Nâng cao năng lực cho học sinh lớp 11 về kỹ thuật trao nhận gậy trong chạy tiếp sức 4 x 100m của trường thpt chu văn an”

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Đã đăng 3355 tài liệu

Mô tả:

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, mục tiêu của Đảng ta là làm cho dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, yếu tố con người luôn chiếm vị trí hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn có chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Trong hình mẫu và phẩm chất của con người mới đó, sức khoẻ và thể lực có một vị trí quan trọng, cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong thời đại hiện nay, thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa, xã hội của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt nam, TDTT đóng vai trò quan trọng trong chính sách phát triển về kinh tế - chính trị - xã hội, nhằm chăm lo và thoả mãn nhu cầu về văn hoá, tinh thần cho mọi người. TDTT là lĩnh vực được mọi người yêu thích, được mọi tầng lớp trong xã hội hưởng ứng, quan tâm và tham gia tập luyện sôi nổi. Song song với vai trò đó, trong các trường học, nhiệm vụ Giáo dục thể chất (GDTC) trong nhà trường cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh những hiểu biết và những kỹ năng cần thiết về lĩnh vực TDTT, những môn thi đấu Olympic, thể thao quần chúng... Do vậy công tác GDTC trong nhà trường là một trong những nội dung quan trọng không chỉ ở ngành Giáo dục và Đào tạo mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội. Mục đích của công tác GDTC ở nước ta là bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người toàn diện, có sức khoẻ dồi dào, có thể lực cường tráng, dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp của Đảng một cách đắc lực và sống một cuộc sống vui tươi, lành mạnh, có đủ năng lực để học tập, lao động, xây dựng và bảo vệ tổ quốc như Bác đã từng nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khỏe mạnh tức là góp phần cho cả nước khỏe mạnh” 1 Điền kinh là môn thể thao có nguồn gốc lịch sử từ lâu đời, nó hình thành cùng với sự phát triển của lịch sử loài người nhằm mục đích là tăng cường sức khỏe cho con người, là môn thể thao rất phong phú và đa dạng, đã thu hút đông đảo các lực lượng tham gia tập luyện, nó làm nền tảng cho rất nhiều môn thể thao khác, giúp cho người tập phát triển và nâng cao các tố chất thể lực, đặc biệt là đối tượng học sinh phổ thông với tác động tích cực là phát triển các tố chất vận động như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo... đồng thời qua đó bồi dưỡng cho người tập những phẩm chất đạo đức, tinh thần dũng cảm ngoan cường, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể... Hơn nữa, TDTT trong nhà trường phổ thông chính là nơi phát hiện nhân tài thể thao cho đất nước. Đặc biệt môn Điền kinh là môn thể thao “Nữ hoàng” không chỉ phong phú, đa dạng hấp dẫn, phù hợp mọi lứa tuổi, giới tính, mà còn là một nội dung thi đấu chủ yếu (bao gồm nhiều nội dung) trong các kỳ Hội khoẻ phù đổng, Đại hội thể dục thể thao, Seagames, Asiad, Olympic... trong đó có nội dung chạy tiếp sức. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động TDTT, chúng ta thấy rằng muốn tập luyện và thi đấu đạt thành tích cao, người tập cần phải nắm chắc kỹ thuật và các bước thực hiện động tác. Muốn vậy, người học phải trải qua quá trình tập luyện với những bài tập phù hợp với từng môn thể thao, phù hợp với đặt điểm tâm sinh lý, đặc điểm giải phẩu của từng đối tượng, lứa tuổi... mà quá trình này hầu hết phụ thuộc vào sự tổ chức, sắp xếp các bài tập của người thầy, gắn liền với sự tích cực học tập của người trò để hình thành nên kỹ xảo vận động. Trong chương trình môn Thể dục lớp 11,"chạy tiếp sức" là một trong những nội dung giảng dạy chính khoá nằm trong bộ môn Điền kinh, đây là một môn học cần đến tất cả các tố chất vận động trong TDTT, đặc biệt là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các thành viên trong đội chạy mà chủ yếu là kỹ thuật phối hợp trao nhận gậy ở trong khu vực trao nhận gậy, tốc độ và kỹ thuật xuất phát. Trong đề tài nghiên cứu này, tôi chỉ đề cập đến kỹ thuật trao 2 nhận gậy trong chạy tiếp sức. Đây là nội dung chính trong chương trình giảng dạy chính khoá, đồng thời là môn được đưa vào chương trình thi đấu trong Hội khoẻ Phù Đổng các cấp. Tuy nhiên do thời gian trong phân phối chương trình của nội dung chạy tiếp sức chỉ có 9 tiết mà môn học này rất mới đối với học sinh lớp 11 do đó đòi hỏi phải trang bị nhiều kiến thức, nhiều nội dung kỹ thuật. Các bài tập bổ trợ, bài tập dẫn dắt trong chương trình sách giáo khoa có hạn cũng như một số trường không đủ điều kiện về sân tập, vì vậy việc giảng dạy kỹ thuật này không đủ đáp ứng trong việc trang bị kỹ năng về kỹ thuật cho học sinh làm đa số học sinh không nắm được kỹ thuật một cách thuần thục. Để nâng cao năng lực, sáng tạo cho học sinh trong quá trình học tập và đáp ứng được yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng của bài học, vấn đề đặt ra ở đây là cần có phương pháp sử dụng một số bài tập phù hợp với điều kiện như đã nói trên là rất cần thiết trong giảng dạy môn chạy tiếp sức, có như vậy mới mong hình thành nên kỹ năng kỹ xảo vận động cho các em học sinh một cách nhanh chóng và vững chắc. Qua thực tiễn giảng dạy môn Thể dục ở trường THPT Chu Văn An trong những năm qua, trong phân phối chương trình mới hiện nay, chủ đề môn học tương đối phong phú, nhiều môn có tính hấp dẫn cao, đặc biệt là nhưng môn đối kháng hấp dẫn như Bóng đá, Bóng chuyền, cầu lông, Đá cầu… thì Điền kinh là môn học mà học sinh ít ưa thích nhất, trong đó có môn chạy tiếp sức 4 x 100m. Vì vậy khi học môn này, học sinh ít có sự nổ lực trong tập luyện, hay nhàm chán. Để nâng cao chất lượng môn học này, bằng kinh nghiệm của mình cùng với sự trao đổi, giúp đỡ của nhiều đồng nghiệp tôi lựa chọn đề tài: “NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 11 VỀ KỸ THUẬT TRAO NHẬN GẬY TRONG CHẠY TIẾP SỨC 4 X 100 M CỦA TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN” Môn chạy tiếp sức đối với học sinh lớp 11 hoàn toàn mới mẽ, đây là lần đầu tiên các em tiếp xúc với môn thể thao mang tính tập thể cao, có sự phối 3 hợp chặc chẽ với nhau trong thi đấu mà không được phép mắc sai sót. Sáng kiến kinh nghiệm này là bước đầu có thể góp phần làm phong phú thêm kinh nghiệm và hiệu quả trong giảng dạy kỹ thuật chạy tiếp sức 4 x 100m cho học sinh lớp 11, đáp ứng được yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo năng lực của học sinh hiện nay cấp trung học phổ thông. 