màng hòa tan chậm hoặc ăn mòn dần trong đường tiêu hóa, đóng vai trò là hàng rào làm chậm sự giải phóng dược chất ra khỏi dạng thuốc. • Màng bao khuếch tán: Dược chất được bao bởi một màng polyme không tan trong dịch tiêu hóa, đóng vai trò là hàng rào khuếch tán kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất. Thành phần màng bao gồm có: - Nguyên liệu chính tạo màng là các polyme tan ít hoặc không tan trong nước hoặc dùng hỗn hợp polyme tan và không tan trong nước như EC, EC kết hợp với HPMC, polyvinyl acetat, hỗn hợp Eudragit, các polyme này được bao dưới dạng hỗn dịch với nước hoặc dạng dung dịch với các dung môi hữu cơ như cồn cao độ, hoặc hỗn hợp isopropanol/aceton. - Các chất hóa dẻo: DEP, DBP, PEG, glycerin, propylen glycol, dầu thầu dầu, acetylat monoglycerid làm tăng tính linh động và tính đàn hồi, độ mềm dẻo của màng bao, chống nứt vỡ và tăng khả năng bám dính của màng bao 4 vào nhân bao. Các chất này còn có khả năng làm thay đổi tính thấm của màng bao dẫn đến làm thay đổi độ tan và hệ số khuyếch tán. - Các chất tạo kênh khuếch tán: là những chất tan được trong nước như PVP, CMC, NaCl, bột đường v.v Các chất này sẽ tạo thành các vi mao quản, các phân tử dược chất sẽ được khuy ếch tán qua đó. - Các chất diện hoạt: tween, natri lauryl sulfat, làm tăng tính thấm của màng. - Chất mầu: các chất mầu tự nhiên (P - caroten, carmin...), chất mầu vô cơ (titan dioxyd, oxyd sắt, talc...), chất mầu hữu cơ. Dược chất đem bao màng có thể là các tiểu phân (bột hoặc tinh thể) các hạt, pellet, viên nén. Hệ màng bao khuếch tán thường được bào chế bằng kỹ thuật vi nang hoặc kỹ thuật bao film. Dược chất giải phóng nhờ hệ màng bao khuyếch tán tuân theo định luật Fick: ^ 2 = —S(C, -Cj) dt Trong đó: e Q: Lượng dược chất khuyếch tán qua màng trong thời gian t D: Hệ số khuyếch tán dược chất qua màng e: Bề dầy màng S: Diện tích bề mặt khuyếch tán C,: Nồng độ dược chất trong màng C2: Nồng độ dược chất ngoài màng Như vậy, tốc độ giải phóng dược chất từ hệ ra môi trường phụ thuộc vào: bản chất của dược chất; bản chất của màng bao; diện tích bề mặt khuếch tán; bề dày màng bao. c/ Hệ thẩm thấu hay bơm thẩm thấu: viên chứa dược chất đượcbao bên ngoài bởimột màng bán thấm có một lỗ nhỏ. Dược chất sẽ được giải phóng qua lỗ nhỏ này nhờ sự chênh lệch áp lực thẩm thấu. 5 1.2. Pellet 1.2.1. Khái niệm [3] Pellet được xem là những hạt thuốc nhỏ có dạng hình cầu hoặc gần hình cầu, thường có đường kính từ 0,25 mm đến 1,5 mm được hình thành do quá trình liên kết của các tiểu phân dược chất với các tá dược khác nhau. 1.2.2. ưu điểm và hạn chế [3] [6] Ưu điểm: - Pellet làm tăng sinh khả dụng và tăng độ an toàn khi dùng thuốc. - Pellet dễ phân bố đều trong đường tiêu hóa, làm giảm sự dao động về tốc độ hấp thu thuốc, tránh đuợc hiện tượng dồn liều. - Thuốc TDKD ở dạng pellet, dược chất được giải phóng từ từ trong khoảng thời gian mong muốn tại vị trí hấp thu tối ưu, hạn chế được hiện tượng bùng liều do sai sót về kỹ thuật. - Pellet có độ trơn chảy tốt do đó dễ dàng đạt được độ đồng đều về khối lượng, hàm lượng dược chất ở các dạng bào chế cuối cùng. - Pellet dễ dàng bao màng để kiểm soát giải phóng, bào chế được các dược chất có tương kỵ với nhau trên cùng một nang, một viên, tiết kiệm