NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

  • Số trang: 174 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 38 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐINH LỰU NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2002 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án ĐINH LỰU 3 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 3 MỤC LỤC .................................................................................................................... 4 MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7 1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................7 2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................9 3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu .........................................................................19 4. Đóng góp của luận án ...................................................................................................21 5. Bố cục của luận án ........................................................................................................22 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG ...................................................................... 23 1.1. Hoàn cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt giai đoạn 1930 - 1945 23 1.2. Tình hình văn học giai đoạn 1930 -1945 ..................................................................24 1.3. Tình hình tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945 ............................................................26 1.4. Trường phái văn học tả chân....................................................................................28 1.5. Vị trí, vai trò của Vũ Trọng Phụng trong trường phái tả chân ............................29 1.6. Sáng tác của Vũ Trọng Phụng ..................................................................................31 CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT, QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, MÔ HÌNH TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG........................................................ 35 2.1. Tư tưởng nghệ thuật ..................................................................................................35 2.1.1. Tư tưởng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng ...........................................................35 2.1.2. Diễn biến tư tưởng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết ................37 2.2. Quan niệm nghệ thuật ...............................................................................................39 2.2.1. Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về sáng tác .......................................................39 2.2.2. Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về tiểu thuyết ...................................................40 2.3. Mô hình tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng .....................................................................41 2.3.1. Tiểu thuyết tả chân xã hội .....................................................................................41 2.3.2. Tiểu thuyết phanh phui cái xấu, cái ác..................................................................43 2.3.3. Tiểu thuyết của nỗi đau đời và lòng xót thương ...................................................45 2.3.4. Tiểu thuyết trào phúng châm biếm, đả kích .........................................................47 CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN, TÌNH TIẾT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG.................................................... 51 3.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện ...............................................................................51 3.1.1 Khái niệm cốt truyện..............................................................................................51 3.1.2. Các loại hình cốt truyện ........................................................................................51 4 3.1.3. Các mô típ cốt truyện ............................................................................................56 3.2. Nghệ thuật xây dựng tình tiết ...................................................................................66 3.2.1. Các kiểu nghệ thuật xây dựng tình tiết .................................................................66 3.2.2. Hệ thông tình tiết ..................................................................................................70 3.2.3. Mạch truyện và các đường dây nối kết .................................................................73 CHƯƠNG 4 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG ................................................................................................ 77 4.1. Vị trí nhân vật trong tiểu thuyết ..............................................................................77 4.2. Thế gioi nhân vật và các cách tiếp cận nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng .................................................................................................................................79 4.2.1. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ...........................................79 4.2.2. Các cách tiếp cận nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ............................82 4.3. Các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật ..........................................................83 4.3.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình ..........................................................84 4.3.2. Xây dựng nhân vật qua miêu tả nội tâm ...............................................................88 4.3.3. Xây dựng nhân vật qua miêu tả tính cách.............................................................97 4.3.4. Xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động ........................................................102 CHƯƠNG 5: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG ..................... 112 5.1. Không gian - thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ..............112 5.1.1. Không gian – thời gian nghệ thuật ......................................................................112 5.1.2. Trục di động của tọa độ không - thời gian trong nghệ thuật kể chuyện của Vũ Trọng Phụng ............................................................................................................................113 5.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ...................................117 5.2.1. Ngôn ngữ kể ........................................................................................................118 5.2.2. Ngôn ngữ tả.........................................................................................................124 5.2.3. Ngôn ngữ đối thoại .............................................................................................130 5.2.4. Một số đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ........139 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 157 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ............................................ 161 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 162 PHỤ LỤC MĐ.1....................................................................................................... 173 PHỤ LỤC 4.1 ........................................................................................................... 174 5 6 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với 27 năm tuổi đời, 9 năm cầm bút, Vũ Trọng Phụng đã để lại một gia tài văn học đồ sộ với đủ các thể loại gồm 71 tác phẩm (8 tiểu thuyết, 1 truyện vừa, 41 truyện ngấn, 4 di cảo truyện ngắn, 8 phóng sự, 1 ký sự, 7 vở kịch và 1 tác phẩm dịch). Năm 18 tuổi, Vũ Trọng Phụng bắt đầu sự nghiệp văn chương với truyện ngắn Chống nạng lên đường (1930), 22 tuổi với tiểu thuyết đầu tay Dứt tình (1934). Hai năm sau Vũ Trọng Phụng gặt hái một mùa vàng bội thu với hàng loạt tác phẩm tiêu biểu (Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ, Cơm thay cơm cô...) và xác định dứt khoát một tài năng, một địa vị hiếm hoi trong lịch sử văn học Việt Nam. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng từ khi mới ra đời đã từng làm xôn xao dư luận: “Vũ Trọng Phụng, có thể nói thành vấn đề ngay từ khi vừa xuất hiện trên văn đàn” [72, tr. 303]. Đã biết bao người bỏ công “ngậm ngãi tìm trầm” để tránh cho Vũ Trọng Phụng khỏi vòng trầm luân mà có lần Nguyễn Đăng Mạnh đã nói đến một cách hình ảnh: “Nếu ví dư luận của giới văn học như một dòng nước thì Vũ Trọng Phụng giống như một vật nổi trong dòng xoáy của nó. Vật nổi này cứ trôi nổi dập dềnh, có khi chìm xuống tưởng chừng như đã mất tăm...” [92, tr. 15]. Những gì viết về Vũ Trọng Phụng có khi dày hơn nhiều so với những trang Vũ Trọng Phụng đã viết. Thế nhưng phần lớn những đánh giá lại thiên về con người chính trị hơn con người văn học, đặt nặng vấn đề nội dung tư tưởng hơn đi sâu nghiên cứu nghệ thuật. Một khi vấn đề Vũ Trọng Phụng được đặt lên cán cân luận tội: vãn chương dâm uế, xây dựng hình tượng bôi nhọ người cộng sản, coi khinh lao động... thì việc định giá văn chương, nghệ thuật tất yếu có những hạn chế nhất định. Nguyễn Hoành Khung trong phần kết luận bài Nhìn lại và suy nghĩ xung quanh một vụ án văn học viết: “Sau khi giải quyết vấn đề thái độ chính trị của nhà văn thì đầu mối gây ra sóng gió lâu nay được gỡ...” [72, tr. 329]. Nhận định này giống ý kiến Nguyễn Đăng Mạnh: “vật nổi này ... cuối cùng lại hiện lên theo đúng qui luật Ácsimét” [92, tr. 15]. Cả hai ông đều cho rằng những vấn đề gây sóng gió xưa nay kể như được giải quyết và cái vòng dây oan nghiệt đeo đẳng hằng mấy chục năm trời với Vũ Trọng Phụng đã được cởi bỏ. 7 Điểm lại trên dưới 200 bài, sách viết về Vũ Trọng Phụng phần lớn các tác giả ít nói đến khía cạnh nghệ thuật. Có chăng tỉ lệ này cũng là con số ít với Hoàng Ngọc Hiến [43], Nguyễn Đăng Mạnh [94], Hoàng Thiếu Sơn [138], Nguyễn Duy Diễn [18], Đỗ Long Vân [178], Đỗ Đức Hiểu [47]... Như vậy vấn đề nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đầy đủ, chưa tương xứng với những gì mà nó đã đem lại, đã làm nên một Vũ Trọng Phụng - tiểu thuyết gia trác việt. Ngoài Nguyễn Đăng Mạnh, có lẽ Văn Tâm là người nghiên cứu Vũ Trọng Phụng một cách dài hơi, có hệ thống. Với tiểu luận Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực dài 236 trang, tác giả dành hẳn một chương nói về Đặc tính nghệ thuật. Vào những năm 80 bắt đầu có những luận văn cao học đi vào lĩnh vực nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhưng chỉ mới là bước đầu. Phải đến những