Nghĩa trong tác phẩm lục vân tiên

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 32 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

Luận văn tốt nghiệp A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trước tình hình thực tế hiện nay, hai vấn đề được xã hội quan tâm nhiều nhất đó là: giữ gìn những nét đẹp văn hoá truyền thống và cung cách ứng xử của con người trong xã hội ngày nay không còn những chuẩn mực, khuôn phép như những thế hệ cha ông ta trước kia. Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng đề cập rất nhiều về vấn đề này. Một phần là để chúng ta nhìn nhận lại quá khứ; phần khác là để tự mỗi người nhìn nhận lại chính mình để có được những cách ứng xử thông minh, khôn khéo phù hợp với thời đại, mà vẫn giữ được những nét văn hóa ứng xử mà cha ông ta có được từ các thế hệ trước. Đó là cái nghĩa cái tình trong các mối quan hệ giao tiếp giờ đây không còn thật thà như trước kia nữa. Chính từ những vấn đề trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Nghĩa trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” làm đề tài nghiên cứu. Đây không phải là một đề tài mới nhưng cái hay vẫn còn ẩn chứa bên trong và một phần nữa là giúp tôi có cơ hội tìm hiểu kỹ hơn về tác phẩm Lục Vân Tiên. Trước hết gì đây là đề tài mang tính thời sự luôn được sự quan tâm chú ý của nhiều người, chính vì thế mà khi thực hiện đề tài có được một tính thiết thực và nhận được sự ủng hộ từ nhiều phía giúp thêm phần động lực cho quá trình tôi thực hiện công việc này. Ngoài ra vì đây là đề tài sát với vấn đề ngoài thực tế cuộc sống, vì cho dù thời đại có tiến bộ đến mấy đi chăng nữa thì nhu cầu giao tiếp là không thể thiếu được. Đồng thời qua việc thực hiện đề tài giúp tôi nhìn nhận lại chính mình về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, hơn nữa qua đây giúp tôi có thêm những kiến thức nhiều hơn về tác phẩm. Cuối cùng là tôi nhận thấy được đề tài có ý nghĩa cho việc phục vụ cho cuộc sống tinh thần của con người trong thời hiện đại, quá khứ sẽ tác động lại bản thân mỗi chúng ta và có được những nét đối xử với nhau phù hợp với đạo lí mà truyền thống ngàn xưa có được. Vì qua việc đánh giá nhân cách mỗi cá nhân là cơ sở để hình thành và quyết định một xã hội. Từ việc thực hiện công việc trên, tôi mong rằng khi thực hiện xong đề tài sẽ góp một phần nhỏ công sức của mìmh vào tiếng nói chung của xã hội; tiếng nói của quá khứ CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 1 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp sẽ sống trở lại những con người hiện tại để có được những mối quan hệ giao tiếp ngày càng tốt đẹp hơn, góp phần vào việc phát triển xã hội ngày càng sống chan hòa hơn trong tình thương mến. 2. Lịch sử vấn đề Việc đánh giá nhân cách một cá nhân là điều rất khó, không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá nhân cách bên trong của họ ta chỉ đánh giá được người khi ta tiếp xúc nhiều với họ và có những ý kiến đánh giá khách quan từ bên ngoài, đồng thời cũng qua thời gian thử thách ta mới biết được bản chất bên trong họ như thế nào, điều mà tôi muốn nói đến ở đây chính từ việc quan sát tiếp xúc nhiều như Đức Khổng Tử, ông đã có những kết luận cho mình xem đâu là tiểu nhân đâu là quân tử. Đức Khổng nói rằng: “Quân tử tinh tường việc nghĩa; tiểu nhân tinh tường việc lợi” [1;78]. Chính từ việc quan sát nhiều từ thực tế cuộc sống giúp cho Đức Khổng Tử có được những cách đánh giá tinh tế, sâu sắc có giá trị muôn đời. Bên cạnh Tử Khổng nói về tính cách của người quân tử, Ngài còn có những thuyết luận cụ thể hơn về người quân tử, quân tử thấy việc chính nghĩa là làm không suy nghĩ đắn đo, hết lòng vì người khác không suy tính thiệt hơn cho bản thân. Trong quyển Nho giáo và đạo đức của Vũ Khiêu biên soạn Đức Khổng có nói rằng “nhân là để yêu người khác, nghĩa là để chính mình, cho nên lấy nhân mà nói là nói người, lấy nghĩa mà nói là nói ta. Phép tắc của nhân là yêu người, phép tắc của nghĩa là chính mình. Nhân tạo người, nghĩa tạo ta”.[9;47] Chính từ việc quan niệm của Đức Khổng cho nên hình thành ở Ngài một tính cách cương trực, ngay thẳn hết lòng vì việc nghĩa, một phần tính cách ấy sau này cũng dần dần được hình thành ở những thế hệ sau như Mạnh Tử cũng có được tấm lòng của bậc quân tử. Cũng ở quyển Nho gíao và đạo đức Vũ Khiêu biên soạn, Mạnh Tử nói rằng: “sống thì ta vẫn ham, nghĩa thì ta vẫn mộ. Nếu chẳng được luôn hai việc ấy một lúc, ta đành bỏ mạng sống mà giữ lấy nghĩa” [9;48]. Trong cuộc đời mạng sống là vốn rất quí nhưng bên cạnh đó cá nhân ấy phải được xã hội chấp nhận yêu mến, mọi người có được niềm tin vào mình ấy mới là cuộc sống có ý nghĩa, và cũng chính từ việc ấy con người coi trọng nhân cách đặt uy tín lên hàng đầu, nên hành động lúc nào cũng suy nghĩ vì người khác, để có một nhân cách hết lòng vì chính nghĩa phải qua thời gian rèn luyện, phải qua thời gian thử CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 2 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp thách trước khó khăn, gian khổ vượt qua hết những khó khăn trở ngại đó là điều rất khó, có như vậy mới hình thành nên một nhân cách tốt được.Thực tế cuộc sống là vậy những gì mà mình trải qua khó khăn vất vả luôn là điều ta trân trọng và giữ gìn nhất. Những tính cách hết lòng vì nghĩa ấy không chỉ tìm thấy ở xã hội Trung Quốc, mà trong quá trình giao lưu trao đổi văn hóa với nhau có ảnh hưởng đến tính cách con người Việt Nam, mà cụ thể là các nhà văn, nhà thơ trong giai đoạn văn học trung đại bị ảnh hưởng rất nhiều từ tư tưởng ấy có những tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu… Vì thời gian và điều kiện không cho phép tôi chỉ giới thiệu một tác giả gần gũi với