Nâng cao sức cạnh tranh của pacific airlines trong vận tải hàng không

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24635 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm từ 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển của đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương… Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược, khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)…[7]. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thời gian qua có những bước tiến khá nhanh chóng và mạnh mẽ. Mặc dù vận tải hàng không vẫn nằm ngoài khuôn khổ các lĩnh vực dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO, song điều này không có nghĩa là hàng không đứng ngoài tiến trình hội nhập. Trên thực tế, ngành hàng không còn được xem là lĩnh vực có mức độ hội nhập quốc tế khá cao so với các lĩnh vực giao thông vận tải khác. Với tầm quan trọng đặc biệt của hàng không trên nhiều khía cạnh kinh tế, an ninh, chính trị, quốc phòng, ngoại giao… quá trình hội nhập của ngành hàng không luôn được Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải quan tâm chỉ đạo. Thời gian qua, Cục hàng không dân dụng Việt Nam và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng không cũng đã và đang có nhiều hoạt động hội nhập tích cực. Đối với các hãng hàng không, để tận dụng cơ hội có được từ các thị trường vận tải hàng không mới, các hãng hàng không của Việt Nam cần nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo các dịch vụ văn minh, hiện đại nhưng đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là yếu tố không thể thiếu được đối với bất kỳ sản phẩm dịch vụ nào trong thời kỳ hội nhập để tạo ra sự thu hút đối với hành khách. Nhìn một cách sâu xa hơn, vấn đề cốt lõi của các hãng hàng không Việt Nam trong quá trình hội nhập chính là phải nâng cao sức cạnh tranh. Để làm được điều này, việc chủ động tìm kiếm các nguồn lực, không ngừng đầu tư, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý là những nhiệm vụ rất quan trọng. Trong quá trình nâng cao sức cạnh tranh của hãng hàng không, việc phát triển đội ngũ người lái, tiếp viên, thợ kỹ thuật và cán bộ quản lý có ý nghĩa chiến lược. Ngoài ra, đội tàu bay của hãng phải hiện đại hóa và nâng dần tỷ lệ sở hữu. Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước và ngành, đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh của Pacific airlines trong vận tải hàng không” đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 được nghiên cứu xuất phát từ mong muốn vận dụng kinh tế chính trị Mác - Lênin vào thực tiễn hoạt động của Công ty. Xây dựng các định hướng về chiến lược nhằm mục tiêu giúp cho Công ty có một tầm nhìn xa hơn, nhạy bén hơn, năng động hơn, để có thể hoạt động một cách có hiệu quả trong thời buổi cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Trên con đường tìm kiến hướng phát triển của Công ty cổ phần Pacific airlines trong tương lai, trong điều kiện mà Nhà nước Việt Nam đang thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, sự cạnh tranh thương mại về hàng không ngày càng gay gắt và quyết liệt, thì thời cơ và thách thức được chia đều cho con đường về phía trước của công ty. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Việc kiến tạo những giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của vận tải hàng không, chủ động hội nhập kinh tế là những đòi hỏi cấp bách đối với ngành hàng không dân dụng Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hàng không đã có những đóng góp tích cực cho ngành như: - “Chiến lược kinh doanh vận tải hàng không của Tổng Công ty hàng không tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - Đài Loan” của Trần Thanh Sơn. - “Chiến lược cạnh tranh trên thị trường quốc nội của Pacific airlines” của Nguyễn Tú Hùng. - “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần hàng không Pacific airlines” của Nghiêm Xuân Quân. - “Xây dựng hàng không chi phí thấp tại Việt Nam đến năm 2020” của Dương Cao Thái Nguyên. - “Chiến lược phát triển Công ty hàng không cổ phần Pacific airlines đến năm 2010” của Trần Quang Minh... Các công trình trên có mục đích nghiên cứu, xây dựng và phương pháp tiếp cận khác nhau nên còn chưa phù hợp với tình hình vận tải hàng không của Pacific airlines. Trước sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của thực tiễn, đề tài sẽ kế thừa kết quả của các công trình đã có, đồng thời nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về những năng lực sẽ giúp Pacific airlines nâng cao khả năng cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận chung về vận tải hàng không, thực tiễn nhu cầu vận tải hàng không dân dụng trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Pacific airlines trong lĩnh vực thương mại. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích đó, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu thực tiễn những vấn đề về sức cạnh tranh của các hãng hàng không dân dụng, thông qua đó định hình những khả năng cạnh tranh của hãng. - Nghiên cứu để làm rõ sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của Pacific airlines trong hội nhập kinh tế quốc tế. - Đề ra một số lộ trình, phương án cụ thể và một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hãng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động hàng không dân dụng bao gồm nhiều lĩnh vực như hoạt động không lưu, hệ thống cảng hàng không sân bay, hoạt động vận tải… Luận văn tập trung vào lĩnh vực vận tải hàng không nội địa của Pacific airlines, bao gồm vận tải hành khách và hàng hóa. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trong nước. - Nghiên cứu nhu cầu thị trường vận tải hàng không trong nền kinh tế xã hội nước ta đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, những tiềm lực có thể giúp vững bước trên con đường hội nhập, thực sự đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Đề tài lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, các lý thuyết về quản trị và các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Sử dụng việc khảo sát tình hình thực hoạt động vận tải hàng không làm cơ sở thực tiễn. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: - Phương pháp tổng hợp số liệu và các báo cáo tổng kết thực tiễn về hoạt động vận tải hàng không trong thời gian qua tại Việt Nam. - Phương pháp thống kê phân tích, hệ thống, chọn mẫu so sánh và một số phương pháp nghiên cứu khác. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Các phương án và giải pháp được nêu ra trong đề tài là kết quả của sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực vận tải hàng không trong nước trước xu thế hội nhập. - Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường nội địa khi đất nước mở cửa, tạo tiền đề phát triển bền vững cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Những phân tích và đề xuất của đề tài đều dựa trên cơ sở khoa học và phù hợp với khả năng của Pacific airlines, đề tài có thể là tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH DOANH VẬN TẢI HÀNG KHÔNG 1.1 . CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 1.1.1.1. Cạnh tranh và phân loại cạnh tranh Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Từ cạnh tranh được giải thích là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích nhất định. Theo tiến trình lịch sử các học thuyết kinh tế, các học giả cũng đã đưa ra rất nhiều những quan niệm về cạnh tranh. Theo Adam Smith, cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội. Nhờ sự cạnh tranh của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra thông qua thị trường và giá cả. Do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị trường. A.Smith cho rằng, nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì sự cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác, cạnh tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn hơn. Trong lý luận cạnh tranh của mình, quan điểm nghiên cứu của Mác trước hết chú ý đến là sự cạnh tranh giữa những người sản xuất và cạnh tranh giữa những người sản xuất với người tiêu dùng. Cạnh tranh kinh tế có thể xét khái quát dưới ba góc độ: Cạnh tranh giá thành, thông qua nâng cao năng suất lao động, các nhà tư bản nhằm thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng, thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hoá, hoàn thiện chất lượng hàng hoá để thực hiện giá trị hàng hoá có lợi hơn; cạnh tranh giữa các ngành, thông qua việc gia tăng tính lưu chuyển đầu tư của tư bản, nhằm chia nhau giá trị thặng dư có lợi. Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực hiện giá trị và sự phân phối giá trị thặng dư, chúng tạo nên nội dung cơ bản trong lý luận cạnh tranh của Mác. Ngược với tư tưởng xem cạnh tranh là một quá trình của các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển mới ở thế kỉ XIX, các nhà kinh tế học của trường phái Áo cho rằng: Một chỉ tiêu quan trọng về sự ra đời của lý luận cạnh tranh hiện đại là vứt bỏ việc lấy cạnh tranh hoàn hảo làm giáo điều của mô hình cạnh tranh hiện thực và tư tưởng cạnh tranh được xem xét ở góc độ là một quá trình động, phát triển. Tương ứng với điều này, đối tượng nghiên cứu trọng điểm là hình thức kết hợp các yếu tố cạnh tranh trong quá trình cạnh tranh thực tế thực hiện được tiến bộ và sáng tạo kỹ thuật. Vậy cạnh tranh là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, có kinh tế thị trường thì có cạnh tranh. Thông qua sự cạnh tranh mà các doanh nghiệp tự hoàn thiện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nền sản xuất hàng hoá trên thế giới ngày càng phát triển, thì cạnh tranh kinh tế cũng ngày càng phát triển. Đồng thời đó có thể nói chính là động lực để nền kinh tế phát triển. Những thành tựu mà nhân loại đạt được ngày hôm nay, nhân tố có đóng góp to lớn là nhờ cạnh tranh. Cạnh tranh là một quá trình từ sự vận dụng khả năng, điều kiện của chính mình, kết hợp với sự hiểu biết thị trường đang hoạt động mà một chủ thể kinh tế tìm được phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động nhằm tận dụng được tối ưu khả năng của mình vượt lên các tổ chức khác trong cùng lĩnh vực. Cạnh tranh theo quan điểm các nhà kinh tế hiện đại bao gồm nhiều nội dung, sử dụng nhiều chiến thuật, không chỉ cạnh tranh trong một sản phẩm mà cạnh tranh trong phạm vi một ngành, không chỉ cạnh tranh trong thị trường trong nước mà còn cạnh tranh trên khu vực, trên một châu lục và rộng ra, là cạnh tranh mang tính toàn cầu. 1.1.1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Xét ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là quá trình các doanh nghiệp đưa ra các giải pháp kinh tế tích cực sáng tạo nhằm tồn tại được trên thị trường và ngày càng thu được nhiều lợi nhuận trên cơ sở tạo các ưu thế về sản phẩm và trong tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, cạnh tranh không chỉ có vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp tham gia thị trường mà còn có ý nghĩa to lớn đối với người tiêu dùng, toàn xã hội. - Đối với doanh nghiệp trong ngành: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đối với ngành hàng không, việc gia tăng đội bay, tiếp cận công nghệ mới, nâng cao trình độ tổ chức quản lý, điều hành, khai thác bay,... nâng cao ưu thế cạnh tranh của mình trên thị trường. - Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh giúp thỏa mãn nhu cầu về hàng hoá dịch vụ, chất lượng sản phẩm được nâng cao cùng với mức giá phù hợp với khả năng của họ. Khách hàng của dịch vụ vận tải hàng không sẽ có yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ, nhu cầu này thay đổi theo mức độ phát triển của nền kinh tế và họ thường xuyên quan tâm đến sự đa dạng hoá của giá vé, chất lượng dịch vụ được phục vụ. - Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để giải phóng lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội. Hàng không được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, tạo động lực cho sự phát triển công nghệ khoa học, giao thông vận tải,… gia tăng năng suất lao động tạo ra những thành tựu mới trên nhiều lĩnh vực. Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Tuy nhiên, cạnh tranh không lành mạnh sẽ xảy ra tiêu cực. Vì bị cuốn hút bởi các mục tiêu giá thành, lợi nhuận,…các doanh nghiệp lớn chèn ép thị trường, nhất là các doanh nghiệp nhỏ hơn. Điều này đã gây hiệu ứng tiêu cực, thiệt hại cho người tiêu dùng, cho doanh nghiệp, cả nền kinh tế. Để khắc phục điều này cần đến sự can thiệp của Nhà nước. 1.1.1.3. Các loại hình cụ thể của cạnh tranh trong lĩnh vực hàng không * Cạnh tranh về giá: Cạnh tranh về giá trên cơ sở chất lượng và giá thành là hình thức cạnh tranh lành mạnh từ những nỗ lực của chính doanh nghiệp. Khách hàng sẽ được phục vụ một dịch vụ phù hợp với khả năng thanh toán của mình. Đối với vận tải hàng không, hệ thống giá cước mềm dẻo, phù hợp với từng đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp hướng tới, phù hợp theo từng thời điểm áp dụng, được quản lý chặt chẽ và hiện đại