năm 90 việc nghiên cứu Vũ Trọng Phụng mới sôi nổi hẳn lên với trên chục luận văn cao học, thạc sĩ, luận án PTS đi tìm những ẩn số nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Xét về mặt tác phẩm, các luận văn tập trung vào 3 tác phẩm tiêu biểu Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ. Xét nội dung nghiên cứu, vấn đề được các tác giả quan tâm nhiều như nhân vật, ngôn ngữ, trào phúng, thời gian nghệ thuật... Phải chăng đã đến lúc như cách nói của Phong Lê: “... không nên lấy nhà văn làm cái cớ để nhằm vào các mục tiêu khác [...] Điều đơn giản và hợp lẽ để lấy lại thế cân bằng và trả lại sự công bằng là phải trở về với Vũ Trọng Phụng ở tư cách nhà văn” [79]. Để có nhận xét , đánh giá một cách hệ thống, toàn diện, có cái nhìn tổng quan, chúng tôi quan niệm không chỉ đi sâu nghiên cứu một tác phẩm, một mặt riêng lẻ nào mà phải xem xét ở cấp độ tổng thể các tiểu thuyết và mổ xẻ phân tích ở mọi khía cạnh nghệ thuật. Có như vậy mới tránh được cái nhìn phiến diện, dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, mới cho phép thâm nhập một cách đầy đủ sâu sắc vào tư tưởng, nghệ thuật sáng tạo của nhà văn. Sẽ là rất nặng nề và không ít khó khăn, phức tạp khi nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng vì vốn dĩ văn Vũ Trọng Phụng đã hàm chứa nhiều ẩn số và mang dấu ấn đặc trưng của văn chương: “khả giải và bất khả giải”. Việc giải mã nghệ thuật do vậy không thể làm được một sớm một chiều, không phải công việc của một người mà phải cần thời gian, công sức của nhiều người góp lại. Cũng có rất nhiều bài viết, nhiều nhận xét xác thực về văn tài Vũ Trọng Phụng được nhìn ở nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều mức độ nên tự nhận mình như người xem tranh đến sau, chỉ xem lưng của người đứng trước mà chẳng thấy được tranh. 8 Dẫu vậy, với nhiệt tình mong muốn chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu: Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 2. Lịch sử vấn đề Vũ Trọng Phụng từ khi xuất hiện trên văn đàn đến nay đã gần 2/3 thế kỷ (1930 - 2002). Nhiều cuộc hội thảo, lễ kỷ niệm được tổ chức tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và có trên dưới 200 bài viết về ông đăng trên các báo, tạp chí; gần vài chục luận án thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu đề tài Vũ Trọng Phụng. Đặc biệt Lan Khai [60], Đinh Hùng [53], Văn Tâm [145], và nhóm Nhân Văn Giải Phẩm: Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm... [67] có những tác phẩm viết riêng về Vũ Trọng Phụng. Văn Tâm tuy viết trên 40 năm nhưng công trình nghiên cứu khá công phu với những đánh giá nhận định đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Dẫn chứng trên cho thấy sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình, sáng tác với văn phẩm và con người Vũ Trọng Phụng vượt xa hơn nhiều so với những tác giả cùng thời. Lịch sử vấn đề xét trên 2 góc độ: góc độ thời gian và góc độ nghệ thuật. Sở dĩ chúng tôi nghiên cứu trên hai góc độ ấy bởi các lý do sau: - Xét ở góc độ thời gian: dựa trên những mốc lớn của lịch sử để thấy không khí chính trị - xã hội có ảnh hưởng và chi phối cách đọc Vũ Trọng Phụng. Hơn nữa với bất cứ tác phẩm văn học nào thời gian là sự trải nghiệm, sàng lọc công minh, nghiêm túc nhất giá trị thực của nó. Đặc biệt với tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, thời gian trở nên thật cần thiết. Chẳng thế mà Phan Cự Đệ đã phải Đánh giá lại Số đỏ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đăng Mạnh, Hiên Chung đều Đọc lại Giông tố. Điều mà với tác giả khác, tác phẩm khác ít xảy ra. (Vũ Hạnh có Đọc lại Truyện Kiều, Phong Lê Đọc lại và lại đọc Sống mòn). Xét ở góc độ thời gian để loại bỏ yếu tố phi lịch sử, làm cho việc thẩm định đánh giá tác phẩm được công bình, cận nhân tình và chân lý hơn. Đó cũng la cơ sở cho việc tiếp cận nghệ thuật. - Xét ở góc độ nghệ thuật: những bài viết nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết chiếm một tỉ lệ khá khiêm tốn so với những gì viết về Vũ Trọng Phụng. Đó cũng là kết quả thiên về đánh giá con người chính trị hơn con người văn học Vũ Trọng Phụng, đã xảy ra trong một thời gian dài. Tuy ít nhưng những trang viết về nghệ thuật tỏ ra nhanh nhạy, đột phá vào những vùng bí ẩn, những tầng sâu của nghệ thuật. Có điều những cảm nhận nghệ thuật còn dừng lại ở một phương diện, một khía cạnh hoặc một số tác phẩm nào đó chứ không hề có ý đồ nghiên 9 cứu một cách hệ thống, toàn cục mang tính tổng thể của tiểu thuyết. Dẫu sao đó cũng là những sự khai phá cần thiết, có tính cách mở đường cho những gì mà luận văn nghiên cứu và sẽ là thiếu sót khi nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng mà không nhìn lại những đánh giá về nghệ thuật đã dược đề cập tới trước đó. 2.1. Xét ở góc độ thời gian Có nhiều cách phân chia thời gian để làm cơ sở xem xét những nhận định đánh giá về Vũ Trọng Phụng. Thường có xu hướng phân chia dựa trên những mốc lớn của lịch sử chứ không dựa trên “ thời gian sự cố”, “ thời gian tiểu sử” có liên quan đến bản thân tác giả. Thời gian sự cố đối với Vũ Trọng Phụng có thể xác định ở ba thời điểm: Năm 1958 Nhân Văn Giải Phẩm đề cao Vũ Trọng Phụng. Thế là tai bay vạ gió lại đến, người ta “bắt đầu vạch lá trong khu vườn sai quả của Vũ Trọng Phụng” (Văn Tâm). Đến năm 1960 một tai họa nữa đến với bài viết Một vài ý kiến về vấn đề tác