4 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Từ mục đích, ý nghĩa đã trình bày trong phần đặt vấn đề, nhiệm vụ của sáng kiến kinh nghiệm này là dựa vào cơ sở lý luận của việc sử dụng các bài tập trong chạy tiếp sức, chủ yếu là những bài tập kỹ thuật trao nhận gậy để xây dựng nên phương pháp sử dụng những bài tập nhằm nâng cao hiệu quả trong môn chạy tiếp sức. 1. Căn cứ vào cơ sở lý luận về đặc điểm giải phẩu, tâm lý, sinh lý của học sinh phổ thông lứa tuổi từ 16-19 1.1. Đặc điểm giải phẩu sinh lý Khi bước vào cấp THPT, cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận trong cơ thể vẫn tiếp tục lớn lên nhưng chậm dần, chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đã được nâng cao, cụ thể: - Hệ xương Ở lứa tuổi này, hệ xương các em đã bắt đầu giảm phát triển, sụn ở hai đầu xương vẫn còn phát triển nhưng chuyển thành xương ít, cột sống đã ổn định dáng nhưng vẫn còn dễ bị cong vẹo nếu như tập những bài tập sai lệch. - Hệ cơ Giai đoạn này cơ bắp các em đã phát triển nhưng lực duỗi vẫn còn yếu. Do đó việc phát triển sức nhanh cho các em gặp nhiều thuận lợi nhưng sức mạnh thì hiệu quả không cao. - Hệ tuần hoàn Đây là giai đoạn đang phát triển và hoàn thiện, trọng lượng và sức chứa của tim tương đối hoàn chỉnh, khả năng hồi phục của mạch và huyết áp sau vận động tương đối nhanh, tuy nhiên hiện tượng cao huyết áp tạm thời vẫn còn xãy ra do các chất nội tiết tiết ra nhiều vì tuyến giáp và tuyến yên hoạt động mạnh làm rối loạn sự chi phối của hệ thần kinh, do đó trong giảng dạy 5 cần phải thận trọng trong việc đưa ra các bài tập có cường độ cao và phát triển sức bền, tránh hiện tượng gây sốc trọng lực cho các em. - Hệ hô hấp Chức năng hô hấp tương đối hoàn thiện, nhịp thở khoảng 14 – 16 nhịp/ phút. Thể lực hoạt động tăng nhờ tăng khối lượng của phổi và sự phát triển của lồng ngực cũng như các cơ hô hấp. Dung lượng phổi tăng nhanh, khả năng trao đổi khí cao, tầng số ổn định nhưng các cơ thở vẫn còn yếu, do đó cần chú ý cho các em thở sâu và chậm để tăng cường cơ năng hô hấp. - Hệ thần kinh Đang tiếp tục phát triển và đi đến hoàn thiện, khả năng tư duy và trừu tượng của em rất cao nhưng cơ chế hưng phấn của hệ thần kinh cao hơn cơ chế ức chế, dễ dẫn đến sự mất cân bằng, đây là điều cần lưu ý của người thầy trong quá trình giảng dạy. 1.2. Đặc điểm tâm lý Ở lứa tuổi này các em đã phát triển đầy đủ các chức năng tâm lý, là thời kỳ mà nhân cách đã được hình thành và có tính độc lập cao, là thời kỳ thống nhất hài hoà của con người gắn liền với sự nâng cao một cách rõ rệt về năng lực học tập, hình thành căn bản về quá trình phát triển mạnh mẽ về thể chất cũng như tinh thần. Khi tiến hành giáo dục thể chất cho các em cần phải nghiêm túc thẳng thắn, phải động viên khen thưởng, kỷ luật đúng mức thì mới giúp các em phát triển kiện toàn cả thể chất lẫn tinh thần. Các em đã tỏ ra mình đã là người lớn nên đòi hỏi mọi người xung quanh phải tôn trọng mình, các em đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích và tổng hợp, ưa hoạt động, dễ tiếp thu nhưng mau chán, dễ bị môi trường tác động... Khi thành công dễ tự mãn, khi thất bại rất mau chán, vì vậy người dạy cần có những biện pháp giáo dục cho phù hợp với các em ở lứa tuổi này. Từ cơ sở giải phẫu, tâm sinh lý đó, khi lựa chọn bài tập phải phù hợp với đặc điểm của các em, sử dụng các bài tập phải gây được sự hứng thú, kích thích sự tập luyện tự giác tích cực. 6 2. Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp giảng dạy các bài tập để nâng cao năng lực tao nhận gậy Việc cơ bản nhất trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác là xây dựng và hình thành kỹ năng kỹ xảo cho người tập, khi tiến hành phải dựa trên nguyên tắc là từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chưa biết để làm cơ sở tiếp thu cái biết. Để hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động, người tập phải được lặp đi lặp lại nhiều lần kỹ năng vận động để nhằm biến kỹ năng vận động đó thành kỹ xảo, nghĩa là thực hiện động tác một cách tự động hoá. Để rút ngắn quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động thì trong quá trình giảng dạy, người dạy phải lựa chọn những phương pháp phù hợp với những bài tập mang tính hiệu quả cao. Muốn vậy phải căn cứ vào độ phức tạp, độ khó của bài tập và cấu trúc của động tác cần trang bị cho học sinh. 2.1. Giảng dạy động tác Để trang bị kiến thức và kĩ thuật cho học sinh trong TDTT là một quá trình sư phạm sử dụng các biện pháp tổ chức có mục đích nhằm làm cho các em có khả năng tiến hành các động tác thể thao bằng kỹ thuật được nắm vững một cách có phối hợp nhịp nhàng và mang tính chuẩn xác cao. Quá trình giảng dạy một kỹ thuật được chia ra làm 3 giai đoạn, đó là: - Giai đoạn giảng dạy ban đầu : Nhằm trang bị các nguyên lý kỹ thuật của động tác, hình thành kỹ năng. - Giai đoạn giảng dạy sâu chi tiết: Nhằm nâng cao kỹ năng vận động lên mức hoàn thiện, định hình động lực đã được in lên võ não và cơ quan thị giác (thông qua phương pháp trực quan và nhờ quá trình lặp lại bài tập). - Giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật động tác: Để định hình động lực đã in trên võ não được xây dựng chắc chắn và thực hiện bài tập một cách tự động hoá. Để nâng cao năng lực cho học sinh trong quá trình trao nhận gậy, quá trình giảng dạy phải chú ý đến đặc điểm kỹ thuật và phương pháp sử dụng cho phù hợp. 7 2.2. Đặc điểm kỹ thuật trao, nhận gậy trong chạy tiếp sức Trong quá trình thi đấu môn chạy tiếp sức 4x100m, việc trao nhận gậy chỉ được thực hiện trong phạm vi qui định gọi là vùng trao gậy (khu vực trao gậy). Theo luật thi đấu, vùng trao gậy có độ dài 20m (trong đó có 10m đầu nằm ở cuối đoạn trước và 10m còn lại nằm ở đầu đoạn tiếp theo) và có đánh dấu rõ ràng để người chạy dễ dàng nhận thấy. Độ rộng của đường chạy là 1,25m. Khi 2 người cùng đội chuẩn bị trao nhận gậy thì lúc đó tốc độ chạy đang ở mức nhanh nhất, do đó khi trao gậy cần phải đạt được những yêu cầu sau: - Tiến hành trao, nhận gậy mà không bị giảm tốc độ. - Thực hiện trao, nhận gậy diễn ra trong khu vực trao gậy và kết thúc trước khi ra khỏi vùng trao gậy. - Khi trao, nhận gậy xong phải tránh sự va chạm giữa 2 người để tạo thuận lợi cho người nhận và không làm cản trở đối phương ở những ô chạy lân cận (nếu cản trở đối phương sẽ bị phạm luật). Trao, nhận gậy khi đang chạy với tốc độ chạy cao đòi hỏi cả người nhận lẫn người trao phải phối hợp thật chính xác. Lúc này bất kỳ một sai sót nào cũng làm ảnh hưởng tới thành tích hoặc phạm luật thi đấu. Để thuận lợi cho việc trao và nhận gậy, người nhận gậy đứng cách khu trao gậy khoảng 7 - 10m ở tư thế xuất phát cao và quay đầu nhìn về phía sau. Khi người trao gậy chạy đến cách người nhận khoảng 10 - 12m (khoảng cách này đã qui ước trước trong quá trình luyện tập của từng đôi vận động viên) thì người nhận bắt đầu xuất phát và tăng tốc độ nhanh dần để khi cách vạch cuối cùng của khu vực trao gậy 3 - 5m thì người chạy sau đuổi kịp và trao gậy cho mình. Khoảng cách giữa 2 người trao và nhận gậy khoảng 1 – 1,3m và người trao chủ động chạy lệch qua phía tay nhận gậy của người trước (để tránh va chạm và thuận lợi cho việc trao, nhận), khi chuẩn bị trao người trao gậy phát tín hiệu : "hấp" hoặc “bắt”. Sau đó là