con người Nam Bộ là Nguyễn Đình chiểu mà ở những phần nội dung sau tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về tư tưởng nhân nghĩa của cụ Đồ Chiểu. Trong quyển Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 1), Nhà xuất bản Hà Nội năm 1997 có những nhận định về tính cách của Nguyễn Đình chiểu thể hiện qua tác phẩm Lục Vân Tiên: “Tác phẩm Lục Vân Tiên đáp ứng được tinh thần dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác của người nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người Việt Nam chúng ta” [18;35]. “Những con người tốt bụng trong Lục Vân Tiên kế tục những truyền thống cao quí về tư tưởng nhân nghĩa, đó là con người trong sạch, bình thường, làm việc nghĩa như một nhu cầu không hề nghĩ đến lợi danh, ơn huệ” [18;35]. Cũng từ quyển sách này tác phẩm Lục Vân Tiên có một giá trị mạnh mẽ đối với chính cuộc sống của mỗi chúng ta, tác động đến việc hình thành và phát triển nhân cách tốt đẹp góp phần làm cho cuộc sống ngày thêm hoàn thiện hơn: “Lục Vân Tiên có tác dụng giáo dục mạnh mẽ. Ở một mức độ khía cạnh nhất định, con ngừơi lục tỉnh nhất là tầng lớp thanh niên, lấy Vân Tiên làm nhân vật lí tưởng, ước mơ làm một vân Tiên trong cuộc đời, coi mối tình Vân Tiên – Nguyệt Nga là tuyệt đẹp, coi tình bạn giữa Vân Tiên, Hớn Minh và Tử Trực là cao quí” [18;36]. Chẳng những tác phẩm chỉ dừng lại ở việc nêu cao tính giáo dục mà còn được nâng lên ở tầm cao hơn đó là đạo lí của dân tộc được Nguyễn Đình Chiểu giử gắm qua tác phẩm, những phẩm chất tốt xấu, chính nghĩa phi nghĩa đã được nhà thơ nói qua rất rõ. Quyển Nguyễn Đình Chiểu, tác giả trong nhà trường, có bài viết của Đặng Thai Mai “Tuy vậy cái đạo lí Nguyễn Đình Chiểu nêu lên trong Lục Vân Tiên vẫn có tính chất CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 3 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp chính nghĩa tính nhân đạo sâu sắc và do đó phù hợp với đạo lí, truyền thống đạo đức của nhân dân thừa nhận. Lục Vân Tiên phản ánh cuộc giao tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa chính nghĩa với phi nghĩa và khẳng định dứt khoát rằng: Cái thiện cái chính nghĩa dù có trải qua bao muôn vàn khó khăn, thì rồi cuối cùng nhất định thắng lợi, và cái ác, cái phi nghĩa cuối cùng tất yếu sẽ thất bại và bị trừng phạt.”[23;8] Chính từ ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu lúc nào cũng thể hiện rõ tư tưởng của một người trung quân ái quốc hình thành nên tính cách của ông là một người cương trực có tinh thần lạc quan yêu đời, luôn vượt qua mọi hoàn cảnh vươn lên trong cuộc sống và ngày càng tỏ sáng tấm lòng của ông với nhân dân đất nước. Công trình nghiên cứu của Vũ Khiêu – Nguyễn Đức Sự “Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của tri thức Việt Nam” đã nghiên cứu về những tri thức của truyền thống Việt Nam, sự ảnh hưởng của Nho giáo, việc vận dụng Nho giáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và thái độ của Nguyễn Đình Chiểu trước nạn ngoại xâm, khái quát tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu và trong thơ văn của ông tác giả viết: “…Trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu luôn tỏa sáng tinh thần lạc quan, lòng yêu quí nhân dân, niềm tin sâu sắc ở thắng lợi chính nghĩa, ở tài năng đạo đức con người” [11;35]. Bài viết của Nguyễn Phong Nam “Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học” đã nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu về phương diện đề tài, chủ đề, ngôn ngữ trong các truyện thơ Nôm, một trong những cống hiến của Nguyễn Đình Chiểu cho nền văn học dân tộc. Tác giả bài viết có đề cập đến giọng điệu của Nguyễn Đình Chiểu đầy đủ tư tưởng đạo lí răn dạy, có tính chất giáo huấn rất cao: “Tác phẩm của ông không phải là tiêu nhàn mà là răn đời, để hướng đạo cho mọi người. Cái mục đích này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lời văn trong tác phẩm của ông. Truyện Nôm của Nguyễn Đình Chiểu là những bài giảng giải trình bày, bàn luận về đạo lí, đạo đức cho một đối tượng giả định, một công chúng đang hướng về, đang quan tâm đến vấn đề thiết cốt với tất cả mọi người. Bởi thế ngay từ câu mở đầu tác phẩm giọng điệu giáo huấn đã được cất lên công khai”[17;112 – 113]. Như vây công trình phần nào đề cập đến tính cách thái độ của Nguyễn Đình Chiểu với cái đạo lí, nhân nghĩa mà trong chính bản thân ông luôn tỏa sáng. Tác phẩm của Đồ Chiểu có tính chất giáo huấn rất cao chẳng những thể hiện ở tính cách mà trong giọng điệu của Nguyễn Đình Chiểu cũng bộc lộ được tư tưởng đạo lí của dân CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 4 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp tộc. Qua đây ta có thể nói tuy Nguyễn Đình Chiểu không nhìn thấy cuộc đời bằng nhãn quan trực tiếp của mình, mà ông cảm nhận đời bằng cả trái tim và tấm lòng chính nghĩa. 3. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu chính của tôi trong khi thực hiện đề tài này là: muốn tìm hiểu chữ nghĩa thể hiện như thế nào trong tác phẩm Lục Vân Tiên và đồng thời giúp chính bản thân tôi nắm lại tác phẩm rõ hơn, để phục vụ cho nhu cầu học tập ở hiện tại, cũng như góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công việc nghiên cứu sau này. 4. Phạm vi nghiên cứu Do tính chất đặc thù của đề tài nên tôi chỉ nghiên cứu trên phạm vi sách vở, chính vì thế tôi chọn quyển Nguyễn Đình Chiểu, “Cổ văn việt nam, Đồ Chiểu, Lục Vân Tiên sách giáo khoa Tân Việt” sửa theo đúng bản của cụ Trương Vĩnh Ký phát hành năm 1889 có phần chú thích để làm tài liệu để nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Theo số liệu thống kê cho đến hiện nay truyện Lục Vân Tiên có rất nhiều văn bản khác nhau, nhưng có một số bản dịch ở miền Bắc, nội dung có phần xa lạ với cách tiếp cận của tôi, nên tôi quyết định chọn văn bản trên. Vì theo tôi đây là văn bản tôi có thể cảm nhận được dễ dàng và gần gũi với tôi hơn nên tôi quyết định chọn văn bản này làm tư liệu nghiên cứu trực tiếp. Và bên cạnh đó tôi còn tham khảo thêm một số sách vở, các bài nghiên cứu phê bình khác để công việc được tiến hành thuận lợi hơn, tôi tìm thêm nguồn tư liệu trên mạng những bài viết có liên quan đến đề tài để tham khảo thêm và bổ sung kiến thức cho đề tài. Đó chính là phạm vi nghiên cứu của tôi khi thực hiện công việc này. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài này là sử dụng những ngữ liệu học và ngôn ngữ học. Bên cạnh đó tôi tìm những nguồn tài liệu sách báo có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích vấn đề đồng thời có sự so sánh đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề, sau đó rút ra kết luận khái quát nhất phù hợp với nội dung đề tài. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 5 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ TÁC PHẨM LỤC VÂN TIÊN 1.1. Khái niệm chữ nghĩa 1.1.1. Theo quan niệm các nhà Nho - Theo quan niệm Thiều Chửu, nghĩa 義: sự phải chăng, lẽ phải chăng, nên. Định liệu sự vật hợp với lẽ phải gọi là nghĩa, nghĩa làm việc không có ý riêng vì mình là vì nghĩa. - Theo quan niệm của Khổng Tử, nghĩa là điều nên làm thì làm, điều không nên làm thì đừng làm: “皆 有 所 不 為, 達 諸 其 所 為, 義 也.” Nhân giai hữu sở bất vi, đạt chư kỳ sở vi, nghĩa dã. (Người ta ai cũng biết có điều không nên làm, đem điều ấy mà thực hành ở điều mình làm, thế là nghĩa.) Nhưng thế nào là điều nên làm và điều không nên làm thì ông không giảng kỹ. Ông chỉ bảo lòng tu ố ( xấu hổ, ghét) là đầu mối của nghĩa, tức như ta thấy điều gì mà ta ghét, ta xấu hổ thì điều đó là phi nghĩa. Mà như vậy chỉ có lương tâm và lương tri là phân biệt được nghĩa với phi nghĩa và sự tu dưỡng cần nhất là khuếch sung lương tâm và lương tri [7; tr.455]. Trong các mối quan hệ giao tiếp nghĩa là cách cư xử cho thích hợp, “nghĩa mà tôn trọng bậc hiền là lớn, lòng thương cha mẹ bà con đậm hay nhạt tùy nơi kẻ gần người xa; sự tôn trọng bậc hiền nhiều hay ít tùy nơi kẻ cao người thấp do đó mà sinh ra lễ vậy”. [17; tr.53] Những mối quan hệ trong Tam Cương và Ngũ Luân. Theo Nho giáo đó là điều hợp với đạo trời và lòng người, thể hiện tình cảm sâu sắc của con người đối với vua, với cha, với chồng qua những đức tính trung, hiếu, tiết, nghĩa. nghĩa có quan hệ mật thiết với nhân. Nếu nhân hiện hết tình cảm của con người thì nghĩa là trách nhiệm để thực hiện hết tình cảm đó cho nên tình vua tôi, cha con, vợ chồng chưa đủ mà còn có nghĩa vụ nữa: CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 6 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp Nghĩa vua tôi, nghĩa cha con, nghĩa vợ chồng chính vì thế Nho giáo nhấn mạnh vai trò của nghĩa “見 義 不為, 無 勇 也.” kiến nghĩa bất vi vô dũng dã (Luận ngữ) (thấy nghĩa mà không làm, không phải là dũng cảm) Từ những quan niệm trên ta thấy được vai trò và trách nhiệm của một cá nhân muốn thực hiện được điều nghĩa, việc làm phải hợp với đạo trời và đạo người; không nghĩ đến lợi ích cá nhân khi thực hiện công việc đó. Khổng Tử đưa ra khi thực hiện một điều nghĩa điều trước tiên là không ngại khó ngại khổ phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên quyền lợi cá nhân. Nếu như một cá nhân sống trong tập thể cộng đồng việc mình là phục vụ cho lợi ích cộng đồng thì cũng một phần nào có chính bản thân mình trong tập thể to lớn ấy. Đặt trong mối quan hệ tương giao nghĩa chỉ phục vụ cho lợi ích cộng đồng nhưng đồng thời qua đó cũng tác động trở lại chính cuộc sống cá nhân trong cộng đồng đó. “Nhân là để yêu người khác, nghĩa là để chính mình, cho nên lấy nhân mà nói là nói người, lấy nghĩa mà nói là nói ta. Phép tắc của nhân là yêu người; phép tắc của nghĩa là chính mình. Nhân tạo người, nghĩa tạo ta”.[17; tr.47] Quan niệm của Khổng Tử đưa ra để chứng minh cho lí lẽ sống, nhân là đối đãi với nhau bằng tình thương ái, giúp đỡ người khác bằng động cơ từ tình thương yêu của những con người đồng loại nhằm đem lại cuộc sống cho người khác sung túc hơn. Khi thực hiện việc nghĩa tấm lòng phải đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ phải làm không thể làm ngơ coi đó là niềm vui của chính bản thân mình, không cầu mong ở người khác sự đền ơn trở lại đó mới chính là việc làm chính nghĩa. Còn nghĩa trong gia đình phải theo nề nếp phải kính trọng cha mẹ, thương yêu anh em, trong quan hệ vợ chồng phải bền chặt cái tình có thể mất nhưng cái nghĩa là sâu đậm không dễ gì có thể quên được. 1.1.2. Tầm quan trọng của nghĩa trong việc đánh giá con người theo quan niệm Nho gia 1.1.2.1. Theo quan niệm Nho giáo Trung Quốc về nghĩa CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 7 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp Trước tiên phải nói đến những chuẩn mực đạo đức mà Khổng Tử nêu ra đối với người quân tử “người quân tử phải lấy lòng thành thực trung hậu mà đối với người, song phải biết sự thực, sự giả, đừng để cho ai lừa đảo được mình” Khổng Tử nói:“bất nghịnh trá, bất ức, bất tín, ức diệt tiên giả, thị hiền hồ”. [7; tr.365] Để trở thành một người quân tử Khổng Tử quan niệm phải có đủ tài đức, tài để phục vụ cho dân cho nước, cho những công việc chính nghĩa, đức phục vụ cho việc thiện đáng làm thì người quân tử dù có chết vẫn phải làm, những việc ấy điều xuất phát từ tấm lòng thành thực, chân chính không hổ thẹn với lương tâm người quân tử. Trong các tiêu chuẩn mà người quân tử phải đạt tới là phải tu thân rèn luyện trước bản thân mình có được những phẩm chất ấy thì mới nghĩa đến chuyện giúp đời, làm điều thiện thực hiện chính nghĩa. Tư cách của một quân tử phải thật chững chạc có như thế mới nói được người khác, để làm được những điều có ích cho xã tắc giang sơn, người quân tử phải là người có ý chí, tinh thần nghị lực cao, không ngại khó ngại khổ mà giúp đời đạt đạo. Trong những chuẩn mực đạo đức mà Đức Khổng đánh giá đối với một người anh hùng không chấp nhặt những điều nhỏ, không mong đem lợi cho mình. “Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân” quân tử cầu ở mỉnh, tiểu nhân cầu ở người. (Luận Ngữ: Vệ Linh Công). Cầu ở mình mà chỉ cầu cái thực cho mình, cầu ở người là chỉ cầu cái hư danh đối với người. Cầu ở mình thì cái đức ngày càng tiến lên, cầu ở người thì cái lòng ham muốn ngày càng buông xổng ra.