phẩm Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam của Hoàng Văn Hoan dài 24 trang được gởi tới Tạp chí văn học. Tuy không đăng nhưng tác dụng quả là rất lớn: gần 25 năm (1960 - 1982) tác phẩm Vũ Trọng Phụng không được in lại và không đưa vào giảng dạy trong nhà trường ! Năm 1986 do không khí đổi mới, dân chủ hóa trong công tác nghiên cứu phê bình những ấm ức không nói ra được “cởi trói” và Vũ Trọng Phụng dần dần lộ ra với giá trị vốn có của nó. Để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn ta xem xét việc nghiên cứu Vũ Trọng Phụng theo các giai đoạn lịch sử. 2.1.1. Trước cách mạng tháng Tám 1945 Khi tác phẩm đầu tay ra đời, Vũ Trọng Phụng đã được dư luận quan tâm đặc biệt. Lời khen cũng lắm mà tiếng chê cũng nhiều. Tiểu thuyết Dứt tình ra mắt năm 1934 đã có đến 5, 6 bài phê bình trên báo. Đến năm 1936 hàng loạt tiểu thuyết xuất sắc ra mắt độc giả như Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ thì không khí phê bình được hâm nóng hẳn lên và chia làm hai xu hướng rõ rệt. Về phía lên án, đả kích, phủ định có Nhất Chí Mai, Thái Phỉ, Lê Thanh, Mộng Sem, Hiếu Chi... Những ý kiến sau đây được họ công khai trên sách, báo: Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực sự không bao giờ tôi thấy một tia hi vọng, một tư tưởng lạc quan. Đọc xong ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn là những lũ giết người, làm đĩ, ăn tục nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng. Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình lý tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế giới qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn cũng đen nữa. [86]. 10 - ...Họ (bốn văn sĩ tả chân) thấy thiên hạ ưa thích cái dâm uế thì hoặc là cố nhồi nhét cái dâm uế vào bất cứ chuyện gì mình viết, hai là viện cái chủ nghĩa tả chân, dụng tâm tả cái dâm uế một cách quá táo bạo và vì thế thành ra sống sượng khó coi, cố làm rung động giác quan của người đọc hem là nghĩ đến nghệ thuật. [114]. - Tất cả những bà vợ hiền ! Tất cả những bậc cha mẹ chăm sóc đến hạnh phúc của con em ! Tất cả các cô các cậu còn ngây thơ và trong sạch ! Đừng đọc Làm đĩ.” [140]. Ta thấy gì qua những ý kiến trên ? Phải chăng đằng sau chiêu bài “chống văn chương dâm uế, chống tư tưởng hắc ám của Vũ Trọng Phụng” là sự đụng đầu giữa hai khuynh hướng sáng tác, hai quan niệm thẩm mỹ: lãng mạn trữ tình của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và tả chân xã hội mà Vũ Trọng Phụng là tiêu biểu. Cái xã hội, nhân vật trong Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ v.v.. Là những cải chính hùng hồn cái xã hội, nhân vật trong tiểu thuyết lãng mạn mà không sớm thì chầy người ta cũng sẽ nhận ra là phi thực, không tưởng. Như thấy trước điều gì sẽ xảy ra, nhóm Tự Lực Văn Đoàn không tiếc lời đả kích mạt sát Vũ Trọng Phụng. Tưởng cũng nên nhắc đến việc Vũ Trọng Phụng bằng hàng loạt bài luận chiến đăng trên các báo [127], [128], [126] đã đáp lại từng điểm một cho những kẻ giả danh, lên mặt đạo đức thấy rõ quan điểm sáng tác của mình và tránh cho độc giả cái nhìn ngộ nhận. Ngoài sự phê bình mang định kiến của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, phần lớn các bạn văn, những người cùng chí hướng đã dành cho Vũ Trọng Phụng sự đánh giá chân thành khách quan. Trước khi Vũ Trọng Phụng mất; Xuân Sa, Trương Chính viết về tác phẩm Giông tố; Nguyễn Thanh, Phùng Tất Đắc viết về Kỹ nghệ lấy Tây v.v... Đặc biệt, sau khi Vũ Trọng Phụng mất hai tháng trong Tao Đàn số đặc biệt tháng 12/1939 đã có đến 9 bài viết về Vũ Trọng Phụng của Ngô Tất Tố, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Vỹ, Tam Lang, Thanh Châu, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Trần Triệu Luật, Trương Tửu. Phần lớn bài viết đề cao tài năng, nhân cách sống, những quan hộ và đạo đức Vũ Trọng Phụng. Những nhận định mang tính khái quát của Ngô Tất Tố: “ ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn sống với mai sau. Thế cũng là thọ”, cải chính của Lưu Trọng Lư: “Người nào bảo không tìm được ở Phụng một lòng tin kẻ ấy đã lầm, kẻ nào không thấy ở Phụng một sức mạnh kẻ ấy lầm hơn nữa...”, thương tiếc của Nguyễn Vỹ: “Tôi muốn kêu lên: không phải chúng tôi mất Vũ Trọng Phụng 11 mà cả nước Việt Nam đều mất Vũ Trọng Phụng!” phần nào định giá được văn nghiệp, nhân cách Vũ Trọng Phụng. Riêng Vũ Ngọc Phan trong Nhà vãn hiện đại (quyển 3) có sự đánh giá sắc sảo: “Người ta sở dĩ ham đọc văn ông là vì ngọn bút tả chân của ông... Trong đời văn của ông ngắn ngủi nhưng ông đã để lại một lối viết riêng, gây nên được nhiều đồ đệ...”, nhưng lại có những nhầm lẫn đáng tiếc khi nói về nghệ thuật trào phúng: “Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một quyển tiểu thuyết hoạt kê nhưng một lối hoạt kê không lấy gì làm cao cho lắm... Đọc Số đỏ không ai nhịn cười được, người ta cũng phải cười như nghe mấy vai bông lơn trong một đám chèo hay xem mấy tay tài tử pha trò trong một phim chớp bóng nhưng không phải cái cười thú vị và thấm thía như ta đọc hài kịch của Molière”. Tóm lại, trong giai đoạn này văn tài của Vũ Trọng Phụng đã sớm được khẳng định tuy nhiên phần lớn các tác giả chưa đào sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt nghệ thuật mà tập trung nói đến mặt nhân cách, phẩm hạnh. Một số tập trung mũi nhọn phê phán, đả kích nhưng đó chẳng qua chỉ là một sự phản xạ, một hành động tự vệ trước bóng ma “tả chân xã hội” của Vũ Trọng Phụng mà trong một tương lai không xa sẽ có khả năng làm lu mờ, che khuất lối sáng tác lãng mạn tư sản, phi thực của họ. 2.1.2. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Không khí chính trị - xã hội những ngày đầu sau cách mạng thành công tạo cơ sở khách quan, điều kiện thuận lợi cho cách đánh giá Vũ Trọng Phụng: Cách mạng tháng tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân bước những bước đi tất yếu lớn lao. Các giá trị tinh thần lần lượt đưa ra kiểm kê và bình giá theo tiêu chuẩn chân lý chân chính... Riêng về Vũ Trọng Phụng, khi thực tiễn cách mạng xác định cho nhân dân một chiến tuyến, đồng thời khi nhân dân tìm thấy qua tác phẩm, Vũ Trọng Phụng đã biểu lộ một thái độ như thế nào, thì cũng là lúc tên tuổi Vũ Trọng Phụng có xu hướng tiến tới một cương vị thích đáng một cách tự nhiên...” [145, tr.30]. Trong hoàn cảnh và điều kiện ấy, “Hội nghị tranh luận văn nghệ” được tổ chức vào tháng 9/1949 ở Việt Bắc, tác phẩm Vũ Trọng Phụng được đưa ra dẫn chứng cho hiện thực phê bình. (Nội dung được dề cập trong hội nghị là hiện thực xã hội chủ nghĩa và hiện thực phê bình). 12 Ngoài những ý kiến tiếp tục khẳng định tài năng, địa vị Vũ Trọng Phụng trong văn đàn: “Từ khi anh mất, cái thế ngồi của anh trong làng văn làng báo chưa có ai thay thế được” (Vũ Bằng), “Nhân loại mất Thiên Hư, xã hội mất một văn hào, khu vườn văn hóa Việt Nam mất mốt cây tùng cây bách, khoảng đất trống kia còn trống mãi” (Ngọc Giao); giai đoạn này, phần nào đề cập đến mặt nội dung, nghệ thuật và đi vào từng tác phẩm. Nguyên Hồng khẳng định giá tri phê phán của Số đỏ: “Sáng tạo số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã có một thái độ không cổng nhân xã hội dỗ”, Tố Hữu thừa nhận ngòi bút tả chân Vũ Trọng Phụng: “Lối hiện thực Vũ Trọng Phụng chưa phải là hiện thực xã hội chủ nghĩa, Vũ Trọng Phụng không phải là cách mạng, nhưng cách mạng cảm ơn Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực xấu xa của xã hội ấy” và Nguyễn Đình Thi so sánh cái hiện thực Vũ Trọng Phụng với hiện thực của Balzac: “nói đúng, chép đúng cái hiện tại thối nát, mục ruỗng của xã hội thời ấy cũng đã có giá trị cách mạng. Vũ Trọng Phụng cũng như Balzac chép đúng được thực tại nên có giá trị cách mạng”. Nhìn chung không có ý kiến tranh luận, phản bác, Vũ Trọng Phụng vẫn được tiếp tục đề cao khẳng định và dần có xu hướng đi sâu nghiên cứu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. 2.1.3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 -1975) Do điều kiện đất nước bị chia cắt nhưng ở cả hai miền Nam, Bắc giới nghiên cứu phê bình văn dành cho Vũ Trọng Phụng sự quan tâm thích đáng. 2.1.3.1. Ở miền Bắc Tác phẩm và con người Vũ Trọng Phụng được đánh giá cao bởi Nguyễn Đình Thi, Trương Chính, Văn Tâm. Nguyễn Đình Thi ca ngợi Vũ Trọng Phụng là “tiểu thuyết gia trác việt của văn học Việt Nam” còn Trương Chính không do dự khi xếp chỗ ngồi cho Vũ trên văn đàn “người có địa vị không ai tranh giành được trong dòng văn học hiện thực trước cách mạng”. Giai đoạn này phải kể đến tác phẩm Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực (gồm 7 chương, 236 trang) của Văn Tâm. Với cái nhìn tổng quát hơn ông đã phân tích lý giải đầy sức thuyết phục những vấn đề về hiện thực, nhân vật, trào phúng v.v... và dành hẳn một chương nói về “Đặc tính nghệ thuật”. Đây cũng là bước đột phá, đổi mới cách nhìn về Vũ Trọng Phụng - nhìn dưới khía cạnh nghệ thuật chứ không nhìn dưới cái nhìn nặng cảm quan chính trị. Những chỉ trích trước đây của những “nhà đạo đức”, kiên quyết đấu tranh để con nhà “lương gia tử đệ” khỏi bị tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng làm cho “hư hỏng” như Thái Phỉ, Lê Thanh, Nhất Chi Mai, Mộng Sơn... cũng được Văn Tâm bằng lập luận vững chắc phản bác. Bài viết của Lan Khai về Vũ Trọng Phụng trong Phê bình các nhân vật hiện thời [61] được Văn Tâm thẳng thắn “sửa sai”: “Lan Khai cũng như một số người chung quan điểm không thể 13 hiểu được rằng: về thể chất cũng như vận mệnh, Vũ Trọng Phụng không có cái may mắn đạt được mức bình quân như mọi người, nhưng chính Vũ Trọng Phụng đã là một trong những người có não trạng cường tráng nhất, sáng suốt nhất đương thời.” [145, tr.15]. Cái xu thế đồng thuận về đánh giá Vũ Trọng Phụng bỗng đổi chiều khi Nguyên Đình Thi nhốt Vũ Trọng Phụng với Khái Hưng, Nhất Linh vào chung một rọ:”... chỉ là hai mặt của cùng một dòng văn học tư sản trước cách mạng. Dòng văn học đó bắt nguồn từ lối sống mục nát của lớp những người trưởng giả bóc lột hoặc ăn bám bóp hầu bóp cổ nhân dân lao động” [157]. Nguyên cớ gì bầu không khí phê bình bỗng nhiên bị ô nhiễm ? Sau này Nguyễn Hoành Khung giải thích: “Nhân văn đề cao Vũ Trọng Phụng và Tự Lực Văn Đoàn, vậy thì Tự Lực Văn Đoàn, Vũ Trọng Phụng, Nhân văn cùng một duộc, cùng chung giai cấp tính” [72, tr.318]. Có lẽ con đường trầm luân, chìm nổi của Vũ Trọng Phụng bắt đầu từ đó. Kế đến bài viết của Hoàng Văn Hoan Một vài ý kiến về vấn đề Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam và với vị thế chính trị của Hoàng đã làm cho giới nghiên cứu phê bình phải một thời im hơi lặng tiếng. Tuy nhiên những tiếng nói trung thực, thẳng thắn, có bản lĩnh của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng... đâu dễ chịu làm thinh. Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng công khai đem vấn đề “chính trị” ra bênh vực cho Vũ: - Vũ Trọng Phụng có cái thiệt là anh chết sớm... chứ anh sống dai như chúng ta, thì chắc một người viết văn nghèo như anh, biết hằn học với chế độ, biết bất mãn với thời cuộc, lại biết hướng ngòi bút vào người cùng khổ và những cảnh lố lăng, thì thế nào anh ta cũng theo Đảng. [50, tr.393]. -“... lần nào Vũ Trọng Phụng cũng nói dứt khoát trước mặt anh em rằng anh rất kính trọng những chiến sĩ cách mạng, những người làm chính trị chân chính, đặc biệt là những người cộng sản” [52, tr.164]. Có lẽ văn nghiệp cùng cuộc đời Vũ Trọng Phụng được đánh giá trong giai đoạn này là nặng nề, oan nghiệt nhất. Những lời “minh oan” chẳng khác nào ngôi sao băng vụt sáng để rồi trả lại một bầu trời tối om, một khoảng lặng im đáng sợ. 2.1.3.2. Ở miền Nam Vũ Trọng Phụng được đánh giá cao cả văn nghiệp, cuộc đời và ý kiến khá thống nhất. Đó cũng là chuyện lạ. Doãn Quốc Sỹ viết: “Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là những hạt trân châu” và cho rằng: “đã có người đắp tượng Vũ Trọng Phụng tại công trường Lam Sơn trước Hạ viện” [143, tr.331]. Từ những bài trên các tạp chí đến những công trình nghiên cứu 14 văn học của Nguyễn Duy Diễn [18], Phan Nguyên [105], Bùi Ngọc Dung [21], Đỗ Long Vân [178], Nguyễn Văn Trung [170], Phạm Thế Ngũ [104], Thanh Lãng [78] đều có cách tiếp cận, khai phá đúng hướng và đặc biệt thể hiện tính khách quan, trung thực: “Với ý hướng phục vụ tha nhân trong sáng tác của mình mà văn chương Vũ Trọng Phụng đã trở nên văn chương dấn thân.” [170, tr.206]. Cái đáng giá, cái thường làm cho người ta ca tụng Vũ Trọng Phụng ấy là nhà văn có khuynh hướng xã hội, dám đi phanh phui những nhơ nhớp xã hội, nêu cao lá cờ tả chân triệt để, vào lúc mà cơn gió lãng mạn êm đềm vẫn còn thổi lên nhiều tâm trí. [174]. Thanh Lãng một nhà nghiên cứu văn học, một linh mục lại tỏ ra đồng tình trong lúc nhiều người lên tiếng phản bác “yếu tố” dâm trong Giông tố, Làm đĩ: Vũ Trọng Phụng là người đầu tiên đề cập đến vấn đề phái tính, một vấn đề mà ông cho rằng thiếu thốn hoàn toàn trong gia đình Việt Nam. Giông tố, Làm đĩ là hai bảng cáo trạng gay gắt qui tội và kết án giáo dục cũ. Vũ Trọng Phụng đã đáp thẳng vào giáo đúc cựu truyền, một nền giáo dục mà theo ý ông; tất nhiên phải sản xuất ra những hạng người như thị Mịch trong Giông tố, như con Huyền trong Làm đĩ. [78] 2.1.4. Từ sau năm 1975 đến nay Sau thống nhất, cả nước tập trung xây dựng lại đất nước, trong đó lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng được quan tâm chú ý nhưng phải đến năm 1986 trong không khí đổi mới, văn học mới được thổi vào những luồng sinh khí. Riêng Vũ Trọng Phụng trước 1986 gần như không thấy ai nhắc đến. Từ 1987 về sau hàng loạt bài viết được đề cập đến của Vũ Ngọc Phan [112], Nguyễn Đăng Mạnh [93], Văn Tâm [147], Hoàng Ngọc Hiến [43], hàng loạt buổi hội thảo, kỷ niệm được tổ chức tại Hà Nội (Kỷ niệm 50 năm ngày mất vào 8/10/1989, 12/10/1989; Kỷ niệm 90 năm ngày sinh, 63 năm ngày mất vào 21/11/2002; Hội thảo nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất vào chiều 12/10/1989, Hội thảo nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh vào 19/10/2002), thành phố Hồ Chí Minh (Kỷ niệm 75 năm ngày sinh vào 31/12/1987, 80 năm ngày sinh vào 3/10/1992). Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng được in lại (Vỡ đê in 1982), dựng phim (Số đỏ năm 1989, Giông tố năm 1991, Lấy nhau vì tình năm 1992), đưa vào các mục từ trong Từ điển văn học (Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ) và giảng dạy trong nhà trường. Đặc biệt, Trần Hữu Tá, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài đã có công lớn trong việc biên soạn cho ra mắt các tập sách: Vũ Trọng Phụng hôm qua và hôm nay [144], Vũ Trọng Phụng tài năng và sự thật [4], Vũ Trọng Phụng con người và tác phẩm [72], Vũ Trọng Phụng 15 về tác gia và tác phẩm [159]. Qua đó, những nghi vấn bấy lâu nay được giải tỏa, con người và tác phẩm của Vũ Trọng Phụng lại thêm một lần khẳng định. Những điều qui chụp, xuyên tạc, vu khống Vũ Trọng Phụng trước đây của một số người như chống Đảng, bôi nhọ người cộng sản, đả kích bình dân, ca ngợi thực dân, khiêu dâm... cũng được Nguyễn Đãng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Thành... tranh luận công khai dân chủ: Không nên qui kết Vũ Trọng Phụng qua nhân vật Hải Vân là xuyên tạc bôi nhọ người chiến sĩ cộng sản. Thực ra, đương thời độc giả Giông tố cũng không ai nghĩ như thế cả. Tác động khách quan của hình tượng này là tích cực, có lợi cho cách mạng. [94, tr.49]. Nói Vũ Trọng Phụng “chống Đảng cộng sản”, “đả kích phong trào bình dân” (mặt trận dân chủ) là hết sức xằng bậy. Nói thế này phải lẽ hơn: Giông tố, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, cũng như Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, là sự hưởng ứng nhanh nhạy, tích cực tuy tự phát của cây bút “tả chân xã hội”, “vị nhân sinh” đó trước phong trào Mặt trận dân chủ do Đảng cộng sản lãnh đạo bấy giờ. [72, tr.323] Xét kỹ có thể thấy rằng, dù nhà văn ca ngợi một công sứ thực dân hay một nhà cách mạng quốc tế, dù hướng về Đảng cộng sản hay phát biểu ủng hộ phái “trực trị” Nguyễn Văn Vĩnh thì thực chất ông vẫn đứng trên lập trường cải lương mà thôi. Mà chủ nghĩa cải lương có thể nói là quan điểm chính trị phổ biến của toàn bộ giới trí thức đương thời. [72, tr.320] “... Viết về cái dâm chỉ là phương tiện để trình bày hiện thực chứ không phải là cứu cánh đối với Vũ Trọng Phụng. Đây là điểm phân biệt giữa nhà văn hiện thực và nhà văn khiêu dâm.” [153]. Cũng trong giai đoạn này những nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu tên tuổi đã để lại những kết luận loại “vàng mười”, rất đáng giá: “Số đỏ, cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học.” [63] “Phải khẳng định Vũ Trọng Phụng là niềm tự hào của văn học Việt Nam [...]