sẽ thể hiện tính cạnh tranh cao của doanh nghiệp, và sẽ tối đa hóa doanh thu trên từng thị trường nhất định. Hệ thống giá áp dụng cho các doanh nghiệp vận tải hàng không Việt Nam đối với các tuyến bay nội địa có phần khác với các hãng hàng không nước ngoài. Giá vé máy bay nội địa do Nhà nước quản lý. Do vậy, trên chuyến bay nội địa giá cước chưa phải là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong thực tế, các chuyến bay đã sử dụng nhiều loại máy bay thế hệ mới có thời gian bay nhanh, tiết kiệm nhiên liệu, tiện nghi hơn các máy bay thế hệ cũ nên cần thiết xây dựng bảng giá nội địa linh hoạt, tùy thuộc vào thời gian bay, hạng ghế và loại máy bay. * Cạnh tranh về dịch vụ: Năng lực cạnh tranh của vận tải hàng không được chú trọng đánh giá qua chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Các doanh nghiệp vận tải hàng không Việt Nam đã quan tâm rất nhiều đến chất lượng dịch vụ trên máy bay và dưới mặt đất. Ngoài việc xây dựng bản sắc riêng có trong mỗi sản phẩm, đặc biệt nhấn mạnh tính độc đáo khác biệt của dịch vụ mà doanh nghiệp khác không có, như sự nhiệt tình của các đại lý trong việc cung cấp thông tin, lựa chọn hành trình hợp lý giúp khách, sự thân thiện của các tiếp viên,…sẽ ăn sâu vào tiềm thức của khách. 1.1.2. Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được định nghĩa là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường của các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của hàng không là khả năng doanh nghiệp hàng không đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm mở rộng thị phần, đạt mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành, tăng ổn định và liên tục, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn, lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Tiếp cận năng lực cạnh tranh theo năng lực cốt lõi. Một năng lực cốt lõi (gây sự khác biệt) là sức mạnh độc đáo cho phép công ty đạt được sự vượt trội về hiệu quả, chất lượng, cải tiến và đáp ứng khách hàng và do đó tạo ra giá trị vượt trội và đạt được ưu thế cạnh tranh. Một công ty có năng lực cốt lõi có thể tạo ra sự khác biệt về sản phẩm của nó hoặc đạt được chi phí thấp hơn so với đối thủ. Với kết quả đó nó tạo ra nhiều giá trị hơn đối thủ và sẽ nhận được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn trung bình ngành. * Năng lực cốt lõi: Các năng lực cốt lõi (gây khác biệt) của một tổ chức sinh ra từ hai nguồn bổ sung đó là: Các nguồn lực và khả năng tiềm tàng của nó. Các nguồn lực trên nghĩa rộng nó bao gồm một loạt các yếu tố tổ chức, kỹ thuật, nhân sự, vật chất, tài chính của công ty. Các nguồn lực có thể chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. Các nguồn lực hữu hình có thể thấy được và định lượng được, bao gồm nguồn lực tài chính, tổ chức, các điều kiện vật chất, máy móc trang thiết bị và công nghệ. Các nguồn lực vô hình bao gồm tài nguyên nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng. Đối với hãng hàng không, nguồn lực hữu hình là nguồn vốn chủ sở hữu, đội máy bay, cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị, công nghệ ứng dụng… So với nguồn lực hữu hình, các nguồn vô hình là nguồn hữu hiệu hơn và nổi trội hơn trong việc tạo ra các năng lực cốt lõi. Trong nền kinh tế toàn cầu thành công của một công ty phụ thuộc vào trí tuệ, và nguồn lực có tính hệ thống nhiều hơn các tài sản vật chất của nó. Bởi vì các nguồn vô hình là các nguồn khó nhận thấy và rất khó để cho đối thủ cạnh tranh hiểu, mua lại, bắt chước hay thay thế nên các doanh nghiệp thường dựa vào nguồn lực vô hình như là nền tảng của các khả năng và năng lực cốt lõi, cho các lợi thế cạnh tranh bền vững. Một lợi ích khác của nguồn lực vô hình là so với nguồn lực hữu hình người ta dễ vận dụng hơn. Danh tiếng là một nguồn lực vô hình quan trọng tạo ra lợi thế cạnh tranh. Được hình thành chủ yếu từ các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ và truyền thông với các bên hữu quan, danh tiếng là kết quả của năng lực thị trường được các bên hữu quan đánh giá vượt trội trong nhiều năm. Một nhãn hiệu nổi tiếng và có giá trị là một ứng dụng của danh tiếng vào hình thành lợi thế cạnh tranh. Danh tiếng của một công ty có mối liên hệ với các tổ chức khác (như các nhà cung cấp, các đơn vị chính phủ,…) sẽ tác động đến việc tạo ra giá trị. Tiếp cận