Nghệ thuật xây dựng hình tƣợng nhân vật trong tác phẩm “thuốc” của lỗ tấn

  • Số trang: 70 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN LÊ THÚY DUY MSSV: 6106305 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM “THUỐC” CỦA LỖ TẤN Luận văn tốt nghiệp dại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hƣớng dẫn : Ths.Gv. BÙI THỊ THÚY MINH Cần Thơ, năm 2013 ĐỀ CƢƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3. Mục đích nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÍ THUYẾT VÀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1.1. Sơ lược về nền văn học Trung Quốc 1.1.1 Sơ lược văn học Trung Quốc hiện đại 1.1.2. Những ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến nền văn học Việt Nam 1.2. Tìm hiểu về tác giả Lỗ tấn 1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Lỗ Tấn 1.2.1.1. Cuộc đời của nhà văn Lỗ Tấn 1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn 1.2.2. Quá trình sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn 1.2.3. Quan điểm và phong cách nghệ thuật của nhà văn Lỗ Tấn 1.2.4. Vị trí của Lỗ Tấn trong nền văn học Trung Quốc hiện đại 1.2.4.1. Lỗ Tấn là ngọn cờ của văn học mới Trung Quốc thế kỉ XX 1.2.4.2. Nghiên cứu Lỗ Tấn – Thu hoạch mới, nhận thức mới 1.3. Tác phẩm Thuốc 1.3.1.Hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Thuốc 1.3.2. Tóm tắt tác phẩm Thuốc 1.3.3. Ý nghĩa nhan đề truyện Thuốc của Lỗ Tấn 1.3.4 Giá trị nội dung của tác phẩm Thuốc CHƢƠNG 2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM “THUỐC” CỦA LỖ TẤN 2.1. Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học 2.1.1. Hình tượng văn học là gì? 2.1.2. Hệ thống hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học 2.2. Thế giới nhân vật phong phú trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn 2.2.1. Nhân vật đám đông có cái nhìn hạn hẹp, tham lam, lạnh lùng 2.2.2. Nhân vật người cách mạng lẻ loi, xa rời quần chúng 2.2.3. Nhân vật biểu trưng “chiếc bánh bao tẩm máu người” 2.2.4. Mối quan hệ giữa hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người và những nhân vật trong tác phẩm 2.3. Ý nghĩa các hình tượng nhân vật trong tác phẩm Thuốc 2.3.1. Ý nghĩa lịch sử 2.3.2. Ý nghĩa hiện thực CHƢƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM “THUỐC” CỦA LỖ TẤN 3.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật 3.1.1. Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 3.1.2. Miêu tả nhân vật qua lời nói, hành động, cử chỉ 3.1.3. Miêu tả nhân vật qua tên gọi và ý nghĩa của cách đặt tên 3.2. Không gian và thời gian nghệ thuật 3.2.1. Không gian nghệ thuật 3.2.2. Thời gian nghệ thuật 3.3. Điểm nhìn trần thuật và giọng điệu trần thuật 3.3.1. Điểm nhìn trần thuật 3.3.2. Giọng điệu trần thuật PHẦN KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trung Quốc là một trong những quốc gia rất nổi tiếng ở khu vực Châu Á với những nét văn hóa vô cùng đặc sắc. Nói đến Trung Quốc, chúng ta không thể không nhắc đến công trình Vạn Lý trường thành đồ sộ được xây dựng dưới thời Tần Thủy Hoàng dài 6.352 km, nhớ đến Tử Cấm Thành uy nghiêm, rực rỡ, tráng lệ là nơi ở của các vị vua ngày xưa. Chẳng những thế, một nước đất rộng người đông với 56 dân tộc và năm ngàn năm lịch sử, Trung Quốc đã tích lũy cho mình một kho tàng văn học vô cùng phong phú, đa dạng có sức sống mãnh liệt. Kể từ khi học thuyết Khổng Tử ra đời cho đến nay, trải qua hơn hai nghìn năm lịch sử đất nước Trung Hoa cũng đã liên tiếp sản sinh ra biết bao nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, và một lĩnh vực vô cùng nổi bật đó là nhà văn, nhà nghệ thuật lớn. Về văn học, Trung Quốc được thế giới biết đến với các tác phẩm kinh điển như như: Thủy Hử của Thi Nại Am, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân và Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung – Tứ đại kỳ thư của Trung Quốc cũng như của nhân loại. Các tác phẩm này giúp ta có dịp tiếp xúc với những anh hùng hảo hán đầy dũng mãnh với trí tuệ siêu việt. Tuy nhiên, mỗi thời đại sẽ có những hình tượng con người khác nhau cũng như có những vấn đề khác nhau. Trong thời hiện đại, văn học Trung Quốc đã có những thay đổi về hiện thực xã hội của đất nước, nhận thức về con người, và những điều này đã dẫn đến sự thay đổi về hình tượng con người, về nội dung cần phản ánh và tư tưởng nào cần thể hiện qua tác phẩm để hướng đến người đọc. Đó là những tư tưởng gì và mang những nét tiêu biểu gì cho tinh thần dân tộc Trung Hoa? Có những nhận thức mới nào, vấn đề gì cần gửi gắm qua tác phẩm? Việt Nam là một quốc gia tiếp giáp phía Nam lãnh thổ Trung Quốc nên quá trình giao lưu diễn ra rất thuận lợi. Số lượng tác phẩm Trung Quốc được dịch ở Việt Nam rất lớn, bao gồm các tác phẩm cổ điển lẫn hiện đại. Tuy nhiên, tiếp nhận dễ dàng nhất có lẽ là các tác phẩm văn học hiện đại Trung Quốc. Vì những điều kiện thuận lợi và sự gần gũi văn hóa trong cách thể hiện của những tác phẩm văn học Trung Quốc đã 1 làm cho chúng tôi ngày càng yêu thích nền văn học này, đặc biệt là lối văn của tác giả tài hoa Lỗ Tấn. Lỗ Tấn là một nhà văn, nhà tư tưởng lớn. Những tác phẩm văn học của ông đều thấm đẫm tình người và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Những nhân vật ông khắc họa đều mang những tính cách, phẩm chất riêng nhưng qua họ bật lên những giá trị về con người. Nhìn chung khi tiếp cận