. Văn học Viêt Nam mà thiếu Vũ Trọng Phụng là thiệt cho chúng ta chứ không phải cho Vũ Trọng Phụng.” [179] “Một lúc nào đó, tôi ngờ rằng trong một cuốn từ điển làm riêng về văn học Việt Nam người ta sẽ gọi Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tiêu biểu của thế kỷ 20.” [109,tr. 43]. 16 Ngoài ra, trong những năm tám mươi, chín mươi có gần hai mươi luận văn nghiên cứu về phương diện nghệ thuật đối với tác phẩm của Vũ Trọng Phụng (chỉ tập trung ở tiểu thuyết, phóng sự). Hiện nay tuyển tập, toàn tập Vũ Trọng Phụng đã được ra mắt độc giả. Nhìn chung giai đoạn này, đặc biệt là sau thời kỳ đổi mới 1986, việc nghiên cứu Vũ Trọng Phụng được tập trung cao nhất, nhiều nhất. Bao nhiêu tâm huyết, nhiệt tình với tác phẩm và tác giả Vũ Trọng Phụng bấy lâu bị dồn nén thì nay có dịp giải bày, bộc lộ. Những “phản đề”, những tố giác nanh nọc, phủ định sạch trơn không còn nữa. Bao nhiêu năm xuất hiện trên văn đàn thì gần như bấy nhiêu năm Vũ Trọng Phụng đã phải gánh chịu số phận long đong, ba chìm bảy nổi. Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có nhà văn nào phải chịu nhiều cay nghiệt đến thế, nhưng cũng được nhiều người quan tâm đến thế. Từ khi Vũ Trọng Phụng bị “án oan” (1958) đến lúc được “ giải oan” (khi có đổi mới 1986) phải mất 28 năm trời. Cái hạn này cũng bằng Boris Pasternak khi bị bọn phản động lợi dụng tên tuổi và tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago của ông để chống Liên Xô khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn Liên Xô cho đến 1987 (trào lưu cải tổ và dân chủ hóa) danh dự và tác phẩm của ông mới được phục hồi. Những gì của Sésar phải trả lại cho Sésar, giá trị đích thực của Vũ Trọng Phụng - nhà tiểu thuyết thiên tài - có lẽ từ đây cũng được khẳng định. 2.2. Xét ở góc độ nghệ thuật Khó có thể kết luận những vấn đề nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng nói chung và nghệ thuật tiểu thuyết nói riêng đã đầy đủ hay chưa. Tất nhiên với một phong cách viết riêng mới mẻ, một tài năng hiếm có chắc chắn việc nghiên cứu Vũ Trọng Phụng chưa đến điểm dừng. Không một nhận định, không một kiến thức uyên bác nào có thể lấy làm kết luận cuối cùng cho việc thẩm định giá trị nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Trần Hữu Tá thật sự quan tâm: “...rất cần có những công trình khảo sát toàn diện văn nghiệp của ông...” [144, tr.27] và Nguyễn Hoành Khung nhận định: “Cho đến nay, một công trình nghiên cứu công phu khoa học về Vũ Trọng Phụng một cách toàn diện... khả dĩ xứng đáng với tầm vóc của nhà văn, đang còn ở phía trước.” [72, tr.330] Cũng phải thừa nhận rằng trước đây việc nghiên cứu, phê bình Vũ Trọng Phụng bị “dẫn dắt” bởi ba “sự cố” cơ bản: 17 Một là, sự cố do chính Vũ Trọng Phụng gây ra. Với cách viết tả thực, lột mặt nạ cuộc sống của khuynh hướng tả chân xã hội đã làm “chạm nọc” khuynh hướng sáng tác lãng mạn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Hai là, do muốn khai thác trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng để phục vụ ý đồ đen tối của mình, Nhân Văn Giai Phẩm đề cao Vũ Trọng Phụng. Trong lúc chúng ta tập trung loại trừ mầm độc hại do Nhân Văn Giai Phẩm gây ra, Vũ Trọng Phụng lại bị đẩy vào dòng xoáy ấy nên bị “đánh” một cách oan ức. Ba là, Hoàng Văn Hoan với vị thế chính trị đương thời đã đặt Vũ Trọng Phụng vào “tầm ngắm” nên có một số người “phụ họa”, còn lại ít ai làm chuyện “bẻ nạng chống trời” để minh oan cho Vũ. Chính bởi sự cố dẫn dắt ấy mà trong một thời gian dài Vũ Trọng Phụng bị phê phán chỉ trích tập trung vào bình diện chính trị - xã hội hơn là đi sâu vào vấn đề nghệ thuật. Phải đến sau thời kỳ đổi mới (1986) phương diện nghệ thuật mới được các nhà nghiên cứu phê bình nhất là các luận án tập trung nghiên cứu. Trước đó, kể cả ở miền Nam không phải không có những công trình khảo cứu về nghẹ thuật nhưng còn ở số ít. Xét trên toàn bộ các công trình nghiên cứu cả qui mô lớn, vừa đến bài viết ngắn trên tạp chí ta thấy về thủ pháp nghệ thuật thường chỉ tập trung ở một số mặt như: Trào phúng với Hoàng Thiếu Sem [138], Hoàng Ngọc Hiến [43], Văn Tâm [147], Nguyễn Văn Dữ [19], Trần Đăng Thao [154], Nguyễn Quang Trung [171];Ngôn ngữ với Đỗ Đức Hiểu [47, tr.242 274], Cù Đình Tú [172], Nguyễn Thị Minh Hương [57]; Nhân vật với Đinh Trí Dũng [22], Văn Tâm [145, tr.201 - 215], Đinh Thị Chúc [16]; Thời gian nghệ thuật với Bùi Văn Tiếng [162]; Nghệ thuật trần thuật với Hoa Thị Thủy [160]; Chủ nghĩa tự nhiên với Nguyễn Thành [153]; Hiện thực chủ nghĩa với Hoàng Như Mai [87], Phan Cự Đệ [28], Phan Nguyên [105], Nguyễn Duy Diễn [18], Đỗ Long Vân [178], Trịnh Hiền Lương [84]. Đặc biệt Nguyễn Đăng Mạnh bằng hàng loạt bài viết trong Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn đã đề cập đến nhiều vấn đề về nghệ thuật và cả tư tưởng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng. Ngoài ra, mới đây Peter Zinoman, giáo sư đại học California có bài viết về