[7; tr.117] Ở đây chỉ có thể thấy rằng phải dựa vào năng lực của chính bản thân mình, không dựa giẫm hay ỷ lại vào người khác; đối với mọi người xung quanh quân tử phải giữ vững lập trường không dao động dù bất cứ chuyện gì khi ấy tính cách của mới thật kiên quyết và giúp ích cho đời. Đối với một tính cách được rèn luyện chững chạt thì việc phân biệt chính nghĩa phi nghĩa là điều dễ dàng, lúc ấy người quân tử thực hiện việc chính nghĩa giữ vững chính nghĩa, không cố chấp điều tín nhỏ nhặt “quân tử nhi bất lượng”[7; tr.121] Trong những hoàn cảnh khi cái lợi được nhìn thấy ở trước mắt thì người quân tử phải xem đó như vật phù du, không tham lam mà có hại cho danh dự, đối với bậc quân tử danh dự mới là điều quan trọng tiền bạc chỉ là những vật trang sức bên ngoài nó có thể giúp mình mà cũng có thể hại mình, cho nên điều mà người quân tử nên giữ là thái độ kiên quyết trước việc lợi. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 8 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp Bên cạnh đó người quân tử còn phải có tinh thần lạc quan không bi quan trước cuộc sống, vì con đường để đến với danh dự phải gặp rất nhiều khó khăn thử thách “giữ vững tư cách khi gặp hoạn nạn”. Trong khó khăn phải tìm cách vượt qua, một khi ý chí quyết tâm thì không việc gì có thể làm khó được ta và đối với người quân tử phải giữ được năm đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Khi ấy thì quân tử mới thực sự được mọi người kính trọng về tài đức. Chẳng những thế trong những nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày người quân tử cũng phải đi vào khuôn phép nề nếp, những việc mà mọi người thường coi là tầm thường không để ý đến nhưng nó cũng một phần nào qui định tính cách của người quân tử. “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn vu sự vi thận vu ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vĩ hiếu học dã dĩ”. [22; tr.456] năm điều ấy đã được Khổng Tử phân tích: “Thực vô cầu bão”đối với người quân tử việc ăn uống không theo đuổi cao lương mĩ vị, thực phẩm quí hiếm, chỉ cần ăn hết bữa là đủ. Ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Bậc quân tử phải đạt được những tiêu chuẩn mà chính bản thân mình đưa ra, phải thực hiện nó một cách nghiêm túc, phải sống hợp với đạo lí lẽ đời, đồng thời qua việc ăn uống hàng ngày cũng phải đưa ra những qui định riêng cho mình. “Ăn uống không được ăn quá no, tiết kiệm thích đáng lương thực thực phẩm, mới có thể bảo vệ được sức khỏe, không đeo đuổi quá cao vào việc ăn uống, những con người như vậy thường không có chí khí không có tiền đồ”. “Cư vô cầu an”đây muốn nói con người ta không nên lúc nào cũng chỉ chú ý đến những điều kiện ở, chỉ mong được thư thái an nhàn sẽ không có chí khí chiến đấu, có nghèo mới đẻ ra chí khí, an nhàn đẻ ra thư sinh yếu đuối. Đây là tư tưởng nhất quán của Nho gia. “Mẫn vu sự” người quân tử làm việc phải mẫn cảm nhanh nhẹn. Cuộc sống đời người có hạn, thế sự vô cùng. Phải tranh thủ thời gian mà làm việc cho đời, làm việc có ích cho dân cho nước. “Thận vu ngôn” trong xã hội mọi người điều phải tiếp xúc lẫn nhau, đi lại với nhau. Lời nói là công cụ trực tiếp thể hiện tư duy con người, là công cụ giao lưu tư tưởng, diễn đạt tình cảm. Một lời nói hay làm ấm lòng người. Lời nói có thể dẫn đến mọi người hợp tác đoàn kết cùng chung sức phấn đấu. Nhưng cũng có thể làm tan đàn xẻ nghé, tan CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 9 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp tác phân li, ai sống mặc ai không quan tâm đến. Cũng có thể gây nên thù địch lẫn nhau, tương tàn tương sát. Môt lời nói có thể xây dựng nên đất nước. Do đó có thể biết giao lưu ngôn ngữ giữa mọi người với nhau cần có thái độ thận trọng trong lời nói. Sa chân với lại sa miệng với không lại. “Tựu hữu đạo chi chính” chính ở đây là hiệu chính, sữa đổi, sữa chữa sai lầm của mình. Chỉnh hướng đi đúng đạo, để dần dần đắc đạo trở thành người cao thượng, người có đạo đức người quân tử. Chẳng những vậy người quân tử phải có hành vi ngôn ngữ ngay thẳng thật thà cũng là một trong những tiêu chuẩn mà người quân tử cần phải có. Thận trọng trong lời nói mau nắm trong việc làm, phải xét nét chính đáng điều nhân nghĩa. Đồng thời qua công việc gia đình người quân tử cũng phải tuân theo hai việc mà Tăng Tử đưa ra như sau: “Thận chung, truy viễn”. Thận chung: thận là cẩn thận, chung là lâm chung chỉ việc tang lễ phải cẩn thận chu đáo trong việc tổ chức tang lễ cho cha mẹ. Truy viễn: truy là truy tìm, viễn là xa xôi. Truy tìm xa xôi có nghĩa là truy tìm cái gốc, tìm cội nguồn, có ý chỉ việc cúng tế tổ tiên thành tâm thành ý. Kỉ niệm người chết để cho người sống thấy. Quân tử là người lãnh đạo được hai việc này thì dân qui hậu hĩ, dân sẽ noi gương người quân tử, từ đó tác phong phong tục của nhân dân nhất định sẽ được nâng cao theo hướng tốt đẹp. Mặt bằng xã hội được nâng cao lại thúc đẩy sự tu dưỡng đạo đức của mỗi thành viên như vậy làm cho đạo đức của xã hội ngày càng hoàn thiện. 