với những tác phẩm của Lỗ Tấn đã giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về đất nước và người dân Trung Quốc trong quá trình đấu tranh gìn giữ và xây dựng đất nước, quan trọng hơn là tích lũy thêm cho mình kiến thức mới về văn học hiện đại Trung Quốc, bồi dưỡng tinh thần yêu thích văn học, đặc biệt là văn học Trung Quốc. Vì có sự yêu thích khi tìm hiểu về đất nước Trung Hoa vốn mang những nét bí ẩn cũng như những trăn trở, băn khoăn chưa có dịp giải đáp. Do đó, khi có dịp tiếp xúc, tôi đã chọn đề tài Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vât trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn để nghiên cứu nhằm mở rộng tầm hiểu biết của mình về đất nước cũng như về con người nơi đây. Và đặc biệt một đất nước có nền văn học ảnh hưởng rất nhiều đến nền văn học Việt Nam như Trung Quốc, thì càng có một động lực giúp tôi ý thức cần phải tìm hiểu để có cách nhìn nhận thông suốt hơn. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ở Việt nam, hầu hết các sáng tác của Lỗ Tấn đều dịch sang Tiếng Việt, trước hết phải kể đến công lao của các dịch giả như: Đặng Thai Mai, Trương Chính, Luơng Duy Thứ, Phạm Tú Châu v.v ...trong việc giới thiệu các tác phẩm của Lỗ Tấn đến độc giả Việt Nam. Lỗ Tấn là một nhà văn không quá xa lạ đối với người Việt Nam. Đầu thế kỉ XX, những tác phẩm của ông được được dịch phổ biến ở Việt Nam, do đó việc nghiên cứu về Lỗ Tấn cũng được nhiều nhà nghiên cứu bàn bạc đánh giá. Ở nhiều giai đoạn khác nhau, Lỗ Tấn được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam tìm hiểu, phân tích nhằm đào sâu ở nhiều khía cạnh khác nhau, những điều vẫn chưa được làm sáng tỏ về nhà văn đại tài này. Ở nước ta, Lỗ Tấn được đánh giá rất cao qua những bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình như Đặng Thai Mai, Trương Chính, Lương Duy Thứ, Anh Đức, Trần Áng… Đặc biệt, các nhà nghiên cứu có sự tìm hiểu sâu sắc về hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người trong Thuốc của Lỗ Tấn, nhằm phê phán căn bệnh u mê, lạc hậu của người dân Trung Hoa thời bấy giờ và sự xa rời quần chúng của những người làm cách mạng. 2 Nhằm nêu lên giá trị hiện thực từ hình tượng trung tâm đó là hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người. Qua đó thấy rõ hiện thực của đất nước Trung Hoa và tư tưởng tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm này. Và vấn đề này đã được đề cập qua khá nhiều bài viết. Trong Phê bình Bình luận văn học do Vũ Tiến Quỳnh biên soạn (1995), qua bài Truyện ngắn Lỗ Tấn Lương Duy Thứ cho rằng trong Thuốc có hai sự việc xen kẽ nhau. Một là lão Hoa Thuyên – một người dân lao động mê muội, đã lấy máu người cách mạng chữa bệnh cho con. Hai là người cách mạng Hạ Du anh dũng cảm hy sinh, lấy máu mình để chữa bệnh cho dân tộc. Hai sự việc dường như cô lập đó được liên kết bởi cái bánh bao tẩm máu người. Ông chỉ tìm hiểu vấn đề ở sự khái quát, chưa đi sâu vào hình tượng nhân vật mà trọng tâm là chiếc bánh bao tẩm máu người. Trong quyển Lỗ Tấn – phân tích tác phẩm do Lương Duy Thứ biên soạn, Ông cho rằng nhà văn viết Thuốc chỉ muốn lôi hết bệnh tật của quốc dân, đặc biệt cái mà anh gọi là liệt căn tính như thái độ dửng dưng, vô cảm của người dân trước sự hy sinh của những người đổ máu vì đất nước. Tuy nhiên, ông chỉ dừng lại ở việc giải thích những tầng nghĩa của nhan đề truyện Thuốc. Nhưng đây cũng là một nguồn tư liệu để tôi hoàn thành luận văn tốt hơn. Đặc biệt trong Lỗ Tấn – Thân thế, văn nghiệp, nhà văn Nguyễn Tuân đã có bài bình luận khá sâu sắc về Lỗ Tấn và tác phẩm Thuốc. Ông nhận xét rằng: “Lỗ Tấn đinh ninh rằng văn nghệ là thuốc cứu bệnh, và muốn lấy văn nghệ chữa cái bệnh tinh thần của dân tộc mình” [6; t.77]. Về Thuốc thì nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng “Truyện Thuốc là thứ truyện có tính chất phát động quần chúng nổi lên, nó có tác động xô nhào các thứ tượng đá tượng đồng xây trên vô lí, trên đất công và trên áp bức bưng bít”. Và Nguyễn Tuân đánh giá về cách nhìn của nhà văn Lỗ Tấn: “Cái nhìn của Lỗ Tấn là bậc thầy, cái nhìn của Lỗ Tấn ở một vài cái chấm phá, y hệt lối khắc bả gỗ và hao hao một vái gì của Cổ Nguyên.” Nhìn chung, có rất nhiều nhà phê bình, bình luận đã nghiên cứu về Lỗ Tấn và đặc biệt là tác phẩm Thuốc nhưng chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh, chưa thật sự đi sâu vào khai thác nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm và hình tượng trung tâm “chiếc bánh bao”. Thấm nhuần phương hướng khoa học là nghệ thuật thâm nhập những lãnh môn. Chính vì thế mà tôi đã lựa chọn đề tài: Nghệ thuật xây dựng 3 hình tượng nhân vật trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn để nhằm giải quyết vấn đề còn hạn chế này. 3. Mục đích nghiên cứu Khi chọn đề tài Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn chúng tôi nhằm hướng đến mục đích tìm hiểu, khám phá những vấn đề tồn tại trong tác phẩm Thuốc . Đặc biệt khi viết tác phẩm này ông đã khai thác nó về chiều sâu, mang tầng ý nghĩa sâu sắc và lớn lao khi viết về con người. Chính vì thế khi khai thác vấn đề này, người viết cần chú tâm vào khai thác hình tượng trung tâm, chỉ rõ được vấn đề và những tầng ý nghĩa, những tư tưởng, quan niệm mà tác giả gửi gắm để làm nổi bật lên được nội dung. Về yêu cầu của đề tài, trước tiên phải làm rõ những khái niệm có liên quan đến đề tài, sau đó đi vào tìm kiếm, khảo sát và chọn lọc những tài liệu liên quan đến đề tài, tìm hiểu về tác giả Lỗ Tấn và tác phẩm Thuốc, thứ hai là khảo sát những vấn đề về nội dung và thứ ba là tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm của ông. Đặc biệt là chứng minh được giá trị của hình tượng nhân vật qua tính cách, phẩm chất, ngoại hình, hành động, cử chỉ và ý nghĩa của cách đặt tên nhân vật. Từ đó khái quát lên cuộc sống xã hội đã được hình tượng nhân vật trong tác phẩm phản ánh. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là tác phẩm Thuốc và những vấn đề liên quan việc tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn để từ đó khái quát lên nét độc đáo khi khắc họa nhân vật và giá trị của việc xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm này. Bên cạnh đó tham khảo và tìm hiểu thêm về truyện ngắn của Lỗ Tấn và các nhà văn cùng thời với ông để có thêm cách đánh giá khách quan hơn. Do thời gian và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm và trung tâm là chiếc bánh bao tẩm máu người để làm bật lên giá trị hiện thực của nó. Bằng khả năng và sự nổ lực của mình, mong rằng có thể góp phần giúp người đọc hiểu hơn về tác phẩm cũng như tác giả Lỗ Tấn. Để tiến hành đề tài này, người viết đã tiến hành điều tra thu thập tài liệu liên quan đến tác phẩm bằng cách thông qua các phương tiện như sách, báo, giáo trình và truy cập in -tơ -net. Từ đó tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Thuốc qua những bài phân tích, những bài phê bình, nhận xét 4 về Thuốc. Đặc biệt là các khía cạnh bàn về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật mà tác giả đã xây dựng trong tác phẩm Thuốc. Những công trình nghiên cứu về tác phẩm này sẽ giúp người viết phân tích cụ thể hình tượng, đi sâu vào nội dung, khai thác đầy đủ những khía cạnh có liên quan. Đồng thời so sánh, đối chiếu làm nổi bật lên giá trị của nó. Sau đó đánh giá tổng hợp những giá trị sâu sắc, khái quát tầng ý nghĩa chủ đạo trong tác phẩm Thuốc từ việc khai thác hình tượng của các nhân vật. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để khảo sát đề tài, trước tiên phải tiến hành công việc tìm kiếm những tài liệu có liên quan đến tác giả Lỗ Tấn như cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác...và những bài viết phân tích, bình luận, đánh giá về tác phẩm. Sau đó chọn lọc xem tài liệu nào có liên quan đến đề tài đang khảo sát để từ đó vận dụng vào bài viết. Để có thể làm rõ vấn đề của đề tài, trong quá trình nghiên cứu tôi đã vận dụng một số phương pháp như: Phương pháp lịch sử: Viết về đề tài Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn, tôi luôn đặt tác phẩm trong mối quan hệ với quá trình phát triển của lịch sử văn học Trung Hoa, trong sự vận động của từng giai đoạn lịch sử, để từ đó có thể khẳng định giá trị của tác phẩm và tài năng khắc họa nhân vật của tác giả. Phương pháp tiểu sử: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã kết hợp tìm hiểu khái quát về hoàn cảnh sống, về quan niệm nghệ thuật của Lỗ Tấn để từ đó có thể liên hệ, lí giải được những vấn đề trong tác phẩm một cách chính xác và sâu sắc hơn. Phương pháp so sánh: Việc sử dụng phương pháp này giúp người viết có điều kiện so sánh những đặc điểm khác biệt trong việc khắc họa cũng như phong cách nghệ thuật của Lỗ Tấn khi xây dựng hình tượng nhân vật với những nhà văn cùng thời… Qua đó, sự so sánh ấy càng làm rõ hơn sự mới lạ, tư tưởng, phong cách, nét độc đáo không thể trùng lấp vào ai của Lỗ Tấn. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Vận dụng phương pháp này có thể lí giải và kết hợp được nhiều vấn đề cùng thể hiện những đặc sắc nghệ thuật về việc xây dựng hình tượng nhân vật trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn. 5 PHẦN NỘI DUNG 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÍ THUYẾT VÀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1.1. Sơ lƣợc về nền văn học Trung Quốc 1.1.1 Sơ lƣợc văn học Trung Quốc hiện đại Văn học Trung Quốc có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, từ các tài liệu lưu trữ của các triều đại cho đến các tiểu thuyết hư cấu từ thời trung cổ để phục vụ cho các độc giả người Trung Quốc biết chữ. Mặc dù việc đưa vào sử dụng rộng rãi kỹ thuật in mộc bản trong thời nhà Đường (618 - 907) và sự phát minh ra kỹ thuật in ấn loại di động (in- ru- lô, tiếng Anh: movable type) bởi Tất Thăng (畢昇) (990 - 1051) trong thời nhà Tống (960 - 1279) không làm tiêu tan tầm quan trọng hay sự nhấn mạnh vào việc viết thư pháp Trung Hoa, cả hai loại kỹ thuật in ấn này đã nhanh chóng truyền bá kiến thức bằng văn bản khắp Trung Hoa hơn bao giờ hết. Tới thời Minh – Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy Hử của Thi Nại Am, Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, Nho Lâm Ngoại Sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần...trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất. Đến thời kì hiện đại, văn học Trung Quốc tiếp tục đạt được những thành tựu mới và thành công mới, văn học hiện đại có thể chia ra làm bốn giai đoạn nổi bật: - Giai đoạn 1:(1911-1949) Văn học giai đoạn này cất tiếng nói giã từ chế độ phong kiến, văn học truyền bá tư tưởng phê phán chế độ phong kiến, cổ vũ cho tưởng cộng hòa, dân chủ…Văn học hiện đaị có thể tính từ Cách mạng Tân Hợi năm 1911 hoặc từ cuộc vận động Ngũ Tứ 