vào các nguồn lực như vậy giúp công ty tạo ra giá trị cao hơn. Một mối liên hệ tích cực giúp các công ty thiết lập được các liên minh với các đối tác tốt. Và các mối liên hệ tốt với các tổ chức ảnh hưởng tích cực đến danh tiếng. Nguồn lực tự nó không tạo lợi thế cạnh tranh cho công ty. Để sinh ra khả năng khác biệt, các nguồn lực phải độc đáo và đáng giá. Một nguồn lực độc đáo đó là nguồn lực mà không có công ty nào khác có được. Thách thức đối với những người làm quyết định là hiểu được giá trị chiến lược của nguồn lực vô hình và hữu hình. Giá trị chiến lược của các nguồn lực được xác định bởi mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc phát triển các khả năng, các năng lực cốt lõi và cuối cùng đến lợi thế cạnh tranh. * Các nguồn lực căn bản: Các khả năng tiềm tàng được xem như nguồn tạo ra khả năng, các nguồn lực vô hình và hữu hình là các bộ phận cơ bản dẫn đến sự phát triển lợi thế cạnh tranh. Khả năng tiềm tàng là khả năng của công ty sử dụng các nguồn lực đã được tích hợp một cách có mục đích để đạt được một trạng thái mục tiêu mong muốn. Như là sự liên kết chặt chẽ và tổ chức với nhau, các khả năng sinh ra theo thời gian thông qua các tương tác giữa các nguồn lực vô hình và hữu hình. Khái quát hơn, các khả năng tiềm tàng của một công ty là sản phẩm của cấu trúc tổ chức và hệ thống kiểm soát. Chúng xác định các quyết định được thực hiện bằng cách nào và ở đâu trong tổ chức, các hành vi tưởng thưởng, các giá trị và chuẩn mực văn hóa của công ty. Các nhà lãnh đạo kinh doanh trong môi trường toàn cầu ngày nay càng ủng hộ quan điểm rằng kiến thức nằm trong nguồn nhân sự là nhân tố quan trọng nhất trong các khả năng của công ty và có thể là gốc rễ của tất cả các lợi thế cạnh tranh. Sự phân biệt giữa nguồn lực và khả năng tiềm tàng chủ yếu để hiểu điều gì đã sản sinh ra năng lực gây khác biệt. Một công ty có thể có các nguồn lực độc đáo và đáng giá nhưng nếu nó không có khả năng tiềm tàng để sử dụng nguồn lực đó một cách hiệu quả, nó vẫn không thể tạo ra và duy trì khả năng khác biệt. Nó cũng rất quan trọng để nhận thức rằng một công ty có thể không cần phải có một nguồn lực độc đáo và đáng giá để thiết lập các khả năng khác biệt miễn là nó có được những khả năng tiềm tàng mà đối thủ cạnh tranh không có. Tóm lại, với một công ty để có năng lực khác biệt, nó phải có tối thiểu hoặc là một nguồn lực độc đáo và đáng giá và các khả năng tiềm tàng (các kỹ năng) cần thiết để khai thác nguồn lực đó hoặc là một năng lực độc đáo để quản trị các nguồn lực chung. Một năng lực gây khác biệt của công ty là mạnh nhất khi nó sở hữu cả các nguồn lực độc đáo và đánh giá cùng với năng lực quản trị các nguồn lực đó. 1.1.2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải hàng không * Các tiêu chí về chất lượng - Mức độ an toàn: Một trong những yếu tố rất quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, uy tín của một hãng hàng không là an toàn bay. Tiêu chí mà hành khách nghĩ đến đầu tiên khi lựa chọn hãng vận chuyển cho cuộc hành trình của mình. Những hãng có truyền thống về sự an toàn, an ninh hoặc luôn luôn đề cao trách nhiệm đối với tiêu chí an toàn thường được hành khách quan tâm và sử dụng nhiều hơn. Trong một hành trình bay vấn đề an toàn không chỉ là đảm bảo kỹ thuật cho máy bay mà còn là một chuỗi liên kết các hoạt động: Máy bay đảm bảo kỹ thuật, người lái tuân thủ quy trình vận hành, công tác điều hành bay, cất cánh, hạ cánh phải tuyệt đối chính xác, không thể có một sự nhầm lẫn nào, đường băng, sân bay phải được đảm bảo và được kiểm tra thường xuyên. Đặc biệt là khâu kiểm tra an ninh trước chuyến bay phải đảm bảo chắc chắn không có một nguy hiểm nào được mang lên máy bay. An toàn hàng không được thể hiện qua sự đánh giá của các cơ quan an toàn hàng không theo tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Để đạt được mức độ an toàn cao, phải định hướng tham gia vào chương trình kiểm soát an toàn theo tiêu chuẩn của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IOSA) và phải đáp ứng hàng trăm yêu cầu thuộc 8 lĩnh vực hoạt động của một hãng hàng không: + Tổ chức và hệ thống quản lý + Khai thác + Kiểm soát khai thác và điều hành bay + Kỹ thuật máy bay và công tác bảo dưỡng + Khai thác trên không + Khai thác mặt đất + Khai thác vận tải hàng hóa + An toàn, an ninh