được nguyên liệu. Hạn chế: - Quá trình sản xuất pellet đòi hỏi phải có thiết bị chuyên dùng. - Độ đồng đều của sản phẩm phụ thuộc vào độ đổng đều của pellet. - Pellet bắt buộc phải được đóng thành nang hoặc dập thành viên có kích thước thích hợp trước khi đưa đến tay người tiêu dùng. 1.2.3. Các phương pháp bào chê pellet [3] [7] [11] [15] Các phương pháp bào chế pellet thường được sử dụng là: • Phương pháp đùn - tạo cầu • Phương pháp bổi dần • Phương pháp phun sấy • Phương pháp phun đông tụ 6 Trong đó phương pháp đùn - tạo cầu là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất trong công nghiệp sản xuất thuốc nhờ ưu điểm lớn về hiệu suất và chất lượng pellet. Quá trình tạo pellet gồm 5 giai đoạn kế tiếp nhau, được mô tả theo sơ đồ sau (hình 1.2): Hình 1.2: Quy trình bào chế pellet theo phương pháp đùn - tạo cầu. Một số yếu tố ảnh hưởng quá trình tạo thành pellet: - Độ ẩm của khối bột: đây là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình đùn và vo. Quá trình đùn yêu cầu phải đủ dẻo để có thể hình thành sợi đùn nhưng nếu quá dẻo sẽ khiến bột bị dính lại với nhau trong quá trình nén ép và vo. Độ ẩm của khối bột nằm trong một khoảng nhất định tùy thuộc vào từng công thức. 7 - Thòi gian ủ: là khoảng thời gian cần thiết để phân bố dung môi cân bằng trong toàn bộ khối ẩm. Thời gian ủ dài hay ngắn tùy thuộc vào dung môi pha tá dược dính. - Tá dược tạo cầu và tỷ lệ tá dược tạo cầu: tùy thuộc vào thành phần trong công thức, yêu cầu về tốc độ giải phóng mà tỷ lệ tá dược tạo cầu khác nhau. Tá dược tạo cầu được nghiên cứu sử dụng nhiều nhất là Avicel, tỷ lệ của nó có trong công thức có thể thay đổi từ 90% đến 0%. Trong đó các loại Avicel khác nhau cũng ảnh hưởng đến khả năng đùn và tạo cầu (một số loại như: Avicel RC59®, Avicel CL611®, Avicel PH101®, Avicel PH I02®). Ngoài ra, có thể sử dụng các tá dược tạo cầu khác như: polyethylen oxyd (PEO), glyceryl monostearat thay thế Avicel trong nhiều trường hợp không sử dụng được Avicel do tương kỵ với dược chất - Nhiệt sinh ra trong quá trình nhào trộn, đùn, và vo: quá trình tiến hành các công đoạn này đều sinh ra ma sát làm sinh ra nhiệt. Nhiệt này có thể ảnh hưởng đến dược chất (đối với dược chất không bền với nhiệt), độ ẩm của khối bột (do sự bay hơi của pha lỏng: nước, cồn...), chất lượng đùn (sợi đùn sẽ không được đồng đều trong cùng một lô, mẻ). Có thể khắc phục bằng cách sử dụng thêm tá dược trơn hoặc sử dụng thiết bị có lớp vỏ bọc có thể làm nguội. - Nhiệt dùng trong quá trình sấy pellet: nhiệt ở giai đoạn sấy có thể ảnh hưởng đến kích thước, độ nhám bề mặt, độ xốp của pellet. Khi sấy ở nhiệt độ khác nhau cho thấy nhiệt độ sấy pellet cao thì pellet bị co lại nhiều hơn ở nhiệt độ thấp. - Tốc độ đùn: ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của quá trình tạo pellet, và chất lượng pellet. Nếu tốc độ đùn quá cao khiến cho sợi đùn có bề mặt thô ráp, khả năng kết dính của các tiểu phân yếu, kết quả sinh ra nhiều bột mịn trong quá trình tạo cầu, các pellet tạo ra có kích thước rất khác nhau. - Tốc độ tạo cầu: ảnh hưởng đến kích thước, độ cứng, tỷ trọng, cấu trúc bề mặt của pellet. Khi tốc độ tạo cầu tăng thì số lượng các tiểu phân lớn sẽ tăng và số lượng các tiểu phân mịn sẽ giảm. 8 - Thời gian tạo cầu: thời gian tạo cầu càng dài thì pellet càng chắc, kích thước đồng nhất hơn, tỷ trọng lớn hơn và có hình dạng cầu hoàn chỉnh hơn. Nhưng thời gian này cũng không được quá lâu vì có thể sinh ra nhiều bột trong quá trình vo. 1.3. Glyceryl trinitrat [5] [8] [17] [19] 1.3.1. Công thức hóa học Côns thức cấu tao: H -C -O -N O , ĩ . I H Ỏ -O -N O , ĩ _ _ h 2ố - o - n o 2 Công thức phân tử: C3H5N30 9 Khối lượng phân tử: 227,09 Tên khoa học: 1, 2, 3 - propanetriol trinitrat. 