1919. Nổi bật là nhà văn, nhà báo, nhà giáo Lỗ Tấn. Ông là nhà tổ chức, cây bút tiên phong chủ lực xây dựng nền văn học mới của cách mạng vô sản. Sau đó, nhà thơ Quách Mạc Nhược, nhà báo Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu trở thành những cây bút hàng đầu của nền văn học mới, sẽ trở thành những nhà văn cộng sản đầu tiên và tiếp tục sáng tác về sau. - Giai đoạn 2: (1949 -1965) Văn học sáng tác theo văn nghệ Mao Trạch Đông, ngoài những tác giả lão thành có mặt trong giai đoạn đầu, thêm những tên tuổi mới như : Chu Lập Ba, Ngãi Thanh, Nữ sĩ Dương Mạc, La Quảng Bân, Điền Hán…Những tác phẩm tràn đầy hào khí cách mạng nhưng nghệ thuật còn non yếu, kéo dài 16 năm. Cuộc cải cách ruộng đất nông thôn – Đấu tổ địa chủ đã mắc sai lầm nghiêm trọng như thời cổ đại. Tiếp đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những mô hình ấu trĩ “ 7 duy ý chí” như “ Công xã nhân dân”, phong trào “ Đại nhảy vọt”. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy đốn, xã hội điêu tàn, chính trị khủng hoảng, dẫn văn nghệ khô cứng. - Giai đoạn 3: (1966 – 1976) Đây là giai đoạn Trung Quốc rơi vào tinhd trạng rối ren, bè phái, người ta gọi là “ Mười năm động loạn”, hàng trăm văn nghệ sĩ bị bức hại đến chết. Văn học giai đoạn này bị tê liệt nếu chưa nói là bị tiêu diệt. - Giai đoạn 4: (1977 – 1942 và tiếp tục đến nay) Giai đoạn này còn được gọi là văn học đương đại. Văn học thời kì này cuộn mình trổi dậy, dòng “văn học vết thương”, “văn học ám hối” với những tác phẩm sôi sục đòi thanh toán nỗi uất ức “ mười năm khủng khiếp” , triệt để phê phán giai đoạn sai lầm ấu trĩ, từ đây mở ra thời kì phục hưng văn học nghệ thuật. Văn chương giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và đời sống tinh thần của công chúng Trung Quốc. Nhiều phong cách mới, những cây bút mới xuất hiện, nhanh chóng tạo ra sức hút mạnh mẽ trong đời sống văn học nghệ thuật hồi sinh. Nổi bật trên hàng trăm cây bút tiêu biểu như Vương Mông, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn, Diệp Tân, Cửu Đan, Kim Ba, Quách Mạc Nhược…Tất cả đã góp phần làm thay đổi diện mạo nền văn học Trung Quốc, hòa vào dòng chảy văn học chung của thế giới. Xưa nay nói đến văn học Trung Quốc người ta thường nghĩ đến Đường Thi và tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh, những người bi quan cho rằng văn học hiện đại không thể sánh bằng văn học trung đại cổ điển. Tuy nhiên những thành quả cho thấy haonf toàn khiến họ suy nghĩ lại và văn học hiện đại đang được nở rộ và thu được nhiều hoa trái ngọt ngào. Nền văn học Trung Quốc chảy dài theo dòng lịch sử, không hề dừng lại mà càng bước đều đặn và nhanh qua mỗi thời kì, phát triển bền bỉ qua 5 ngàn năm. 1.1.2. Những ảnh hƣởng của văn học Trung Quốc đến nền văn học Việt Nam Chịu ảnh hưởng của mấy nghìn năm Bắc thuộc, lại có nét tương đồng về nền văn hóa với Trung Quốc. Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ nền văn học của Trung Quốc. Việc chữ Hán trong nhiều thế kỷ được dùng làm ngôn ngữ viết chắc chắn đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam, đến mức văn hóa Trung Quốc và Việt Nam, ở nhiều phương diện, không thể tự phân biệt. Cho đến trước khi chữ Nôm ra đời - một việc làm đánh dấu sự cố gắng đầu tiên nhằm văn tự hóa tiếng Việt - thì toàn bộ văn học Việt Nam đều dùng chữ Hán còn tiếng Việt bị giới hạn trong phạm vi nói năng. 8 Đối với những nhà trí thức dùng nó để làm thơ cũng như viết tiểu thuyết bằng thơ (truyện thơ) thường lấy cảm hứng từ văn học Trung Quốc. Đặc biệt là Thơ Đường đã ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học Việt Nam. Rất nhiều tập thơ đường xuất sắc của Trung Quốc được dịch qua tiếng Việt. Và nó trở thành thể loại tiêu biểu cho thời đại hoàng kim của thơ cổ điển Trung Quốc (thời Đường), đến nỗi về sau nói thơ Đường là người Việt Nam coi như đồng nghĩa với luật thi, mặc dù thời Đường còn có thơ cổ thể với rất nhiều kiệt tác. Chứng minh cho việc văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc có thể điểm qua nhà văn Nguyễn Dữ với tác phẩm Truyền kì mạn lục – Tác phẩm đặt chân thật sự vào địa hạt của hư cấu lịch sử. Ông viết tác phẩm của mình dựa theo Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1347-1433) Trung Quốc. Việc mô phỏng của Nguyễn Dữ cho chúng ta thấy rõ tác phẩm này đã nổi tiếng ngay đầu thế kỉ 16. Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm sớm nhất hiện còn của tiểu thuyết phúng thích Việt Nam. Nó được tái bản vài lần và đáng chú ý là có một bản in thú vị với lời tựa viết năm 1783 có chú giải bằng chữ Nôm và những lời bình khác nhau. Tác phẩm này được đánh giá rất cao trong giới học thuật, những người này đã coi tác giả của nó là người phát ngôn cho tầng lớp trí thức thời đại mình, thể hiện sự bất bình của họ ðối với những rối ren xã hội và dự cảm được sự trỗi dậy của một tầng lớp xã hội mới ở Việt Nam thế kỷ 16. Về thể loại thơ, hình thức thơ thay đổi theo thời gian và ngôn ngữ có thể giúp xác định thời kỳ ra đời của các tác phẩm. Tiếp thu các hình thức dân ca các nhà thơ cách tân đã thay thế những nguyên tắc nghiêm ngặt của thể Hàn luật rất khó hiểu với công chúng bình dân và gây trở ngại cho việc biểu hiện những tình cảm phức tạp và sự việc tinh tế bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát. Đây là những thể thơ bình dị hơn rất nhiều, dễ ghép vần