1.1.2.2. Nghĩa trong quan niệm Nho giáo ở Việt Nam Nho giáo Trung Quốc đưa ra những quan niệm trong việc đánh giá người quân tử, khi đến với quan niệm của các nhà văn, nhà thơ trung đại Việt Nam, không đề ra những tiêu chuẩn cụ thể, nhưng trên cơ sở quan niệm của người Trung Quốc mà vận dụng với người quân tử của dân tộc mình. Những con người phải hết lòng vì nước vì dân, không ngại khó gian truân vất vả và hình tượng người quân tử Việt Nam được ví như sức chịu đựng dẻo dai của cây tùng, bách, trúc…Chịu bất cứ rét mướt khó khăn gian khổ, dù có chịu bất cứ khắc nghiệt nhưng vẫn hiên ngang cùng sông núi. Và trong bài thơ Tùng của Nguyễn Trãi đã được một số nhà phê bình viết về hình tượng người quân tử qua biểu CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 10 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp tượng cây tùng, trong bài viết của Lê Trí Viễn, quyển “đến với thơ Nguyễn Trãi” Nhà xuất bản Thanh Niên mượn hình ảnh cây tùng làm biểu tượng. Mượn sự vật ẩn dụ thông thường trong thơ xưa. Mượn tùng, trúc, mai để biểu hiện khí tiết của người trượng phu lại càng là nét cố hữu đã thành công thức. Khi mở đầu bài thơ Nguyễn Trãi đã nói lên được sức chịu đựng dẻo dai của một loại cây, mặc dù có gió rét sương băng, những loài cây khác trơ cành trụi lá, mà tùng vẫn cứ tiếp tục xanh tươi bất chấp giá rét của tháng ba mùa đông. Đồng thời qua đây tác giả đã thể hiện tính cách của người quân tử luôn hiên ngang hứng chịu hết những khó khăn, gian khổ mà cuộc đời mang lại, nhưng trong lòng vẫn bừng cháy ngọn lửa quyết tâm. Cuộc sống là phải chấp nhận hi sinh, có đối mặt với khó khăn mới thấy cuộc sống đáng quí. Đối với một người quân tử không có khó khăn nào làm họ ngã lòng, càng khó khăn luôn giữ vững quyết tâm hơn nữa “lửa thử vàng gian nan thử sức”, đó là một câu nói mang tư tưởng triết lí, khi đã là vàng thật thì không sợ lửa, có sống trong khó khăn gian khổ mới thấy được sức mạnh tinh thần của con người. Và trong bài thơ Tùng cũng thế hình ảnh những cành cây xung quanh trơ cành, nhưng tùng vẫn hiên ngang ưỡn tấm ngực mạnh mẽ của mình ra chịu giá rét mùa đông, không hề ngã gục cốt cách thanh cao của cây tùng đồng thời cũng là khí tiết của người quân tử luôn hiên ngang cùng năm tháng. “Thu đến cây nào chẳng lạ lùng Một mình lạc thở ba đông”. (Tùng – Nguyễn Trãi) Nếu như khi mở đầu bài thơ Nguyễn Trãi giới thiệu hình ảnh mạnh mẽ của cây tùng, thì đến khi kết thúc bài thơ tác giả lại một lần nữa khẳng định sức mạnh chóng chọi với thiên nhiên của một sinh vật bình thường nhưng phi thường. “Tuyết sương đã thấy đặng nhiều ngày, Có thuốc trường sinh càng khỏe tha. Hổ phách phục linh nhìn mới biết Dành cho để trợ dân cày”. (Tùng – Nguyễn Trãi) Càng trải nhiều sương tuyết thì càng có khả năng sinh sản được những sinh vật quí báu.Thuốc trường sinh của Nguyễn Trãi là cái chất của tâm hồn: lý tưởng sống để phục CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 11 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp vụ, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Lý tưởng ấy nuôi cái vui trường cửu, cái an nhiên tự tại trong tâm hồn, nên ở con người ấy không bao giờ có sự đau buồn đến ngã lòng cũng như trong tâm hồn người quân tử không bao giờ tắt lịm ánh sáng. Trong cuộc sống đem lại niềm vui cho mình cần phải có tinh thần lạc quan, luôn nhìn nhận vấn đề một cách bình tĩnh, có như vậy cuộc sống mới đẹp và có ý nghĩa. Đối với người quân tử những điều ấy thật sự rất cần thiết, luôn đặt nhiệm vụ phục vụ nhân dân đất nước lên hàng đầu lúc nào cũng thực hiện công việc vì chính nghĩa. Chẳng những hình tượng người quân tử chỉ được nhắc đến ở những tác phẩm của Nguyễn Trãi, mà trong tác phẩm Truyện kiều của Nguyễn Du hình tượng người quân tử được khắc họa rõ nét hơn qua tính cách nhân vật Từ Hải, có tính cách ngoại hình, dáng dấp bên ngoài là một người quân tử đầu đội trời chân đạp đất. Người quân tử có sức mạnh phi thường, đại diện cho những cá tính gan dạ dám mạnh dạng đứng lên chống lại triều đình Phong kiến, hình ảnh Từ Hải đại diện cho việc đi tìm công lí chính nghĩa, hành động và lời nói luôn thể hiện một cách dứt khoác, đặc biệt sức mạnh của Từ Hải tiêu biểu cho người anh hùng mà các tác giả trong giai đoạn văn học trung đại muốn xây dựng người quân tử mẩu mực ấy. Trong các sáng tác của tác giả trung đại không thể không nhắc đến người quân tử trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Vân Tiên một anh hùng lúc nào cũng hành động vì chính nghĩa, quyết diệt trừ cái ác, ở Vân Tiên còn có một tinh thần lạc quan trong lúc khó khăn hoạn nạn ý chí sống vẫn kiên cường, lúc nào cũng tin tưởng ở tương lai, những vất vả khó khăn không làm ý chí của người quân tử ấy khuất phục, luôn nhìn vào tương lai để phấn đấu quyết tâm đem lại niềm vui cho cuộc đời những tính cách ấy đại diện cho những người quân tử mẫu mực, xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ. 1.2. Chức năng và ý nghĩa trong thực tiễn 1.2.1. Chức năng của nghĩa Chức năng giáo huấn: Nho giáo đặt vấn đề tinh thần cao hơn, quan trọng hơn trong đời sống vật chất nhưng trước hết phải có cơm ăn cái đã “dân dĩ thự vi thiên”. Nhân dân phải được no ấm đó là vì lòng nhân ái đối với con người nhưng cũng vì lợi ích của các tầng lớp trên nữa, vì dân đói thì dân không thể nuôi được những người cai trị họ mà CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 12 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp có thể nổi dậy mà chống lại những người này. Cho nên khuyên nhân dân nên “an bần lạc đạo” (nghèo mà không oán), cứ lẳng lặng chịu đựng làm ăn. Hơn thế nữa nghĩa còn có tính chất khuyên răn những bậc bề trên của mình mọi người phải tôn trọng nhà vua vì vua là người đặt ra pháp luật, có quyền cho dân sống, bắt dân chết cũng có thể làm cho người ta giàu, làm cho người ta nghèo, có thể làm cho người ta sang, làm cho người ta hèn. Nếu không tôn quân thì nước không được yên, thân cũng không được yên.Còn đối với vua lại phải yêu dân có yêu dân thì dân mới phục tùng và vua mới mạnh “muốn tranh thủ thiên hạ thì trước hết phải tranh thủ tâm”.