Số đỏ của Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam (Tạp chí Văn học Việt Nam số 7/2002) soi rọi một cái nhìn khá mới lạ về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại. 18 Điều đáng lưu ý là các tác giả đi sâu nghiên cứu từng mặt và phần lớn tập trung ở ba tác phẩm tiêu biểu là Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ còn các tác phẩm khác như Dứt tình, Làm đĩ, Trúng số độc đắc, Lây nhau vì tình thường ít được nhắc đến. Dẫu đi vào từng mặt hoặc một số tác phẩm, tất cả những nghiên cứu, tìm tòi đều tỏ ra tiếp cận được nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, đều có những phát hiện sâu sắc làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề, giải được những mã nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, tuy nhiên vẫn chưa phải là đầy đủ và chưa mang tính khái quát, tổng hợp được toàn bộ nghệ thuật tiểu thuyết. Bây giờ, có thời gian nhìn lại điều đặc biệt lý thú là tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã gặp sóng gió và cũng gây ra không ít sóng gió. Nó tập hợp được nhiều người có chung quan điểm, phân hóa những kẻ khác lập trường, chính kiến và bản thân nó cũng được tiếp nhận khác nhau ở từng thời điểm khác nhau trên cùng một người đọc. Do vậy, tác phẩm Vũ Trọng Phụng cho ta thấy nó vừa là quan hệ xã hội nhưng cũng vừa là quá trình xã hội. 3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3.1. Phạm vi nghiên cứu Mục đích của luận án là nghiên cứu “Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng”. Nhưng tiểu thuyết bao hàm những yếu tố nội tại cơ bản nào hay nói cách khác là đi tìm cái gì làm nên diện mạo của tiểu thuyết ? Nguyễn Xuân Nam trong mục từ “tiểu thuyết” có khái quát: “Tiểu thuyết có khả năng phản ánh những cuộc đấu tranh giai cấp phức tạp, những mối quan hệ xã hội đan chéo vào nhau trong một cốt truyện chia thành nhiều tuyến với nhiều nhân vật. Nhân vật trong tiểu thuyết cũng được mô tả tỉ mỉ từ ngoại hình đến nội tâm... Kết cấu tiểu thuyết rất đa dạng, biến hóa thường kết hợp nhiều kiểu kết cấu. Ngôn ngữ tiểu thuyết rất phong phú: ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ nội tâm các nhân vật (độc thoại nội tâm), những đoạn trữ tình ngoại đề... Tiểu thuyết có khả năng dung nạp và hòa lẫn trong nó nhiều đặc điểm, nhiều biện pháp nghệ thuật của các loại hình nghệ thuật khác.” [100, tr.390]. Nguyễn Thị Dư Khánh đề cập khi bàn đến thi pháp: “Những yếu tố nghệ thuật tạo thành tác phẩm như ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu, không gian, thời gian, giọng văn, giọng thơ.” [66, tr.15]. Còn Doãn Quốc Sỹ nêu lên ba căn cứ cho những nhà phê bình: “Bất kì một phê bình gia cổ, kim, đông, tây nào thì việc xây dựng tiểu thuyết cũng gồm ba yếu tố chính: cốt truyện, nhân vật, bối 19 cảnh.” [143]. Lượm lặt trong những cuốn sách về lý luận văn học khi đề cập đến tiểu thuyết thì chỉ lưu ý đến những vấn đề đã được Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Thị Dư Khánh, Doãn Quốc Sỹ nêu lên ở trên. Do vậy khi nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng chúng tôi xem xét trên các mặt: cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ. Nhưng sẽ không đầy đủ nếu hoàn cảnh lịch sử xã hội, tình hình văn học khi tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ra đời, tư tưởng nghệ thuật của tác giả và sự so sánh với các khuynh hướng sáng tác đương thời không được đặt ra. Do vậy, trong luận án những vấn đề ấy được chúng tôi đề cập ở một chương riêng, về tác phẩm chúng tôi khảo sát toàn bộ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng gồm 7 tác phẩm: Dứt tình, Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc, Người tù được tha theo chúng tôi xếp vào loại truyện vừa, còn Quý phái đăng dang dở trên Đông Dương tạp chí được 5 số (từ số 33 đến số 37, khoảng 10 trang khổ lớn) nên không đưa vào nghiên cứu. Ngoài ra, để thuận tiện trong việc theo dõi và tránh rườm rà luận án khi sử dụng tên nhân vật không chứa tên tác phẩm mà sử dụng phụ lục MĐ. 1. 3.2. Phương pháp nghiên cứu Khi đặt vấn đề nghiên cứu, tiếp cận nghệ thuật tiểu thuyết điều cần thiết là phải vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp để làm phương tiện khai thác. Chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: 3.2.1. Phương pháp lịch sử Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất của mối quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực cho nên tìm hiểu tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng phải gắn chặt với điều kiện lịch sử đã sản sinh ra nó. Nếu thoát ly hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội khi tiểu thuyết ra đời thì việc phân tích sẽ thiếu khách quan, trung thực. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Hyppolyte Taine: Những sản phẩm của trí tuệ loài người cũng như những sản phẩm thiên nhiên chỉ có thể giải thích được bằng hoàn cảnh. Muốn hiểu một tác phẩm nghệ thuật, một nghệ sĩ, một nhóm nghệ sĩ phải khảo sát tường tận tình trạng đại cương của trí thức và của phong tục các thời đại đẻ ra chúng. Chỉ ở chỗ đó mới thấy được cái nguyên nhân sơ thúy nó quyết định mọi cái khác. [ 150, tr. 100]. 3.2.2. Phương pháp hệ thống Bản thân mỗi tác phẩm là một cấu trúc nghệ thuật. Toàn bộ các tác phẩm nằm trong một hệ thống cấu trúc. Khi khảo sát luôn đặt mối quan hệ giữa bộ phận, cá thể với hệ thống, chỉnh 20
- Xem thêm -