1.3.2. Tính chất lý hóa Dạng nguyên chất ở nhiệt độ thường là một chất ở thể lỏng dầu không màu hoặc có mầu vàng nhạt, vị hơi ngọt, phát nổ nhanh khi bị làm nóng hoặc va chạm mạnh, bắt đầu bị phân hủy ở nhiệt độ 50 - 60°c, bay hơi đáng kể ở 100°c, tách nitro dạng hơi vàng ở 135°c, nổ ở 218°c. Khối lượng riêng: 1,60 g/cm3 Độ tan: glyceryl trinitrat không tan trong nước, nhưng tan được trong aceton, ether, benzen, cloroform. Trước đây GTN được bảo quản trong cồn cao độ nhưng vẫn không tránh khỏi va chạm gây cháy nổ, sự phân hủy thuốc, sự bay hơi nên GTN được bảo quản trong lactose, dextrose, manitol với nồng độ thường từ 1% đến 20% [19] 1.3.3. Dược động học Glyceryl trinitrat ít có hiệu lực khi uống do bị phân hủy ở dạ dày và bị giáng hóa mạnh khi qua gan. Khi ngậm dưới lưỡi, thuốc được hấp thu nhanh 9 chóng và hoàn toàn, các chuyển hóa của thuốc trong huyết tương và trong hồng cầu không nhiều nên cho phép thuốc vào được trong các tế bào cơ trơn thành mạch và làm giãn mạch. Thuốc bắt đầu có trong huyết tương sau 30 giây, đạt mức tối đa sau 2 phút, thời gian bán hủy huyết tương là 3 - 4 phút. Như vậy, tác dụng của glyceryl trinitrat ngắn, bắt đầu sau 0,5 - 2 phút, kéo dài 30 phút. Chất chuyển hóa glyceryl dinitrat có tác dụng giãn mạch kém hơn 10 lần chất mẹ. 1.3.4. Tác dụng dược lý - Glyceryl trinitrat là một nitrat hữu cơ, có tác dụng điều chỉnh mất cân bằng giữa lượng máu và oxy đến tim bằng cách giãn động mạch và tĩnh mạch. Giãn tĩnh mạch làm cho ứ đọng máu ở ngoại vi và trong các phủ tạng, giảm lượng máu về tim (giảm tiền gánh) kết quả là làm giảm áp lực trong các buồng tim. Giãn nhẹ các tiểu động mạch làm giảm sức cản thành mạch mà tim phải bơm đến (giảm hậu gánh). Vì vậy tim sẽ làm việc ít hơn và nhu cầu về máu và oxy của tim giảm. Glyceryl trinitrat là một thuốc giãn mạch điều trị đau thắt ngực, suy tim. - Liều cao làm giảm huyết áp, nhất là huyết áp tâm thu. - Các nitrat còn có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu. 1.3.5. Chỉ định - Phòng và điều trị cơn đau thắt ngực, - Điều trị suy tim sung huyết (phối hợp với các thuốc khác), - Gần đây còn được chỉ định trong nhồi máu cơ tim. 1.3.6. Liều dùng Điều trị cắt cơn đau thắt ngực: - Viên nén tác dụng nhanh: 0,5 mg ; 0,75 mg. Đặt viên dưới lưỡi, cứ sau 5 phút lại ngậm một viên cho đến hết cơn đau, tối đa không quá 3 lần. - Dạng khí dung xịt dưới lưỡi: mỗi lần xịt 0,4 mg, xịt 1 - 2 lần. 10 Phòng cơn đau thắt ngực: - Thuốc giải phóng chậm: 2,5; 6,5 mg; 2 viên/ngày, uống sau bữa ăn 1- 2h. - Miếng dán ở da ngực trái 5 - 1 0 mg. - Thuốc mỡ 2% bôi ở da vùng ngực, đùi hoặc lưng. Điều trị suy tim sung huyết (được dùng phối hợp với các thuốc khác): - Phù phổi cấp tính: dùng viên ngậm dưới lưỡi hoặc thuốc xịt tác dụng nhanh. - Suy tim mạn tính: dùng thuốc giải phóng chậm liều 2,5 - 6,5 mg, 2 viên/ngày. 1.3.7. Tác dụng không mong muốn - Giãn mạch ngoại vi làm da bừng đỏ nhất là ở ngực và mặt. - Giãn các mạch trong mắt gây tăng tiết dịch và làm tăng nhãn áp. - Giãn các mạch trong não có thể gây tăng áp lực nội sọ và làm đau đầu. - Hạ huyết áp thế đứng. - Có thể nổi ban, viêm da tróc vẩy, rối loạn tiêu hóa. - Nồng độ cao trong máu có thể gây Met-Hb huyết. 