quá trình trao, nhận gậy diễn ra. 8 2.3. Một số bài tập được sử dụng để nâng cao hiệu quả trong quá trình trao, nhận gậy của học sinh Để trao, nhận gậy tiếp sức được chính xác, điều quan trọng là trong quá trình tập luyện phối hợp giữa hai người cần xác định đúng thời điểm bắt đầu chạy (xuất phát) của người nhận và kỹ thuật lúc trao, nhận gậy. Muốn vậy người dạy và người học phải hoàn thành tốt các nhiệm vụ thông qua những biện pháp sau: - Phân tích, làm mẫu kết hợp các mô hình trực quan cho học sinh hiểu kỹ thuật. - Tại chổ tập kỹ thuật đưa tay nhận gậy (chú ý bàn tay và tư thế thân người). - Tại chổ tập kỹ thuật đánh tay kết hợp đưa tay nhận gậy. - Tại chổ trao và nhận gậy theo tín hiệu. - Vừa đi vừa trao nhận gậy. - Chạy chậm trao nhận gậy. - Chạy tốc độ vừa, tốc độ cao thực hiện trao và nhận gậy trong khu vực 20m (đường thẳng và đường vòng). Thông qua những biện pháp trên, tôi đã sử dụng những bài tập như sau: Bài tập 1: Tập kỹ thuật đưa tay nhận gậy. Cho học sinh tại chổ đưa tay về phía sau để chuẩn bị nhận gậy, mắt vẫn nhìn phía trước (theo tín hiệu). (Giáo viên sửa sai hình tay của học sinh để học sinh cảm giác được vị trí không gian của tay khi nhận gậy). * Sử dụng phương pháp đồng loạt, sau đó phân nhóm để giáo viên sửa sai, tiếp đến các nhóm theo hàng ngang thực hiện, các em hàng phía sau sửa sai cho hàng trước. Bài tập 2: Tại chổ thực hiện đánh tay rồi đưa tay nhận gậy khi có tín hiệu. 9 Đứng tư thế chân trước chân sau, thân người đổ về trước thực hiện đánh tay, khi có tín hiệu "hấp", học sinh đưa tay về phía sau để chuẩn bị nhận gậy (tay trái). * Sử dụng phương pháp đồng loạt, sau đó phân nhóm để sửa sai. Bài tập 3: Tập kỹ thuật giữ gậy và đổi tay. Bài tậy này nhằm mục đích tập cho học sinh kỹ thuật cầm gậy - giữ gậy trong khi nhận gậy - chuyển gậy qua tay phải - cầm gậy trong khi chạy và trao gậy. * Sử dụng phương pháp đồng loạt thực hiện theo hàng dọc, sau đó phân nhóm từng hàng thực hiện để sửa sai. Bài tập 4: Tập kỹ thuật trao, nhận gậy tại chổ. - Theo đội hình hàng ngang: Lớp đứng thành 4 hàng, 2 hàng có gậy thực hiện trao gậy, 2 hàng không có gậy thực hiện kỹ thuật nhận gậy, sau đó đổi tập. Sử dụng bài tập này nhằm tăng số lần thực hiện cho học sinh. - Theo đội hình hàng dọc: Cách tập như bài tập trên, khi gậy trao đến hết hàng thì quay đằng sau rồi tập tiếp. Bài tập này giáo viên rất dễ phát hiện sai sót và sửa sai. - Theo đội hình vòng tròn: Bố trí cứ 4 học sinh có 1 gậy và thực hiện theo phương pháp dòng chảy, sau đó đổi chiều tập. Bài tập này sẽ tăng số lần lặp lại kỹ thuật trao nhận gậy rất nhiều. Tõ 1 - 1.3 m Bài tập 5: Đi bộ trao nhận gậy tiếp sức 10 - Luyện tập theo hàng ngang: Thực hiện giống bài tập 4 nhưng cả đội hình 4 hàng ngang di chuyển đi bộ kết hợp đánh tay, phát tín hiệu và thực hiện trao gậy, nhận gậy rồi quay đội hình. - Luyện tập theo đội hình vòng tròn: Cứ 5 học sinh có 1 gậy và thực hiện theo phương pháp dòng chảy . Ở bài tập này giáo viên hết sức chú ý sửa sai cho học sinh vì nếu để học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo nên thói quen (định hình động lực) rất khó sửa sau này. Bài tập 6: Chạy chậm trao nhận gậy. Bài tập này tương tự như bài tập 5 nhưng chuyển đội hình sang chạy chậm, vừa kết hợp phát tín hiệu trao nhận gậy. Bài tập 7: Tập trao nhận gậy trong vùng qui định. Trên sân tập, kẻ đường chạy (đường vòng) có vạch giới hạn khu trao nhận gậy và đoạn đường trước khu trao gậy khoảng 