[15; tr.235] Như vậy, yêu dân không phải vì dân, mà chính là vì vua, yêu vua không xuất phát từ quan điểm đạo đức mà chỉ là một thủ đoạn bảo vệ ngôi vua và giữ gìn pháp luật mà thôi. Còn trong quan niệm giáo huấn tính cách của người quân tử Khổng Tử nói rằng nghĩa là theo điều thiện thì phải ghi nhớ để nuôi cái đức của mình, rồi mới hay được, chứ chỉ nghe cho biết rồi nói ra miệng mà không chịu cố gắng thực hành điều thiện, thì càng học lắm càng dỡ nhiều. Người đã học đến biết thực tiễn những điều thiện là bao giờ cũng phải thành thực, không giả dối ô mị như bọn ngụy nho. Người quân tử phải có cái đạo lí định khiến của mình, không mị ô theo thói đời. Chức năng động viên khích lệ: đối với một bậc quân tử khi đã được mọi người coi trọng và kính nể thì người xem đó là một tấm gương mẫu mực cần noi theo, mong muốn mình cũng giúp ích được một phần nào đó cho xã hội, qua đó ta thấy được sức ảnh hưởng của một nhân cách tốt góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển hơn và trong cuộc sống một phần nào cũng động viên tinh thần người quân tử thực hiện điều nghĩa thúc đẩy sự tiến bộ của xã hôi ngày càng phát triển hơn nữa. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay để việc nghĩa luôn là một nguồn động viên khích lệ tinh thần của mỗi người trong cuộc sống, thì chính bản thân tự mỗi người phải có ý thức coi nó là trách nhiệm phải có chứ không được xem đây là gánh nặng mà có thái độ không đúng. Chính từ những suy nghĩ và hành động trên phần nào đó nghĩa có khả năng động viên tinh thần của mỗi người trong cuộc sống, xem đó là niềm vui chung của cả cộng đồng, hành động ấy sẽ đem lại niềm vui cho chính bản thân mình và ý chí cầu tiến ngày càng thôi thúc hơn trong lòng của mỗi chúng ta. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 13 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp 1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn Trong gia đình: Xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình. “Cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là gia đạo chính”. (phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính). Trong ba mối quan hệ (cha con, vợ chồng, anh em) làm nên cái gọi là “gia đạo chính” ấy, thì quan hệ cha con anh em tiêu biểu bằng chữ Hiếu và chữ Đễ, đã được Nho giáo tôn lên rất cao, đặt vào mối quan hệ đặc biệt quan trọng trở thành cốt lõi. Trong mối quan hệ của nghĩa có cả hiếu và lễ chính từ hai yếu tố trên sinh ra nghĩa, người con có hiếu có ý thức đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với cha mẹ. Đó là sự biết ơn, cù lao chín chữ, “cha sinh ta, mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ” (ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao). Đó là ý thường xuyên làm sao cha mẹ luôn luôn vui sướng, dù mình có ăn phải gạo xấu uống nước lã cũng thỏa lòng. Đó là sự giữ mình không làm điều gì phiền lụy đến cha mẹ, cụ thể hơn, “chỗ chí hiếu của người con, không gì lớn bằng làm cho cha mẹ được tôn trọng chí cực, không gì bằng đem cả thiên hạ mà phụng dưỡng cha mẹ”. Làm cho cha mẹ được tôn trọng là bậc hiếu cao nhất, không làm cha mẹ nhục là bậc hiếu thứ hai, có thể nuôi cha mẹ là bậc hiếu cuối cùng. Cho nên việc phụng dưỡng kính trọng cha mẹ trong hiếu sau này sinh ra cái nghĩa, cũng chính từ việc nhỏ ban đầu lòng hiếu thảo và sự tôn kính cha mẹ sinh ra cái nghĩa sâu nặng trong mối quan hệ cha mẹ, con cái những việc ấy làm nên đạo lí của những con người hết lòng vì việc nghĩa. Trong quan hệ vợ chồng nghĩa còn giáo dục người phụ nữ đi vào khuôn phép, biết tự kiềm chế, tước bỏ mọi ham muốn cá nhân, chịu thuần dưỡng để vâng lời để nhường nhịn, để kiên nhẫn chịu đựng và hi sinh. Cô con gái trước khi về nhà chồng đã được mẹ dặn: con về nhà con, thì nên kính nhừơng, giữ mình cho khéo, đừng trái ý chồng. Từ những việc dạy bảo của Nho giáo người phụ nữ trong xã hội ngày xưa luôn lúc nào cũng thực hiện theo qui tắc Tam tòng tứ đức, nhưng trong xã hội ngày nay ý nghĩa ấy có phần thoáng hơn người phụ nữ không còn chịu những qui định khắc khe của xã hội qui định, nhưng một phần nào đó hình thành ở tính cách người phụ nữ sống nặng về cái nghĩa với chồng con hơn, cho dù chịu những bất công nhưng người phụ nữ luôn nghĩ đến cái nghĩa vợ chồng bao năm chung sống, cho nên vẫn thường hay nói trong mối quan hệ vợ chồng tuy hết tình nhưng cái nghĩa nặng hơn, không thể nào nói một sớm một chiều mà có thể CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 14 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp có được cái nghĩa ấy. Bên cạnh đó nghĩa trong Nho giáo còn đặt mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, một dòng họ phải thương yêu đùm bộc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn danh dự và phát huy truyền thống của gia đình, của dòng họ. Ngoài xã hội: nghĩa là thể hiện thực hiện kỳ được tinh thần trách nhiệm những việc cần phải làm để phục vụ cho nhân dân và tổ quốc làm thế nào để động viên nhân dân, tổ quốc biến thành hiệu quả. Thực tế ngoài xã hội thiết lập mối quan hệ ứng xử trong giao tiếp, tinh thần thái độ trước việc chính nghĩa luôn hết lòng quan tâm giúp đỡ người khác bằng cả tinh thần và trách nhiệm của bản thân mình. 1.3. Tác phẩm Lục Vân Tiên 1.3.1. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và sự nghiệp sáng tác  Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1 – 7 – 1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương Phủ Tân Bình, Gia Định. Tự là Mạnh Trạch hiệu là Trọng Phủ và sau bị mù hiệu là Hối Trai, Nguyễn Đình Chiểu mất ngày 3 – 7 – 1888 tại Ba Tri, Bến Tre. Nguyễn Đình Chiểu là con cụ Nguyễn Đình Huy và bà Trương Thị Thiệt; cụ quê gốc làng Phong Điền tỉnh Thừa Thiên khi tả Lê Văn Duyệt vào trấn Gia Định, cụ theo vào làm việc và cưới thêm người vợ là bà Trương Thị Thiệt. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những ngày gia biến và quốc biến hải hùng tác động đến nhận thức ông. Ngay từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc. Từ một cậu ấm con quan, bỗng chốc trở thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn, trả thù, chém giết. Lớn lên bị bệnh mù mắt, bị gia đình giàu có bội ước, công danh dang dở. Mặc dù cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều bất hạnh nhưng lúc nào cũng gắn bó với nhân dân. Tuy sống trong cảnh mù lòa nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã tiến thân thành danh bằng con đường hành đạo của mình. Ông đã mở lớp dạy học, viết văn và hốt thuốc chữa bệnh cho dân lúc nào ông cũng quan tâm lo lắng cho chiến sự. Ở dâu ông cũng làm cùng một nhiệm vụ của ba người trí thức để cứu dân, giúp đời. Nguyễn Đình Chiểu có nhiều nghị lực và phẩm chất, phải có nghị lực phi thường và khí phách cứng cỏi thì Nguyễn Đình Chiểu mới vượt qua những bất hạnh của cá nhân và thời cuộc để đứng vững trước cơn binh lửa hải hùng của lịch sử mà không sờn lòng CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 15 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp nản chí. Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu là hiện thân cho phẩm chất cao đẹp làm người. Trong ứng xử cá nhân, Đồ Chiểu là tấm gương sáng về đạo nghĩa nhân từ. Tất cả cô lại thành khí tiết của nhà nho yêu nước Việt Nam tiêu biểu cho giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.  Sự nghiệp sáng tác Văn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu. Sự nghiệp của ông còn lớn hơn nhiều. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầy thuốc và một nhà tư tưởng. Nhưng văn chương của ông cũng đồ sộ đủ đứng thành sự nghiệp riêng. Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hấu hết các tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm. Căn cứ vào nội dung chia ra thành hai thời kì sáng tác: Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay có tính chất tự truyện Pháp Xâm lược Nam Kỳ: tác phẩm Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp chủ yếu nói về phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn đầy tinh thần yêu nước. Các bài thơ Đường luật, các bài hịch, văn tế… tiêu biểu là Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (1861), Văn Tế Nghĩa Sĩ Trận Vong Lục Tỉnh (1874), Hịch Kêu Gọi Nghĩa Binh Đánh Tây, Hịch Đánh Chuột. Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Đình Chiểu trở thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuột ông nhưng ông vẫn một mực từ chối ân tứ. Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ mù Nam Bộ là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Tấm gương Nguyễn Đình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào. 1.3.2. Xuất xứ tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn trong nền văn học dân tộc, cũng là một tác phẩm mà văn bản có một lịch sử sáng tác và phổ biến khá độc đáo và phức tạp. Theo ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, tập truyện có thể được sáng tác vào những năm 1850 trở đi, lúc Nguyễn Đình Chiểu đã bị bệnh mù và đã về Bình Vi (Gia Định) mở trường dạy học năm 1851. Như vậy hiển nhiên là tập truyện chỉ được hình thành trong trí nhớ và tác giả đã đọc cho học trò thân cận của mình giúp việc chép lại. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 16 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp 1.3.3. Tóm tắt tác phẩm Lục Vân Tiên là một thiếu niên tuổi vừa mười sáu, quê ở quận Đông Thành. Chàng theo thầy học tập giỏi nghề văn nghiệp mà võ cũng hay. Nghe tin vua mở khoa thi cầu hiền tài ra giúp nước, chàng tạ từ thầy và cha mẹ lên kinh dự thi. Trên đường chàng gặp cướp quấy rối dân lành, chàng đánh tan bọn cướp và cứu được nàng Kiều Nguyệt Nga. Tình đầu tiên của tuổi trong trắng chớm nở. Hai người họa thơ cho nhau rồi mỗi người đi một đường. Nguyệt Nga ân và tình vương vấn, họa bức tượng người yêu, để hôm sớm ra vào thấy trang hiệp sĩ. Trên đường đi thi Vân Tiên gặp Hớn Minh và Tử Trực kết bạn tri âm và cũng gặp Bùi Kiệm, Trịnh Hâm. Khi vào đến trường thi Vân Tiên được tin mẹ qua đời, vì đau buồn và đường về nhà xa Vân Tiên thương nhớ, khóc mẹ đến mù hai mắt. Tiểu Đồng hết lòng chạy chữa nhưng vẫn không khỏi. Trịnh Hâm gạt Tiểu Đồng cột vào rừng và đẩy Vân Tiên xuống sông cho cá ăn. Nhưng Vân Tiên được ông Ngư cứu sống, khi tỉnh dậy bảo ông Ngư đưa về nhà Võ Công, vì gia đình trước kia có hôn ước giữa Vân Tiên và Thể Loan, nhưng đến nhà bị gia đình Võ Công hắc hủi, âm mưu đem Vân Tiên bỏ vào hang đá để chết đói. Vân Tiên lại được du thần cứu ra khỏi hang, gặp được Hớn Minh đem về chùa, đêm nằm mơ thấy ông tiên cho uống linh đan sáng mắt. Tử Trực khi đậu thủ khoa về ghé nhà Võ Công hỏi và biết được cha con Võ Công lòng người tráo trở, mắng nhiếc cha con Võ Công thậm tệ và về Đông Thành tìm Vân Tiên. Khi Lục ông sang nhà Kiều Công cho hay tin Vân Tiên bị nạn không biết còn sống hay đã chết, Nguyệt Nga đau đớn vô cùng va thề ôm bức tượng thờ Vân Tiên chọn đời. Thái sư cầu thân không được, tâu vua xin cống Nguyệt Nga cho nước Ô Qua, trên đường đi nàng nhảy xuống sông tự vẫn, được phật Quan Âm cứu đưa vào vườn nhà Bùi Công, bị Bùi Kiệm ve vãn, nàng chốn khỏi nhà Bùi Công gặp bà lão đem về nuôi dưỡng. Vân Tiên được sáng mắt thi đổ trạng nguyên, dẹp tan giặc Ô Qua được phong danh tước, trên đường về lạc vào rừng gặp lại Nguyệt Nga và hai người sống bên nhau hạnh phúc, còn những kẻ ăn ở hai lòng thì bị chừng phạt. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 17 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp 1.3.4. Giá trị tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên ở Nam Bộ, trong đó thông qua những mối quan hệ tích cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lí tưởng như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu Đồng… là những người lao động giàu nhân nghĩa như vợ chồng ông Ngư, ông Tiều… Nguyễn Đình Chiểu muốn nhấn mạnh cuộc sống tương thân, tương ái với nhau trên cơ sở nhân nghĩa. Trên cơ sở đó tác phẩm để lại giá trị to lớn về mặt tinh thần cho các thế hệ mai sau, những điều răn dạy các mối quan hệ giao tiếp trong gia đình, cũng như ngoài xã hội. Có một giá trị rất thiết thực đối với chính bản thân của mỗi người là những bài học răn dạy về cách ứng xử đối với con người, đồng thời nâng cao tinh thần truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc ta. Quan trọng hơn hết tác phẩm còn có một đóng góp to lớn làm phong phú thêm kho tàng văn chương Việt Nam. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 18 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2: CHỮ NGHĨA TRONG TÁC PHẨM LỤC VÂN TIÊN 2.1. Những bậc quân tử mẫu mực trọng nghĩa khinh tài 2.1.1. Trong quan hệ bằng hữu 2.1.1.1.Vân Tiên chàng thanh niên nghĩa hiệp Với Nguyễn Đình Chiểu nghĩa là căn cốt gốc rễ để trao giồi rèn dũa con người. Vì vậy vào đầu tác phẩm ở đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nhà thơ hào hứng giới thiệu hai con người trẻ tuổi, biết hướng theo lòng nhân, biết hành động theo việc nghĩa. Đó là Lục Vân Tiên chàng trai dũng cảm, có lòng nhân sẵn sàng làm việc nghĩa. Vân Tiên vốn con nhà thường dân, nhưng học giỏi giữa đường gặp cướp. Không phải chúng gây sự với chàng, mà chúng quấy nhiễu nhân dân. Trước mắt chàng bày ra một nghịch cảnh: dân thì than khóc tưng bừng, đều đem nhau chạy vào rừng lên non”, bọn cướp thì: “ xuống thôn hương thấy con gái tốt qua đường bắt đi”. Thế là sau một lời hứa ngắn gọn “tôi xin ra sức anh hào…”, Lục Vân Tiên nhanh nhẹn “ghé lại bên đàng, bẻ cây làm gậy”, xông thẳng vào giữa bọn cướp. Bọn cướp đông đặc. Tên tướng cướp “mặt đỏ bừng bừng”. Lực lượng quá chênh lệch. Bên kia là lũ lâu la như ong, như kiến, bên này chỉ độc nhất một chàng trai dũng cảm với lời hứa chân thành “cứu người ra khỏi lao đao buổi này”, với vũ khí giản dị “cây gậy bên đàng”. Vậy mà không một chút nao núng: Vân Tiên tả đột hữu xông, 雲仙左突右衝 Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương dang. 恪芾兆仔破妄當延 Nguyễn Đình Chiểu không tả tỉ mĩ trận giao chiến mà chỉ kể ngắn gọn bằng mấy dòng thơ, một câu so sánh với nhiều từ đặc sắc “Tả đột hữu xông, khác nào Triệu Tử”. Đúng là một dũng tướng, sánh với Triệu Tử Long thời Tam quốc trong trận phá vây quân Tào Tháo ở Đương Dương trường bản. Ngày xưa Triệu Tử Long chiến đấu vì ngôi vua nhà Hán, Vì bảo vệ một A Đẩu, dù sao cũng là nghĩa vụ của một bầy tôi trung thành. Còn ngày nay Lục Vân Tiên chiến đấu vì người dân gặp nạn, cứu dân, trừ ác xuất phát từ lòng nhân. Giản dị, vô tư mà trong sáng, cao đẹp biết bao. Cuộc chiến đấu của chàng làm ta CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 19 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT Luận văn tốt nghiệp liên tưởng đến cuộc chiến đấu của chàng Thạch Sanh, diệt đại bàng cứu nàng công chúa. Sức mạnh của Lục Vân Tiên là sức mạnh của nhân dân, điều thiện. Do đó nó vô địch Lâu la bốn phía vỡ tan, 婁 卥 夝 費 攟 散 Điều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay. 調 挄 劍 教 尋 塘 獹 桰 Phong Lai trở chẳng lập tay, 風來阻庄立拪 Bị Tiên một gậy thác rày thân vong… 被仙沒嶹 託 身亡 Lời thơ chân chất có chổ thô mộc, song hồn thơ chan chứa, dạt dào. Đọc Lục Vân Tiên ta thấy những câu chữ chân mộc như thế. Thơ chân mộc nhưng cảm hứng tác giả vẫn bay bổng, mộng mơ. Ngỡ như người thi sĩ ấy vừa kể chuyện, vừa rung đùi thích thú, gửi tới bạn đọc một lẽ phải nhỡn tiền, người có lòng nhân biết làm việc thiện thì sẽ thắng. Kẻ độc ác bất nhân thảm họa như thế đấy, xuất phát từ lòng nhân, Lục Vân Tiên đã làm được một việc “nghĩa”, một việc xứng đáng được gọi là anh hùng. Chàng tự nguyện dấng thân vào vòng nguy hiểm, chiến đấu hết mình thắng lợi rực rở… tất cả đều vì nhân nghĩa, nên khi thắng lợi Vân Tiên không chút kiêu ngạo. Trái lại, chàng thật khiên nhường, chính trực. Nghe cô hầu Kim Liên than thở vẩn còn hoảng sợ, Vân Tiên động lòng thương, an ủi: “Ta đã trừ dòng lâu la”. Rồi ôn tồn chàng thăm hỏi ngọn ngành từ tên họ, gia cảnh, đến quê hương, nguyên cớ gặp nạn của cô gái. Trong lời chàng còn có ý lạc hậu ảnh hưởng của quan niệm phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân”, song tất cả điều chân thành, dung dị, rất đáng mến. Đáng mến đáng phục hơn nữa là sau khi nghe cô tiểu thư Kiều Nguyệt Nga, nạn nhân được cứu giúp kể lễ, thở than, ca ngợi và tha thiết muốn tri ân, thì: Vân Tiên nghe nói liền cười, “cái cười đáng yêu đáng kính làm sao! Một là cái cười của người quân tử, hai là cái cười của anh con trai, ba là cái cười của quần chúng rộng lượng, đều ở trên môi Vân Tiên” (Xuân Diệu). Sau nụ cười đáng yêu ấy lời nói cũng rất đáng yêu. CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 20 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
- Xem thêm -