trong khai thác - Đội máy bay: Tiềm năng cạnh tranh và phát triển của một hãng hàng không là: Số lượng cơ cấu và độ tuổi trung bình của đội bay. Cơ cấu loại máy bay và số lượng máy bay sử dụng của một hãng vận chuyển thông thường khách hàng không mấy quan tâm, song khi hành khách đi lại nhiều bằng đường hàng không thì họ nắm chắc được các tiện lợi mà từng loại máy bay mang lại, vì mỗi loại máy bay có những đặc tính kỹ thuật riêng về tốc độ, tiện nghi…trong khi giá vé thông thường được quy định bởi khoảng cách vận chuyển và hạng ghế mà ít phụ thuộc nhiều vào loại máy bay. Số lượng máy bay nhiều cũng là một lợi thế trong việc xây dựng hình ảnh của hãng vận chuyển trong mắt khách hàng. Một hãng vận chuyển có số lượng lớn máy bay đồng nghĩa với khả năng thay thế linh hoạt trong những tình huống bất thường, hạn chế tình trạng chậm, hủy chuyến và giảm thời gian chờ đợi máy bay thay thế của hành khách. Độ tuổi trung bình của đội bay: Là độ tuổi của từng máy bay cộng lại rồi chia đều trên số lượng máy bay. Đội bay có độ tuổi trung bình cao thường gây bất lợi cho hãng vận chuyển, hành khách thường cho rằng máy bay mới khai thác thì rất ổn định, ít bị hỏng hóc hay sự cố và ngược lại máy bay sử dụng lâu năm thì rất dễ bị hỏng hóc, trong khi hành khách đi máy bay bao giờ cũng tiết kiệm thời gian và nhằm tránh bớt những rủi ro không đáng có (cho dù là nhỏ nhất) hành khách sẽ chọn hãng vận chuyển có nhiều máy bay thế hệ mới hơn. - Tính ổn định của lịch bay: Một yếu tố quan trọng của chất lượng sản phẩm cũng như vị thế cạnh tranh của một hãng vận chuyển là tính ổn định của lịch bay. Lịch bay ổn định sẽ đi vào tiềm thức của khách hàng. Và điều này giúp cho hãng vận chuyển có quan hệ gần gũi, gắn bó với khách hàng hơn. Lịch bay thường có mối liên hệ chặt chẽ với đội bay. Mức độ ổn định của lịch bay được thể hiện ở số lượng chuyến bay thay đổi so với số lượng chuyến bay theo kế hoạch. - Về lực lượng lao động: Lực lượng lao động là yếu tố quan trọng nhất của năng lực cạnh tranh. Xét theo các tiêu chí về năng suất lao động, rõ ràng các hãng hàng không Việt Nam còn một khoảng cách rất xa so với các hãng hàng không trong khu vực (năng suất lao động tính theo doanh thu theo số liệu của Hiệp hội hàng không châu Á - Thái Bình Dương (AAPA) năm 2003/2004 của các hãng hàng không Việt Nam đạt xấp xỉ 30% so với bình quân chung của AAPA). Ngoài những tiêu chí trên liên quan trực tiếp tới các doanh nghiệp vận tải hàng không, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác, như: năng lực cạnh tranh của toàn ngành hàng không dân dụng; các định hướng về chính trị, kinh tế văn hóa của quốc gia trong mỗi giai đoạn; v.v… Như vậy, khả năng cạnh tranh chính là sức sống của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải hàng không Việt Nam trong thời kỳ này còn khá thấp so với các hãng hàng không trong khu vực. Đây chính là khó khăn, thách thức lớn của các doanh nghiệp vận tải hàng không Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong tương lai. - Giá cả và các điều kiện điều chỉnh giá: Yếu tố không thể thiếu trong tiêu chí cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải hàng không là giá cước vận chuyển. Hành khách sử dụng các sản phẩm vận tải hàng không với các mục đích khác nhau. Mối quan tâm của họ đến giá vé cũng phụ thuộc vào địa vị xã hội và mục đích của từng cá nhân. Trong thị trường vận tải hàng không, có 4 nhóm yếu tố giá chủ yếu sau: + Giá thị trường: là giá được xây dựng theo khoảng cách vận chuyển, hạng ghế và chia thành nhiều mức giá khác nhau đi kèm theo các điều kiện vận chuyển khác nhau. Hành khách có thể lựa chọn các mức giá khác nhau trong một hành trình bay. + Giá công bố: là mức giá đã được hãng hàng không tính toán một cách cụ thể (trên cơ sở giá thành) và đăng ký với ít nhất một Chính phủ của một trong hai nước (nơi có điểm đi và điểm đến của hành trình), giá công bố được công bố rộng rãi trong các bản tin cước phí hàng không, trong máy tính trên toàn thế giới, phổ biến và thuận tiện trong việc sử dụng. + Giá kết hợp: kết hợp giữa hai loại giá công bố và giá thị trường để gia tăng tính linh hoạt của giá và tăng khả năng thu hút khách hàng. + Giá khuyến mãi: là giá được sử dụng để khuyến khích tăng nhu cầu, có thể là giảm theo mùa vụ, theo thời điểm, hành trình…và theo từng