20m, sau khu trao gậy khoảng 15m. * Cách tập: Người nhận gậy đứng trước khu trao nhận gậy khoảng 6 – 8m tư thế xuất phát cao quay đầu lại nhìn người trao gậy. Người trao gậy tay phải cầm gậy đứng cách khu trao nhận khoảng 20m và xuất phát và chạy theo đường chạy về phía khu trao nhận gậy, người nhận gậy quan sát người cầm gậy và đúng thời điểm xuất phát (giáo viên đã hướng dẫn, có đánh dấu) sẽ xuất phát và tăng dần tốc độ. Khi 2 người chạy vào vùng trao gậy sẽ thực hiện kỹ thuật trao, nhận gậy, người nhận gậy sau khi nhận được gậy sẽ chạy tiếp khoảng 7 - 10m rồi giảm tốc độ chạy về vị trí ban đầu (nơi người trao gậy vừa mới xuất phát, lúc này người vừa nhận gậy sẽ làm nhiệm vụ trao gậy, 1 học sinh khác sẽ vào nhận gậy... Bài tập cứ thế tiếp tục theo dòng chảy... * Bài tập này thực hiện theo phương pháp dòng chảy, quay vòng. * Thực hiện cùng lúc 2 hoặc 4 đường chạy cho nam, nữ riêng. 11 * Tuỳ theo mức độ tập luyện mà giáo viên qui định tốc độ cho học sinh khi trao gậy. * Sau khi trao nhận gậy xong, 2 người có thể trao đổi, hội ý để rút kinh nghiệm cho lần sau. * Giáo viên có thể phân nhóm học sinh chạy tốc độ nhanh, vừa, yếu thành những nhóm riêng để tập luyện. * Lưu ý: Tất cả các trường hợp trao gậy đều phải phát tín hiệu trước khi trao. Bài tập 8: Bài tập hoàn thiện. Tập luyện trong điều kiện giống như thi đấu. - Những bài tập đã trình bày trên khi sử dụng cần có phương pháp phù hợp với từng dạng bài tập. Sửa sai là vấn đề rất cần thiết trong quá trình giảng dạy cho học sinh. - Trong từng dạng bài tập, người dạy cần chia ra những bài tập cụ thể. - Cùng dạng bài tập trao nhận gậy trong khu trao nhận nhưng tuỳ thuộc vào nội dung của giáo án mà đưa ra yêu cầu thực hiện tốc độ cho phù hợp. Trong chương trình Thể dục lớp 11, nội dung chạy tiếp sức chỉ có 9 tiết luyện tập, với khoản thời gian đó, tôi đã sử dụng những bài tập tương đối đơn giản nhưng phải đạt hiệu quả, vận dụng nhiều phương pháp trong giảng dạy phù hợp với đối tượng là học sinh, số lượng đông, sân bãi chật hẹp... 3. Tiến hành thực nghiệm 3.1. Phương pháp nghiên cứu 3.1.1. Phương pháp tham khảo tài liệu liên quan Tìm hiểu, nghiên cứu phân phối chương trình, sách giáo khoa lớp 11, các tài liệu liên quan và thực tiễn dạy học môn chạy tiếp sức 4 x 100m. Vận dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thể lực chuyên môn. 3.1.2. Phương pháp kiểm tra sư phạm - Vật chất: Đồng hồ bấm giây, đây đích, đường chạy tiếp sức, gậy, cờ ... 12 - Phương pháp kiểm tra: Kiểm tra 1 lần. 3.1.3. Phương pháp toán thống kê Dùng để xử lí các số liệu thu được theo các công thức toán học thống kê với sự hổ trợ của chương trình Excel. * Số trung bình cộng ( X ): Trung bình cộng là tỉ số giữa tổng lượng trị số các cá thể với tổng số các cá thể của đối tượng quan sát, được tính theo công thức: n X  Trong đó: -  X i i 1 n : là kí hiệu tổng. - X : là giá trị trung bình. - Xi : là giá trị quan sát thứ i. - n : là tổng số cá thể được quan sát. * Độ lệch chuẩn (  ): Độ lệch chuẩn nói lên mức độ phân tán hay tập trung của các trị số Xi xung quanh giá trị trung bình, được tính theo công thức: (khi n 30). n  (X x  i  X )2 i 1 n Trong đó:  x là độ lệch chuẩn. * Hệ số biến thiên ( Vc % ): Hệ số biến thiên là tỉ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn và trung bình cộng, được tính theo công thức : Vc  Trong đó: x 100% X Vc % : hệ số biến thiên. 13 * Sai số tương đối (  ) : chỉ số  là chỉ số đánh giá về tính đại diện của số trung bình mẫu đối với số trung bình tổng thể.   