1.3.8. Chống chỉ định - Huyết áp thấp, trụy tim mạch. - Tăng áp lực nội sọ do chấn thương đầu hoặc xuất huyết não. - Nhồi máu cơ tim thất phải. - Hẹp van động mạch chủ, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn. - Viêm màng ngoài tim co thắt. - Dị ứng với các nitrat hữu cơ. - Glocom góc đóng. 1.3.9. Thận trọng - Khi dùng thuốc phải tăng liều từ từ để tránh nguy cơ hạ huyết áp thế đứng và đau đầu. - Khi dùng liều cao không nên dừng thuốc đột ngột. 11 - Thận trọng khi dùng cho bệnh nhân sưy gan, suy thận nặng, cường tuyến giáp, suy dinh dưỡng. Phải bỏ miếng thuốc dán trước khi đánh sốc điện tim. 1.3.10. Tương tác thuốc Dùng đồng thời glyceryl trinitrat với các thuốc điều trị cao huyết áp, các thuốc chống trầm cảm, quinidin, procainamid, các benzodiazepin có thể gây hạ huyết áp quá mức. Thận trọng khi dùng glyceryl trintrat cho những người uống rượu. Các alcaloid cựu loã mạch có thể đối kháng tác dụng giãn mạch của glyceryl trinitrat và có thể gây cơn đau thắt ngực. 1.3.11. Một số thuận lợi khi dùng glyceryl trinitrat TDKD đường uống Các dạng kéo dài của GTN kéo dài gồm có: Dạng thuốc uống kéo dài, dạng viên ngậm kéo dài, dạng thuốc mỡ, dạng thuốc dán ngoài da. Đối với dạng thuốc uống, GTN hấp thu tốt qua dịch tiêu hóa, nhưng do trước đây người ta cho rằng GTN bị chuyển hóa qua gan làm mất tác dụng của thuốc nên ít được sử dụng ở dạng này mà chủ yếu là dạng ngậm dưới lưỡi, miếng dán qua da. Nhưng những nghiên cứu sau này đã chứng minh được rằng vẫn có một lượng thuốc sau khi qua gan vào được huyết tương và gây ra tác dụng mong muốn nếu uống với liều nhất định. Các nghiên cứu về GTN tác dụng kéo dài khi dùng cho đường uống cho thấy nó có các tác dụng dược lý như [20]: - Giảm tỷ lệ xuất hiện các cơn đau thắt ngực, làm kéo dài khoảng thời gian xuất hiện giữa các cơn đau. - Giảm áp lực làm đầy thất trái, huyết áp tĩnh mạch trung tâm và luôn giữ duy trì ở mức thấp hơn đường cơ sở, nhưng lại không làm thay đổi các chỉ số khác của tim, huyết áp, tốc độ tim ngay cả trong khi hoạt động hay nghỉ ngơi. - Giảm các triệu chứng của suy tim xung huyết. 12 1.3.12. Một sô dạng bào chế, và biệt dược của glyceryl trinatrat DẠNG THUOC Viên nén TDKD đường uống Viên nang TDKD đường uống CHE PHAM - Aldonine - Nitromint - Lenitral - Nitro Mack Retard - Nitrosan - Venitrate - Domitral - Nitrostad Retard Miếng dán qua - Transderm - nitro da - Nitroderm TTS - Nitro - dur Thuốc mỡ Thuốc tiêm Dạng xịt dưới lưỡi Viên ngậm dưới lưỡi HÀM LƯỢNG GTN 2,6 mg 2,6 mg HÃNG SẢN XUẤT SPM (VN) Egis (Hungary) 2.5 mg 2.5 mg 2.5 mg 10 mg 2.5 mg 2.5 mg 5 mg; 10mg/24h 5 mg; 10mg/24h 40 mg; 60mg Tedis (Pháp) Zuellig S.R.S. (Ấn Độ) DP TW 1 (VN) Domesco (VN) M.S.T. (VN) Novartis (Mỹ) Novartis (Mỹ) Schering - Plough (Mỹ) Mỹ Tedis (Pháp) Tedis (Pháp) Horizonpharm (Mỹ) Mỹ - Nitrol - Lenitral percutané - Lenitral Inj - Nitrolingual 2% 2% 3 mg; 15mg 0,4 mg/lần phun - Nitroglerine 0,5 mg 1.3.13. Một số nghiên cứu về bào chế glyceryl trinitrat TDKD dạng uống Trong các nghiên cứu về khả năng kéo dài giải phóng của HPMC, Schor, Joseph M.; Nigalaye, Ashok; Gaylord, Norman G. [21] đã tiến hành với nhiều dược chất trong đó có dược chất GTN. Với công thức viên gồm có GTN trong lactose, tá dược trơn stearic acid, Cab - o - Sil, Syloid và tá dược kéo dài giải phóng HPMC (dạng Methocel K4M) tỷ lệ 24% và 11%. Tiến hành đánh giá tốc độ giải phóng thu đuợc kết quả: với tỷ lệ 11%, viên kéo dài được 5h ( giải phóng 85%) nhưng khi tăng tỷ lệ HPMC lên 24% thì viên kéo dài được đến 8h. HPMC có thể kiểm soát được sự giải phóng của GTN. 13 Trong công thức viên nén Aldonine TDKD của công ty SPM. Với việc sử dụng Colloidial silic (hỗn hợp gồm có 80 phần vinyl acetat; 19 phần PVP; 0,8 phần natri laurylsulíat và 0,2 phần colloidal Silicon) phối hợp với PVPK30, PEG 6000 bằng phương pháp xát hạt ướt đã tạo ra viên nén GTN tác dụng kéo dài, giúp duy trì sự giải phóng của GTN được 8 giờ. Tá dược carbopol có khả năng trương phồng trong nước tạo gel, được dùng để kiểm soát giải phóng cho nhiều dược chất. Trong nghiên cứu của Trịnh Thị Linh [8] đã cho kết quả: sử dụng carbopol làm kéo dài khả năng giải phóng của GTN tuy nhiên chỉ kéo dài được khoảng 60 phút. Nhưng khi kết hợp với PVP - K30 làm kéo dài thời gian giải phóng của GTN lên đến 4 giờ. Thay PVP - K30 bằng PVP - K90, thời gian giải phóng của GTN kéo dài tới 8 giờ. Tốc độ giải phóng của GTN có thể được kéo dài bằng hỗn hợp Carbopol và PVP - K90. Với mục đích kéo dài hơn nữa sự giải phóng của GTN không chỉ dừng lại ở 8h mà tới 24h (bệnh nhân chỉ cần dùng một lần trong ngày) trong khi đó lại không gây ra sự dung nạp của thuốc, Paradissis, George N.; Garegnani, James A.; Whaley, Roy s. [19] đã sử dụng phương pháp bao nhiều lớp để kiểm soát sự giải phóng của dược chất. GTN trong lactose được trộn với Si02 và được phủ lên trên bề mặt hạt đường nhờ chất dính PVP/ isopropanol và sau đó làm cho bay hơi dung môi. Lớp bao tiếp theo được phủ một lớp bột talc lên các hạt này nhờ chất dính PVP/isopropanol, tiến hành làm bay hơi dung môi ở nhiệt độ 80°c. Lớp thứ 3 của màng kiểm soát, được bao tiếp bằng hỗn dịch EC và bột sorbitol trong dung môi hữu cơ thích hợp. Đánh giá tốc độ hòa tan trong môi trường pH = 4,5 kết quả sau 12h mới có 20% dược chất giải phóng và tới 24h đạt 71% giải phóng. Trong một nghiên cứu GTN giải phóng kéo dài dùng đường uống, Keith, Alec D.[16] sử dụng hệ màng bao khuyếch tán để bao viên GTN, giúp kéo dài sự giải phóng dược chất được 12 giờ. Polyme được sử dụng để tạo ra hàng 14 rào trương nở kiểm soát giải phóng là hỗn hợp gồm polyvinyl alcohol và PEG.Viên được sử dụng để bao ở đây thành phần gồm có: GTN nồng độ 10% trong lactose; magnesi stearat; sucrose và methocel. Khối lượng màng bao chiếm khoảng 7,4% khối lượng viên. Trong nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thích hợp nhất của polyvinyl alcohol/ PEG là 9:1. Với tỷ lệ mày thì sự ăn mòn của lớp hàng rào trương nở là ít nhất, giúp không làm mất đi cấu trúc ban đầu của viên, đạt sự kiểm soát giải phóng dược chất được tốt. 15
- Xem thêm -