và không hạn định số lượng câu thơ. Chúng cho phép nhà thơ có thể diễn đạt những cảm xúc của mình tự do hơn và miêu tả sự việc phong phú đa dạng với độ dài tùy ý. Rất nhiều tiểu thuyết lớn của thế kỷ 18, 19 do vậy đã được sáng tác bằng các thể thơ này, một số tác phẩm dài đến vài ngàn câu thơ. Mặc dù hình thức thơ ca dần dần thoát khỏi sự mô phỏng Trung Quốc nhưng mối liên hệ giữa văn học Trung Quốc và loại văn học mới này của Việt Nam vẫn rất mật thiết. Vì phần lớn những truyện Nôm này đều bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa, đôi khi đó là những giai thoại trong sử biên niên Trung Hoa như truyện về Tô Vũ (Tô Công) thời Hán được phái đi sứ Hung Nô và đã bị đày ở đó 19 năm hay như câu chuyện về công chúa Vương Chiêu Quân 9 (Vương Tường) cũng vào đời Hán bị gả cho Hung Nô, hoặc có thể mượn từ truyền kì đời Đường như truyện về Viên Thị là một con vượn trắng biến thành một cô gái đẹp khiến chàng Tôn Các phải lòng, hoặc có thể từ tạp kịch đời Minh Thanh, như chuyện tình Phan Sinh- Kiều Liên lấy từ Ngọc trâm ký Cao Liêm đời Minh. Cuối cùng, những truyện thơ này còn có thể lấy cốt truyện từ thoại bản và tiểu thuyết Minh Thanh. Về việc nghiên cứu đa diện những tác phẩm đặc biệt này giúp chúng ta có thể đặt mỗi tác phẩm Việt Nam trong mối liên hệ với cội nguồn Trung Hoa hoặc nguồn cảm hứng của tác giả. Chẳng hạn, ngày nay người ta biết rằng Cần chính điện học sĩ triều Nguyễn là Nguyễn Du (1765-1820) - tác giả của tuyệt tác văn chương cổ điển Việt Nam Truyện Kiều - trong thời gian đi sứ Trung Hoa từ 1813 đến 1814 đã tìm thấy nguồn cảm hứng trong Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết văn xuôi 28 hồi của một tác giả mà chúng ta chỉ còn biết với bút danh Thanh Tâm tài nhân. Niên đại ra đời của tiểu thuyết này vẫn chưa rõ song chúng ta biết rằng nó được du nhập vào Nhật Bản năm 1754 và rất được hoan nghênh. Có thể tác phẩm đã được sáng tác vào cuối thế kỉ 17 hoặc đầu thế kỉ 18. Chúng ta cũng không biết gì hơn về thời gian Nguyễn Du mô phỏng tác phẩm này. Tất nhiên ý kiến phổ biến cho rằng ông làm công việc này sau khi đi sứ về. Thời gian tác phẩm Trung Hoa đi vào Việt Nam chưa được xác định chắc chắn mặc dù mọi người đều biết rằng tác phẩm đã được đọc ở Việt Nam trước khi Nguyễn Du cải tác. Việc dịch các tác phẩm nổi tiếng của Trung Quốc sang chữ Quốc Ngữ cũng thấy được sự ảnh hưởng của nền văn học Trung Quốc đến nền văn học Việt Nam như thế nào. Nhiều tác phẩm được dịch sang như: Bao công kì án, Thanh xà Bạch xà, Hậu tam quốc diễn nghĩa, Hậu tây du, Nhị thập quả phụ chinh tây, Phượng hoàng đao, Phong trần kiếm khách, Phong ba đình, Nhi nữ tạo anh hùng, Nhị độ mai, Đông chu liệt quốc, Bao công kì án, Đại bàng hiệp, v.v… Còn hàng trăm tác phẩm được dịch khác của nhiều dịch giả Việt Nam. Do đó có thể thấy rằng, vượt lên trên sự thay đổi về ngôn ngữ và chữ viết, người Việt Nam vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với văn chương Trung Quốc. Trước hết đó là nguồn cảm hứng sáng tác cho các tác giả viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Sau đó, khi chữ quốc ngữ đã thịnh hành, văn chương chữ Hán được coi là bộ phận của di sản văn hóa cần được giữ gìn cẩn trọng bằng các bản dịch. Việc rất nhiều bản tác phẩm Trung Quốc được dịch sang văn xuôi tiếng Việt đã ảnh hưởng rõ rệt đối với sự phát triển của tiếng Việt hiện đại. 10 1.2. Tìm hiểu về tác giả Lỗ tấn 1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Lỗ Tấn 1.2.1.1. Cuộc đời của nhà văn Lỗ Tấn Lỗ Tấn tên khai sinh là Chu Chương Thọ, sau đổi tên là Chu Thụ Nhân (chữ Hán phồn thể: 周樹人, chữ Hán giản thể: 周树人; bính âm: Zhōu Shùrén), hiệu là Dự Tài, bút danh Lỗ tấn. Ông sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881 tại phường Đông Xương, huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang trong một gia đình quan lại đã sa sút. Ông nội là Chu Phúc Thanh, đỗ tiến sĩ đời Thanh, có chân trong viện hàn lâm, sau là tri huyện, can án trường thi nên bị cách chức hạ. Cha của ông là Chu Phượng Nghi (tức Bá Nghi) đỗ tú tài nhưng không được ra làm quan. Năm ông 13 tuổi, cha ông lâm bệnh và vì không có tiền chữa trị nên qua đời. Từ đó Lỗ Tấn ôm mộng học nghề y. Mẹ của ông là Lỗ Thụy – người phụ nữ nông thôn trung hậu, kiên nghị, phẩm chất của bà có ảnh hưởng rất lớn đến Lỗ Tấn. Bà còn chăm bồi khả năng văn chương của Lỗ Tấn qua việc bà kể cho ông nghe nhiều truyện cổ dân gian. Lỗ Tấn là bút danh ông lấy từ họ mẹ Lỗ. Thuở nhỏ ông thường đi học muộn, ông đã tự tay cầm dao thích chữ Tấn (tấn hành - đi nhanh lên) trên mặt bàn học để nhắc nhở bản thân phải nhanh nhẹn khẩn trương. Chính vì vậy sau này khi viết văn ông đã lấy bút danh là Lỗ Tấn. Thời thơ ấu từ 6 đến 17 tuổi, Lỗ Tấn học ở trường tư thục quê nhà. Ông học rất thông minh, đọc hầu hết các thư tịch cổ Trung Quốc. Vì hoàn cảnh gia đình sa sút, ông hay đi lại với con em nông dân lao động ở quê nhà. Tắm mình trong tình cảm chân thành và hồn hậu ấy, Lỗ Tấn bú được sữa sói rừng mà lớn lên, dần dần trở thành đứa con bất hiếu của giai cấp phong kiến, bề tôi hai lòng của tầng lớp thân sĩ. Năm 1899, ông đến Nam Kinh theo học ở Thủy sư học đường (trường đào tạo nhân viên hàng hải). Hai năm sau, ông lại thi vào trường Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ sư mỏ địa chất). Đây là những trường tây học, dạy kiến thức khoa học