vụ việc cụ thể. - Chất lượng dịch vụ trên máy bay: Tùy thuộc vào năng lực của hãng vận chuyển, đặc điểm của thị trường mà các hãng xác định việc cải thiện sản phẩm nói chung và các dịch vụ trên chuyến bay nói riêng. Thông thường chất lượng dịch vụ trên chuyến bay được đánh giá thông qua các tiêu chí như: tiện nghi trên máy bay, thái độ phục vụ của tiếp viên hàng không, dịch vụ ăn uống và phương tiện giải trí trên máy bay. - Chất lượng dịch vụ ở mặt đất: Khách hàng được xem là có quan hệ với hãng vận chuyển từ khi tìm hiểu thông tin về lịch bay, giá vé, tiến hành mua vé máy bay, làm thủ tục vào phòng đợi, lên máy bay và đi đến điểm kết thúc hành trình. Trong suốt quá trình đó, mọi dịch vụ và giao dịch đều được khách hàng ghi nhận và đánh giá thông qua mức độ hài lòng của họ. - Hệ thống phân phối bán hàng: Hệ thống phân phối là một mắt xích quan trọng trong việc bán sản phẩm, là cầu nối giữa hãng vận chuyển và khách hàng. Có thể đánh giá tính hiệu quả của hệ thống dựa trên các tiêu chí sau: + Chất lượng dịch vụ của hệ thống bán hàng + Khả năng bán hàng: dựa trên thị phần của từng thị trường + Thị phần quốc tế: lượng hành khách quốc tế/ tổng thị trường quốc tế + Thị phần nội địa: lượng hành khách nội địa/ tổng thị trường nội địa + Chính sách khuyến mãi: Mục đích của chính sách khuyến mãi là để thu hút các khách hàng tiềm năng, nhằm gia tăng niềm tin của hành khách đối với hãng vận chuyển. + Chương trình bay thường xuyên: Là chương trình thực hiện cộng dồn điểm thưởng các hành trình của hành khách bay thường xuyên với hãng vận chuyển. Sau khi đạt một số điểm nhất định, hành khách sẽ được hưởng các ưu đãi về dịch vụ, thưởng vé… - Quan hệ khách hàng: Đây là cầu nối hãng vận chuyển với khách hàng trong thời gian thực hiện các hợp đồng vận chuyển. - Hình ảnh của hãng vận chuyển: Sau khi thực hiện việc đánh giá các sản phẩm của hãng vận chuyển, sẽ thấy được tổng quan hình ảnh của hãng. * Chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh áp dụng cho mọi ngành như: doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu…, thì ngành hàng không còn sử dụng một số chỉ tiêu thương mại sau đây để tính hiệu quả: - Khả năng tải thương mại: là khả năng thương mại của máy bay để chuyên chở hành khách, hành lý, hàng hóa. Chỉ tiêu này thường được tính bằng tấn. - Khả năng thương mại theo km (ATK): là chỉ tiêu đo lường năng lực vận chuyển của hãng hàng không. Chỉ tiêu ATK được tính bằng cách nhân khả năng tải thương mại với quãng đường bay. - Tải thương mại sử dụng theo tấn-km (RTK) là chỉ tiêu đo lường năng lực vận tải đã được sử dụng. Chỉ tiêu RTK được tính bằng cách nhân số tấn đã được vận chuyển với quãng đường bay. - Hệ số sử dụng tải là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ tải thương mại thực tế đã được sử dụng. Chỉ tiêu này là hệ số giữa RTK và ATK. - Khả năng ghế-km cung ứng (ASK): chỉ tiêu này được tính bằng cách nhân số ghế thương mại trên máy bay với quãng đường bay. - Khả năng vận chuyển hành khách theo km (RPK): chỉ tiêu này được tính bằng cách nhân số hành khách có trên máy bay với quãng đường bay. - Hệ số ghế sử dụng là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ ghế thực tế đã được sử dụng. Trên một tuyến bay, chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa số lượng hành khách được vận chuyển với tổng số ghế cung ứng. Còn trên cả mạng đường bay, chỉ tiêu này là tỷ lệ giữa số hành khách/km vận chuyển (RPK) với khả năng ghế cung ứng (ASK). Ngoài ra có thể xem xét đến các hệ số như doanh thu/ RPK, doanh thu/ ASK, chi phí/RPK, chi phí/ ASK, lợi nhuận/ vốn, lợi nhuận/ nhân công. Doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không có nhiều nét riêng biệt mang tính đặc thù, do vậy phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh cũng có những điểm khác biệt với các ngành sản xuất vật chất khác, song bao giờ cũng tập trung vào các yếu tố nguồn lực, các chính sách dài hạn của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm trên thị trường và được thể hiện dưới dạng những chỉ tiêu cụ thể để thuận tiện cho việc phân tích, đánh giá cũng như đề xuất các giải pháp. 1.2. ĐẶC ĐIỂM CẠNH TRANH TRONG THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG 1.2.1. Đặc điểm của thị trường vận tải hàng không dân dụng Mức độ và bản chất của sự cạnh tranh trong thị trường là khác nhau, chúng phụ thuộc các đặc điểm điển hình của từng thị trường. Do đó, để nghiên cứu và tìm ra giải pháp cạnh tranh của một hãng hàng không, cần phải xác định thị trường vận tải hàng không điển hình. Có 4 loại thị trường vận tải hàng không tiêu biểu: - Thị trường độc quyền: Là thị trường trong đó chỉ có một hãng vận chuyển hoạt động, hành khách không thể lựa chọn hãng vận chuyển khác ngoài hãng vận chuyển đã được chỉ định. - Thị trường cạnh tranh có độc quyền: Là thị trường vận tải hàng không trong đó có một số ít hãng hàng không hoạt động, hành khách có cơ hội lựa chọn hãng vận chuyển nhưng không nhiều và không phải lúc nào, nơi nào cũng được chọn lựa. Các hãng hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và mức độ cạnh tranh thấp. - Thị trường cạnh tranh hạn chế: Một nhóm nhỏ các hãng vận chuyển cùng nhau hoạt động và kiểm soát trong một thị trường vận tải hàng không nào đó (thường là hoạt động theo các hiệp định song phương của hai Chính phủ về vận tải hàng không ). - Thị trường cạnh tranh thuần túy: Là thị trường vận tải hàng không trong đó có nhiều hãng hàng không của nhiều quốc gia khác nhau có quyền tham gia vận chuyển một cách tự do mà không hạn chế bởi những quy định của Chính phủ. Hành khách được quyền tự do lựa chọn hãng vận chuyển. Ở thị trường này, mức độ cạnh tranh là cao nhất. Trong số các loại thị trường kể trên, thị trường cạnh tranh hạn chế là phổ biến nhất trong thị trường hàng không dân dụng thế giới hiện nay. Ngoài ra, có thể căn cứ theo quốc tịch của hãng hàng không mà chia thành thị trường hàng không nội địa, thị trường hàng không quốc tế: - Thị trường hàng không nội địa: phát triển nhằm đạt được các mục đích: + Sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế + Đáp ứng nhu cầu đi lại của thị trường trong nước + Đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế- xã hội của ngành + Đáp ứng yêu cầu của hệ thống bưu chính + Hỗ trợ phát triển quốc gia + Khắc phục thiên tai - Thị trường vận tải hàng không quốc tế: được hình thành dựa trên các qui định song phương, đa phương hoặc trong cơ chế tự do hóa bầu trời. Hiện nay trên thế giới có ba loại thị trường vận tải hàng không quốc tế gồm: + Qui định song phương + Qui định đa phương + Phi qui định 1.2.2. Đặc điểm cạnh tranh của ngành vận tải hàng không dân dụng 1.2.2.1. Đặc điểm về cung Cung trong thị trường đối với một loại hàng hóa được xác định là lượng hàng hóa mà người bán có khả năng sản xuất và bán với các mức giá khác nhau. Cung đối với một loại hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố: - Giá cả của hàng hóa đó trong thị trường: Cung sẽ tăng nếu giá tăng và ngược lại, nếu các yếu tố và các điều kiện khác được xem là không đổi. Đây là quy luật cung trong thị trường. - Giá của hàng hóa thay thế bổ sung: Khi giá của hàng hóa thay thế bổ sung tăng lên, cung của hàng hóa có xu hướng giảm xuống và ngược lại. - Công nghệ: Khả năng ứng dụng và tăng hay giảm các yếu tố sản xuất dẫn đến các thay đổi trong chi phí sản xuất và dẫn đến khả năng cung nhiều hay ít. Cung trong vận tải hàng không được thể hiện bởi tính thường xuyên, số chỗ, tải trọng trong thị trường vận tải nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại vận tải cho hành khách và hàng hóa. Cung của thị trường vận tải hàng không phụ thuộc vào các yếu tố: - Giá thị trường đóng vai trò quyết định trong mức cung. - Giá của các sản phẩm thay thế (giá của các phương tiện vận tải khác như đường sắt, đường bộ, đường thủy). - Sự tiến bộ trong công nghệ của vận tải hàng không. Ngoài ra, mạng đường bay nội địa là nhân tố chủ quan tác động đến số lượng và loại sản phẩm cung cấp trên thị trường. Mạng đường bay nước ta được xây dựng trên cơ sở 3 trung tâm trung chuyển hàng không là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ 3 trung tâm này thiết lập các đường bay tới các tỉnh, thành phố khác với thời gian nối chuyến hợp lý. Những đường bay này như những nan hoa, liên kết với nhau tạo thành một mạng lưới giao thông hàng không thuận tiện, phục vụ nhu cầu đi lại ngày càng tăng của nhân dân. 1.2.2.2. Đặc điểm về cầu Cầu đối với một loại hàng hóa nào đó nói chung là một lượng hàng hóa mà khách hàng mong muốn và sẵn sàng trả tiền. Cầu đối với một loại hàng hóa bị tác động bởi các yếu tố:
- Xem thêm -