Trong đó: x t 05  x X là sai số chuẩn của số trung bình được tính theo công thức: x  - t 05 x n : giá trị giới hạn chỉ số t–student ứng với xác suất P = 0.05 (n  30) 3. 2. Tổ chức nghiên cứu 3.2.1. Thời gian nghiên cứu - Đề tài này được tiến hành trong năm học 2014-2015, từ ngày 15/08/2014 đến 15/11/2014; Dựa theo theo phân phối chương trình của tổ Thể dục và GDQP-AN trường THPT Chu Văn An, khối 11 môn Thể dục, năm học: 2014 - 2015. 3.2.2. Đối tượng nghiên cứu Tôi đã tiến hành áp dụng cho học sinh lớp 11 của trường trong năm học 2014 - 2015. - Nhóm đối chứng: Gồm 2 lớp 11V1, 11V2. - Nhóm thực nghiệm: Gồm 2 lớp 11V3, 11V4. Hai nhóm này tương đối đồng đều về sĩ số và trạng thái thể hình, thể lực. Trong quá trình giảng dạy, ở nhóm đối chiếu sử dụng những bài tập thông thường, vận dụng những phương pháp truyền thống như những năm trước đã dạy. Ở nhóm thực nghiệm tôi đã áp dụng phương pháp sử dụng những bài tập như đã nêu ở phần trước nhằm nâng cao năng lực trao nhận gậy trong chạy tiếp sức 4x100m. Ở nhóm thực nghiệm tôi đã tiến hành áp dụng qua những giáo án sau: 14 Giáo án Giáo án 1 Nội dung các bài tập - Giới thiệu môn học. Phương pháp Phương pháp đồng - Phân tích toàn bộ kỹ thuật chạy tiếp sức loạt, dòng chảy, quay vòng. 4x100m. - Giới thiệu cách cầm gậy. Giáo án 2 - Bài tập thể lực. - Kỹ thuật trao nhận gậy (tại chổ, đi chậm). Phương pháp đồng - Kỹ thuật xuất phát của người thứ 1. loạt, dòng chảy, - Các bài tập bổ trợ phát triển sức nhanh. - Trao nhận gậy với tốc độ chạy chậm. Giáo án 3 - Các bài tập bổ trợ chạy ngắn. quay vòng. Phương pháp đồng loạt, dòng chảy, quay vòng. - Kỹ thuật chạy giữa quãng, về đích. - Học kỹ thuật trao nhận gậy với tốc độ Phương pháp đồng chạy trung bình ngoài vùng trao gậy. Giáo án 4 loạt, dòng chảy, - Trao nhận gậy với tốc độ chạy trung bình quay vòng, phân nhóm. trong vùng qui định. - Trò chơi: Chuyền vật tiếp sức. - Ôn kỹ thuật xuất phát thấp của người thứ Phương pháp đồng Giáo án 5 1. loạt, dòng chảy, - Kỹ thuật xuất phát của người thứ 2, 3, 4. quay vòng, phân - Trao nhận gậy với tốc độ chạy trung bình trong vùng qui định. - Các bài tập bổ trợ chạy ngắn. Giáo án 6 Giáo án 7 nhóm. Phương pháp đồng - Kỹ thuật trao nhận gậy tốc độ cao ngoài loạt, dòng chảy, quay vòng, phân vùng qui định. - Trò chơi. - Ôn kỹ thuật xuất phát. nhóm. Phương pháp đồng - Kỹ thuật trao nhận gậy với tốc độ chạy tối loạt, dòng chảy, 15 đa trong vùng trao nhận gậy. quay vòng, phân nhóm, - Ôn kỹ thuật xuất phát. Phương pháp đồng - Ôn kỹ thuật trao nhận gậy với tốc độ chạy loạt, dòng chảy, quay vòng. tối đa trong vùng trao nhận gậy Giáo án 8 - Sắp xếp các đội chạy và luyện tập. - Các bài tập bổ trợ chạy ngắn. Phương pháp dòng Giáo án 9 Hoàn thiện kỹ thuật chạy tiếp sức. chảy,quay vòng. Phương pháp dòng Giáo án 10 chảy,quay vòng. Kiểm tra 4. Kết quả thực nghiệm Sau 9 giáo án giảng dạy và luyện tập, tôi tiến hành kiểm tra kết quả học tập để lấy điểm kiểm tra 1 tiết, nội dung kiểm tra được tiến hành theo từng nhóm, điểm đạt được của học sinh là dựa vào kỹ thuật và thành tích của từng học sinh trong nhóm, kết quả kiểm tra tôi tính theo thang điểm 10 để đánh giá kết quả, sau đó tôi quy điểm từ 5 trở lên là “đạt”, tôi đã thống kê theo từng thang điểm, cụ thể như sau: Bảng 1: NHÓM ĐỐI CHIẾU LỚP SĨ SỐ 11V1 34 11V2 36 THANG ĐIỂM Điểm 8,0  10,0 Điểm 6,5  7,9 Điểm 5,0  6,4 Điểm dưới 5,0 Điểm 8,0  