mới, khác hẳn với những trường hán học chỉ dạy tứ thư, ngũ kinh. Tầm mắt ông mở rộng, thay đổi nếp tư duy, hoài nghi truyền thống cũ và hướng tới sự cải cách. Năm 1902, Lỗ Tấn du học Nhật Bản, tại đây ông tham gia Quang Phục hội, một tổ chức yêu nước của người Trung Quốc. Sau hai năm học tiếng Nhật, năm 1904, ông chính thức vào học ngành y ở trường Đại học Tiên Đài. Ông muốn dùng y học để cứu dân, trước hết là chữa chạy cho những người nghèo đói, dốt nát, mê tín khỏi bị chết oan như bố ông. Học sinh Trung Quốc học ở Nhật khá đông. Quang Phục Hội là tổ 11 chức lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (1911) sau này, cũng hoạt động sôi nổi ở Tô - ki - ô. Lỗ Tấn tham gia Quang Phục Hội với quyết tâm cứu nước. Về sau, nhân một lần xem phim, ông bị kích động mạnh mẽ và chuyển sang làm văn nghệ (Ông thấy người Trung Quốc hứng thú khi xem phim có cảnh người Nhật chém một người Trung Hoa vì tội làm gián điệp cho quân Nga thời chiến tranh Nga – Nhật. Lỗ Tấn nghĩ rằng chữa bệnh cho họ về thể xác còn chưa quan trọng bằng chữa bệnh cho họ về tinh thần. Từ đó ông quyết tâm dùng ngòi bút để thức tỉnh tinh thần dân tộc và ý chí tự lập tự cường của người Trung Hoa. Năm 1906, ông thôi học và bắt đầu hoạt động văn nghệ bằng việc dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học châu Âu như thơ Puskin, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Jules Verne. Năm 1909, vì hoàn cảnh gia đình, Lỗ Tấn trở về nước nuôi mẹ và em. Ông dạy ở trường trung học Thiệu Hưng và có làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng một thời gian. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, ông hưởng ứng rất sôi nổi. Lỗ Tấn còn tham gia chỉ đạo phong trào thanh niên yêu nước khoảng năm 1920 đến 1925, Ông là giáo sư các trường Đại học ở Bắc Kinh và lãnh đạo sinh viên lập nhóm văn học, xuất bản báo và tạp chí cổ động cách mạng. Năm 1926, bị chính phủ Quốc dân đảng bức bách, ông rời Bắc Kinh xuống Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến) và làm việc tại trường Đại học Hạ Môn. Ông cảm thấy hiu quạnh vì phải xa lánh cuộc đấu tranh. Đầu năm 1927, Lỗ Tấn đến Quảng Châu – căn cứ địa cách mạng bấy giờ, làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm khoa văn của trường Đại học Trung Sơn. Ông liên hệ chặt chẽ với các tổ chức cách mạng do Đảng công sản lãnh đạo. Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch phản bội Cách mạng, khủng bố Đảng Cộng Sản và các tổ chức do Đảng lãnh đạo, chúng giết hàng chục vạn đảng viên và quần chúng. Lỗ Tấn đứng ra bảo vệ sinh viên không được nên phẫn nộ từ chức. Sự thật tàn nhẫn đã giúp ông giác ngộ quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác – lênin. Kể từ đó, Lỗ Tấn không ngừng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp, của dân tộc dưới ngọn cờ quang vinh của chủ nghĩa Mác – lênin và Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Tháng 10 năm 1927, ông rời Quảng Châu tới Thượng Hải. Ông mất ngày 19 tháng 10 năm 1936. 1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn Lỗ Tấn – nhà văn lỗi lạc của dân tộc Trung Hoa, ông là niềm tự hào của dân tộc và là tấm gương của nhiều nhà văn trên thế giới. Bởi chẳng những ông mang đến cho nền văn học dân tộc những tác phẩm giá trị, gửi gắm những tư tưởng thấm nhuần tính 12 nhân văn mà còn có một tấm lòng nhân đạo sâu sắc hướng đến con người. Cuộc đời ông gặp nhiều gian truân và bất hạnh, ông nhiều lần đổi nghề và cuối cùng lựa chọn nghề viết văn để thức tỉnh căn bệnh tinh thần cho dân tộc mình. Trong cả cuộc đời của ông, ông đã sáng tác rất bền bỉ, kịp thời. Ông đã viết truyện, viết tạp văn, ông đã dịch sách, biên soạn tài liệu nghiên cứu, giới thiệu tác phẩm nước ngoài, v.v... Sách chồng cao bằng người! Lỗ Tấn là nhà văn luôn canh cánh dùng trước tác của mình để cứu dân cứu nước. Muốn thực hiện một điều gì, làm một việc gì không chỉ có tâm huyết mà cả bản thân người đó phải có tài năng, có thực lực thật sự. Đặc biệt, một lý tưởng lớn lao vì dân tộc, vì đất nước như nhà văn Lỗ Tấn thì càng cần thiết hơn nữa. Tài năng một người có được là do bẩm sinh mà có, nhưng đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ, tài năng ấy còn được vun đắp dần qua kí ức tuổi thơ, qua những câu hò điệu hát quê hương, qua điều kiện tiếp xúc, qua trải nghiệm, nhận thức cuộc sống… Cũng như cái góp phần làm nên phong cách của nhà văn Mạc Ngôn là quê hương gắn liền với mẹ, với thiên nhiên và tuổi thơ. Dường như hương vị đồng quê đã ngấm sâu vào tâm trí tác giả và sau này khi đặt bút sáng tác hương vị ấy qua bao năm tháng lại tiếp tục lan tỏa trên những trang viết của ông. Hay những yếu tố quan trọng làm nên tài năng, sự uyên bác của Nguyễn Tuân là sự trải nghiệm từ những chuyến đi của ông. Có thể thấy văn Nguyễn Tuân là sự hội tụ kiến thức của nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực như: địa lí, lịch sử, ẩm thực,… Và cái làm nên tài năng của Tố Hữu là do ngay từ lúc còn nằm trong nôi, Tố Hữu được nghe những câu hò, điệu hát Nam Ai, Nam Bình, Mái Nhì, Mái Đẩy của làng quê xứ Huế thơ mộng làm xao xuyến lòng người và sau khi đặt bút sáng tác làn điệu dân gian ấy đã đi vào trong thơ ca của ông một cách rất tự nhiên, chất trữ tình nhẹ nhàng, đằm thắm như một khúc hát ru. Và một phần quan trọng làm nên tài năng trong sáng tác của Lỗ Tấn cũng bắt nguồn từ những truyện cổ dân gian do mẹ ông kể, ông cũng chịu ảnh hưởng từ phẩm chất trung hậu, kiên nghị của mẹ. Người mẹ trung hậu cũng góp phần nâng đỡ và bồi dưỡng cho Lỗ Tấn tài năng văn chương và giàu ý chí sáng tạo. Chẳng những thế bà còn truyền đam mê cho Lỗ Tấn đọc sách, nghiên cứu… Chính cách cư xử ân cần, lòng vị tha và sự yêu thương đã giúp Lỗ Tấn vượt qua tuổi thơ sóng gió. Tất cả những việc ấy đã trở thành nguồn động lực thúc đẩy Lỗ Tấn không ngừng vươn lên lựa chọn đúng hướng đi và trở thành tác gia lớn như ngày nay. 13 Ngoài việc lắng nghe những câu chuyện cổ dân gian và ảnh hưởng phẩm chất từ người mẹ ông còn tích góp kiến thức từ những chuyến đi, những lần chuyển trường, tiếp thu được vốn kiến thức Hán học lẫn Tây học tiên tiến. Và điều đặc biệt, Lỗ Tấn trải qua rất nhiều ngành nghề từ ngành hàng hải đến kỉ sư mỏ, rồi tìm đến ngành y và cuối cùng chọn nghề viết văn với mong muốn chữa lành căn bệnh tinh thần cho dân tộc. Tất cả những gì ông nhìn thấy trên những chuyến đi, mỗi lần đổi nghề là mỗi lần đưa Lỗ Tấn đến nhận thức mới, thiết thực hơn, lớn lao hơn và đều được ông đưa vào những tác phẩm của mình. Trong hành trình văn nghiệp của mình, Lỗ Tấn đã tạo ra một số lượng tác phẩm phong phú với nhiều thể loại: Truyện ngắn, thơ cổ, thơ mới, kịch, khảo cứu, nghị luận, phê bình, dịch thuật, tạp văn,… Trong đó, truyện ngắn được xem là thành công hơn cả. Lỗ Tấn để lại một khối lượng tác phẩm khổng lồ gồm: 20 tập sách, mỗi tập 600 trang, có nhà nghiên cứu gọi là “trước tác đẳng thân” (sách cao bằng người). Lỗ Tấn rất ưa thích các tác phẩm của Nikolai Gogol. Truyện ngắn đầu tay của Lỗ Tấn là Nhật kí người điên lần đầu tiên được in trên tờ Thanh niên mới số tháng 5-1918, truyện được lấy tên dựa theo truyện ngắn Nhật kí của một người điên của Gogol. Có nhiều tác phẩm và có những tác phẩm nổi bật nhất. Trước hết là ở tập truyện ngắn có: Nhật kí người điên, Gào thét (14 truyện), Bàng hoàng (11 truyện),Chuyện củ viết lại (8 truyện), v.v... Các tập tạp văn (có 7 tập) như Nấm mồ, Cỏ dại, Gió nóng, Hai lòng, Giọng Nam điệu Bắc, Viết tự do, v.v... Và ở thể loại truyện vừa có tác phẩm rất nổi tiếng và có giá trị là AQ chính truyện. Ngoài ra, ông còn dịch nhiều tác phẩm văn học thế giới ra tiếng Trung. Trong số các tác phẩm truyện ngắn của ông, truyện ngắn Thuốc có nét đặc sắc và chiều sâu. Từ thập niên hai mươi, ba mươi tiểu thuyết Trung Quốc phát triển vượt bậc với sự thịnh hành của “Tiểu thuyết vấn đề” trong hầu hết sáng tác của các tác giả. Cũng trong giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của một tác phẩm đầu tiên của tiểu thuyết hiện đại mang tên Nhật kí người điên của Lỗ Tấn. Tác phẩm bàn về sự hà khắc của chế độ phong kiến và chế độ gia tộc đè nặng con người. Ở Việt Nam hầu hết các tác phẩm của Lỗ Tấn đều được dịch sang tiếng Việt. Người Việt Nam tiếp xúc đầu tiên với tác phẩm của Lỗ Tấn không ai khác hơn chính là Bác Hồ kính yêu. Lúc ấy Bác vẫn còn là một nhà cách mạng trẻ tuổi tên Nguyễn Ái Quốc (khoảng năm 1926-1927), tác giả Trần Dân Tiên trong cuốn “Những 14 mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã viết “ông Nguyễn thích đọc Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Quốc” [15; tr. 11]. Người Việt Nam đầu tiên dịch và giới thiệu Lỗ Tấn chính là giáo sư Đặng Thai Mai bắt đầu từ năm 1942. Năm 1944, ông giới thiệu đến độc giả Việt Nam các tập “Lỗ Tấn – thân thế, văn nghiệp”, tên tuổi, sự nghiệp và các tác phẩm nổi tiếng như AQ chính truyện, Khổng Ất Kỉ, Cầu Phúc, Bóng từ giả người, Khách qua đường... [15; tr. 11]. Nhà văn Anh Đức đã có những lời tâm huyết về tác phẩm của Lỗ Tấn và về chính tác giả như sau: “Thoạt nhiên, đọc truyện Lỗ Tấn, ta rất dễ có cảm giác ông lạnh lùng, thản nhiên trước những cảnh nát lòng do chính ông phơi bày. Sự thật lòng ông nào có thế, lòng ông vô cùng đau đớn, chẳng qua ông dằn nén, giấu ém, cất biến những xúc động chủ quan...” [15; tr. 15]. Không những giành được những tình cảm của các học giả và nhà văn Việt Nam, Lỗ Tấn còn nhận được sự ủng hộ và quý mến từ phía người dân Việt Nam, và trải qua gần nửa thế kỉ các tác phẩm của ông vẫn được giảng dạy trong trường trung học và ở cả bậc Đại học tại Việt Nam. Điều này khẳng định giá trị to lớn của các tác phẩm văn học mà Lỗ Tấn đã sáng tác ra và điều này góp phần chứng minh sức sống bất diệt của Trung Quốc tại Việt Nam, đấy là một sức sống với năng lượng mạnh mẽ, năng lượng ấy có khả năng thoát khỏi biên giới một nước, đi sâu vào đời sống tinh thần của nhiều dân tộc khác trên thế giới. 1.2.2. Quá trình sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn Lỗ Tấn đến với sáng văn chương từ đầu những năm 20 của thế kỉ XX, đúng vào lúc lịch sử đang gặp nhiều rối ren về chính trị. Sau khi nhận ra rằng y học không phải là việc cần thiết trước mắt mà theo ông “điều chúng ta cần phải làm trước hết là biến đổi tinh thần họ, mà theo tôi hồi đó muốn biến đổi tinh thần họ tất nhiên không gì bằng văn nghệ. Thế là tôi định đề xướng phong trào văn nghệ” (Tựa viết lấy). Vì thế năm 1906 ông thôi học và bắt đầu hoạt động văn nghệ của mình bằng việc dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học Châu Âu như thơ Puskin, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Jules Vernes. Trong thời kì bắt đầu sáng tác, Lỗ tấn còn tin tưởng nhiều ở thuyết tiến hóa. Với niềm tin tưởng