10,0 Điểm 6,5  7,9 Điểm 5,0  6,4 Điểm dưới 5,0 Bảng 2: NHÓM THỰC NGHIỆM 16 SỐ HS ĐẠT 9 16 9 0 12 13 11 0 TỈ LỆ 26,5% 47,0% 26,5% 0 33,3% 36,1% 30,6% 0 LỚP SĨ SỐ 11V1 35 11V2 35 THANG ĐIỂM Điểm 8,0  10,0 Điểm 6,5  7,9 Điểm 5,0  6,4 Điểm dưới 5,0 Điểm 8,0  10,0 Điểm 6,5  7,9 Điểm 5,0  6,4 Điểm dưới 5,0 SỐ HS ĐẠT 11 19 5 0 14 17 4 0 TỈ LỆ 31,4% 54,3% 14,3% 0 40,0% 48,6% 11,4% 0 Từ kết quả của bảng 1 và 2 ta có: Bảng 3: KẾT QUẢ CHUNG CỦA NHÓM ĐỐI CHIẾU VÀ NHÓM THỰC NGHIỆM SỐ HS 70 SỐ HS 70 THANG ĐIỂM Điểm 8,0  10,0 Điểm 6,5  7,9 Điểm 5,0  6,4 Điểm dưới 5,0 THANG ĐIỂM Điểm 8,0  10,0 Điểm 6,5  7,9 Điểm 5,0  6,4 Điểm dưới 5,0 SỐ HS ĐẠT 21 29 20 SỐ HS ĐẠT 25 36 9 0 TỈ LỆ 30,0% 41,4% 28,6% 0 TỈ LỆ 35,7% 51,4% 12,9% 0 Từ kết quả trên cho thấy hiệu quả của phương pháp sử dụng một số bài tập mới trong quá trình giảng dạy đã nâng cao được năng lực của học sinh trong quá trình thực hiện kĩ thuật trao nhận gậy trong môn chạy tiếp sức 4 x 100m. Qua số liệu trên (bảng 3) cho thấy tỉ lệ học sinh giỏi (điểm 8-10) và 17 điểm khá (điểm 7-8) ở nhóm thực nghiệm chiếm tỉ lệ khá cao (35,7% so với 30,0% và 51,4% so với 41,4%). Qua xử lí các số liệu bằng phương pháp toán học thống kê, tôi thấy rằng kết quả điểm kiểm tra kĩ thuật trao nhận gậy của nhóm thực nghiệm (lớp 11V3 và 11V4) cao hơn so với nhóm đối chiếu (11V1 và 11V2) cho dù điều kiện tập luyện, lứa tuổi, giới tính, trình độ của 2 nhóm lúc đầu tương đối ngang nhau. Như vậy phương pháp mà tôi lựa chọn đã thực sự có hiệu quả. III. KẾT LUẬN Đối với học sinh lớp 11, chạy tiếp sức là nội dung mới. Do đó làm thế nào để nâng cao năng lực cho học sinh về kĩ năng trao nhận gậy là hết sức cần thiết. Trong đề tài này tôi đã sử dụng các bài tập nâng cao hiệu quả trao nhận gậy trong chạy tiếp sức 4x100m cho học sinh lớp 11 thực sự đã có hiệu quả, rõ ràng là đã nâng cao được thành tích cho học sinh. Vậy việc lựa chọn phương pháp sử dụng các bài tập để nâng cao năng lực trao nhận gậy trong môn chạy tiếp sức là rất cần thiết trong quá trình giảng dạy. Phương pháp giảng dạy trên là sự kết hợp những bài tập đơn giản và khó theo trình tự dạy học phù hợp với lượng vận động, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính của học sinh THPT. Dù rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài này nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót hoặc cần phải bổ sung thêm một số bài tập, những phương pháp phù hợp hơn trong quá trình giảng dạy, mong các đồng nghiệp góp ý kiến, bổ sung thêm để môn học chạy tiếp sức, đặc biệt là cự ly 4x100m ngày càng hoàn thiện và thành tích được nâng cao hơn làm tiền đề cho công tác giảng dạy và thi đấu của học sinh trong năm học sau. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tháng 1, năm 2015 18 Người viết Trần Thanh Thịnh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Thể dục 11- Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 2. Thể dục 12 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 3. Điền kinh - Nhà xuất bản TDTT - Năm 2000. 4. Luật điền kinh - Nhà xuất bản TDTT - Năm 2000. 5. Lý luận và phương pháp TDTT – Nhà xuất bản TDTT. 6. Sinh lý TDTT – Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên, Phạm Danh Tốn, Nguyễn Toán. 7. Toán học thống kê – Tác giả: Nguyễn Đức Văn. 8. Tâm lý TDTT – Nhà xuất bản TDTT Hà Nội. Tác giả: Phạm Ngọc Yến. 9. Điền kinh trong trường phổ thông - P.N.GÔIKHƠMAM -Ô.N.TRÔPHIMÔP - Nhà xuất bản TDTT - Năm 1996. 19
- Xem thêm -