ấy, ông định tâm dùng ngòi bút để “cải tiến tinh thần” người Trung Hoa, cải tạo quốc dân tính Trung Hoa. Muốn như vậy theo ông, không gì hơn là vạch trần những nét xấu truyền thống đó gần như làm tê liệt tất cả tiềm năng tranh đấu tối cần cho cuộc sống còn của dân tộc ông. Bởi thế, thoạt đầu ông viết là để tỏ mối đồng 15 tình với những người đồng điệu mà về sau, trong khi tiếp tục viết ông không khỏi xen lẫn mối hy vọng phơi bày căn bệnh của xã hội cũ để thúc giục mọi người lưu tâm tìm phương cứu nguy. Tháng 5 năm 1918, Lỗ Tấn cho ra đời truyện ngắn Nhật kí người điên được in trên tờ Thanh niên mới số tháng 5 – 1918, truyện được lấy tên dựa theo truyện ngắn Nhật ký người điên của Gogol, Lỗ Tấn lao vào hoạt động sáng tác, tuyên truyền với tư thế chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đó. Tháng 3 năm 1919 ông tiếp tục cho ra đời tác phẩm Khổng Ất Kỷ và vào tháng 6 năm 1920, viết tác phẩm Ánh mai. Từ năm 1921 đến năm 1927 có thể nói là những năm đỉnh cao trong sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn với sự ra đời của hai tập truyện ngắn nổi tiếng: Gào thét (1921 – 1924) gồm 14 truyện và Bàng hoàng (1924 – 1925) gồm 11 truyện. Tróng đó AQ chính truyện là tác phẩm được biết rộng rãi nhất trong sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn. Những năm cuối đời, ông vẫn gắn bó với hoạt động văn nghệ và tiếp tục đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản để sáng tác và hoạt động xã hội. 1.2.3. Quan niệm và phong cách nghệ thuật của nhà văn Lỗ Tấn Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội, mỗi người chúng ta cần phải tìm và học lấy một nghề và mỗi cá nhân sẽ có quan niệm về nghề nghiệp khác nhau và trong lĩnh vực văn chương cũng không ngoại lệ. Mỗi nhà văn, nhà thơ sẽ tự chọn cho mình một hướng sáng tác riêng với quan niệm nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân. Con đường đi tìm nghề của Lỗ Tấn không phải là một việc làm dễ dàng. Ông học nhiều ngành nghề và mỗi lần thay đổi là mỗi lần ông bắt được một lý tưởng, nhận thấy được nhiệm vụ, ý thức được bản thân và mục đích cần phải thực hiện, phải hoàn thành. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút. Lớn lên chứng kiến nhiều mặt thối nát của xã hội, nên ông sớm có tư tưởng tiến bộ. Trước khi trở thành nhà văn, ông trãi qua khá nhiều nghề. Nhưng mỗi nghề ông lựa chọn không phải đơn giản để có một vị trí trong xã hội, mà ông luôn ôm ấp những hoài bão lớn có thể giúp ích cho đất nước, cho dân tộc. Ông học ngành hàng hải, với mong muốn được đi nhiều nơi, làm giàu kiến thức giúp ích cho đất nước. Hai năm sau, ông chuyển sang học ngành khai mỏ, với hi vọng làm giàu cho đất nước. Sau đó, ông chuyển sang học ngành y, để chữa bệnh cho những người nghèo không có tiền chữa bệnh như cha ông. Có thể thấy rằng, ông là 16 người rất có ý thức cho dân tộc, luôn đặt số phận, sự sống của dân tộc mình lên trên và bản thân ông mang một phần trách nhiệm. Sau cùng ông chọn ngành văn, đến với văn chương Lỗ Tấn cũng đã trình bày quan niệm nghệ thuật của mình với nhận thức là chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân. Trong sáng tác của mình, Lỗ Tấn luôn đứng về phía người nông dân nghèo khổ, phản ánh cuộc sống của họ, bênh vực và tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng cuộc đời họ, khao khát một cuộc sống tốt đẹp hơn ở tương lai cho họ. Quan niệm này về sau được nhiều nhà văn tiếp thu và ảnh hưởng nhiều nhất là nhà văn Mạc Ngôn (1955). Lỗ Tấn đi sâu vào khai thác hình tượng người phụ nữ và người nông dân. Tuy Lỗ Tấn xuất thân từ gia đình quan lại nhưng bị sa sút, từ nhỏ ông học ở trường tư thục tại quê nhà hay đi lại với con em lao động, tắm mình trong tình cảm chân thành và hồn hậu ấy đã làm cho sáng tác của Lỗ Tấn thêm gần gũi và dân dã hơn với người dân quê, ông hiểu và đồng cảm sâu sắc cho cuộc đời và số phận người nông dân, ông miêu tả cuộc sống một cách chân thực, không rụt rè, không tránh né, mạnh dạn và thẳng thắn phanh phui những mặt xấu, trái đạo lý mà tác giả hay gọi là “căn bệnh tinh thần”. Chính vì thế mà sang tác của Lỗ Tấn luôn mang hơi thở của hiện thực cuộc sống. Dù là hơi thở ổn định hay hơi thở hấp hối của dân tộc đều được tác giả vạch ra bằng ngôn từ một cách rất rõ ràng, mạch lạc. Ông chủ trương dùng ngòi bút của mình phanh phui các căn bệnh tinh thần của quốc dân và lưu ý mọi người tìm phương thuốc chạy chữa. Ông đã dũng cảm chỉ ra cho họ những bước đi sai nhịp trên con đường tiến vào tương lai. Ông quyết định chuyển sang hoạt động nghệ thuật vì quan niệm rằng đó là một vũ khí lợi hại để biến đổi tinh thần quần chúng. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp với thời đại Trung Quốc đương đại và cũng chính là nét độc đáo trong cuộc đời ông. Suy cho cùng sáng tạo của Lỗ Tấn là tìm ra cái mới, cái hay, cái đẹp và quan niệm đúng đắn để vẽ ra hướng đi cho dân tộc, làm nền tảng cho thế hệ tiếp nối. Nhà văn không quá coi trọng sự sáng tạo trong văn chương,điều làm tác giả tâm đắc và hướng đến là một phương pháp, nó giống như một “phương thuốc” cứu người, mỗi tác phẩm là một phương thuốc để chữa trị căn bệnh tinh thần cho dân tộc. Để tìm ra một “phương thuốc” mới, sức tưởng tượng, sự so sánh của nhà văn là điều vô cùng quan trọng và Lỗ Tấn đặc biệt xây dựng những hình tượng để gửi gắm thông điệp, tâm 17
- Xem thêm -