Nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Sao Tháng Tám Việt Nam

  • Số trang: 66 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 73 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27602 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về cạnh tranh 1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được nhắc đến nhiều hơn tại Việt Nam trong những năm gần đây. Nhất là khi tự do hóa thương mại ngày càng được mở rộng thì cạnh tranh là cách thức để doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh được các nhà nghiên cứu đưa ra. Theo kinh tế học định nghĩa: Cạnh tranh là sự giành giật thị trường để tiêu thụ hàng hóa giữa các doanh nghiệp. Ở đây, định nghĩa mới chỉ đề cập đến cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa. (Nguồn: Trần Thị Lan Hương (2009), “Sách kinh tế học”, Nhà xuất bản tài chính). Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. (Nguồn: Dương Ngọc Dũng (2010), “Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết Michael Porter”, Nhà xuất bản thống kê). Khi nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mác cũng đưa ra khái niệm: Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. (Nguồn: Nguyễn Văn Hảo (2011), “Kinh tế chính trị”, Nhà xuất bản thống kê). Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của doanh nghiệp đó với các đối thủ trong cùng một ngành. Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả hoặc cạnh tranh về chi phí, cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao thu nhập thực tế. Với nhiều cách hiểu nghĩa khác nhau, từ đó có nhiều khái niệm được đưa ra nhưng chung quy lại về bản chất các khái niệm đưa ra đều thống nhất về nội dung: 1 Cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác. 1.1.2. Vai trò của cạnh tranh Vào thế kỷ 18, Adam Smith một nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại của Anh đã chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong cuốn sách “Của cải của các dân tộc” năm 1776. Ông cho rằng sức ép cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác và do đó nó tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội. Cho tới nay, cạnh tranh được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, không có cạnh tranh thì không thể có sự tăng trưởng kinh tế. Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình lưu thông các yếu tố sản xuất, như ngành xây dựng phát triển các công ty xây dựng có được nhiều hợp đồng thì nhu cầu về nguyên vật liệu như gạch, xi măng phục vụ cho xây dựng tăng cao. Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyên được phân phối hợp lý hơn dẫn đến điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được thực hiện mau chóng và tối ưu. Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn, luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập trung sản xuất và tích lũy tư bản. Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận giữa các ngành và trong nền kinh tế do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quân hóa lợi nhuận. Ví dụ như ngành xây dựng, bất động sản đang phát triển thì nguồn vốn sẽ được luân chuyển từ các ngành sản xuất hàng hóa sang ngành xây dựng và bất động sản. Từ đó, lợi nhuận của ngành xây dựng, bất động sản sẽ lớn hơn so với các ngành sản xuất hàng hóa. Có thể thấy thực tế trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa tự cung tự cấp, chưa có sự cạnh tranh và các doanh nghiệp còn có số lượng ít. Các doanh nghiệp sản xuất ra luôn bán được hàng vì cầu luôn lớn hơn cung, giá cả đắt đỏ khi sản xuất không thỏa mãn hết được nhu cầu của người tiêu dùng. Nhưng với nền kinh tế phát triển như hiện nay, đã xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp sản xuất cùng một mặt hàng, sản phẩm như doanh nghiệp sản xuất xe máy có Honda, Yamaha…khách hàng không chỉ được thỏa mãn về lượng mà còn thỏa sức lựa chọn mẫu mã. Việc xuất hiện đối thủ cạnh tranh các doanh nghiệp phải nỗ lực sản xuất hàng hóa với mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt hơn nữa, hệ thống phân phối rộng hơn nữa để có được lượng thị phần nhiều hơn đối thủ 2 Thang Long University Library cạnh tranh, như trước đây các hãng xe máy Honda chỉ có dòng xe số ware anpha nhưng khi có nhiều đối thủ cạnh tranh công ty Honda đã có thêm dòng xe ga Lead, Vision và có hệ thống phun xăng điện tử giúp tiết kiệm xăng hơn. Chính vì điều đó làm thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kích thích khách hàng mua xe mới, đổi xe số sang xe ga và từ đó làm hoạt động mua bán xe trở lên náo nhiệt hơn. Đối với chủ thể kinh doanh: Do động lực tối đa hóa lợi nhuận và áp lực phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng tăng cường thực lực của mình bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sản xuất, thường xuyên sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất…Qua đó cạnh tranh nâng cao trình độ về mọi mặt của người lao động, nhất là đội ngũ quản trị kinh doanh, đồng thời sàng lọc và đào thải những chủ thể kinh tế không thích nghi với sự khắc nghiệt nào của thị trường. Cũng như ví dụ đã nói ở phần vai trò đối với nền kinh tế, đối với các doanh nghiệp hoạt động luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Các chiến lược và mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra luôn muốn hướng tới mục đích cuối cùng là đạt được lợi nhuận cao nhất. Như công ty Honda trong năm 2012 đặt mục tiêu gia tăng lợi nhuận thêm 20% so với năm 2011, để đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận công ty đã tuyển dụng thêm lao động để nâng cao năng suất lao động, thường xuyên cử cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn…Việc cải thiện được chất lượng nguồn lao động đã giúp cho công ty Honda trong năm 2012 gia tăng được năng suất lao động, công ty bán được nhiều hàng, đáp ứng được nhu cầu của nhiều khách hàng hơn từ đó đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận của mình. Đối với người tiêu dùng: cạnh tranh cho thấy những hàng hóa nào phù hợp với yêu cầu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng bởi cạnh tranh làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hóa trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng tốt, hàng hóa đa dạng, phong phú. Như vậy, cạnh tranh làm lợi cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó cạnh tranh còn đảm bảo rằng cả người sản xuất và người tiêu dùng đều không thể dùng sức mạnh áp đặt ý muốn chủ quan cho người khác. Nên nói cách khác, cạnh tranh còn có vai trò là một lực lượng điều tiết thị trường. Khi trên thị trường có nhiều có nhiều doanh nghiệp sản xuất cùng một mặt hàng như cùng sản xuất sữa tươi có: Vinamilk, TH True milk, Sữa chọn, Sữa tươi Mộc Châu… người tiêu dùng sẽ được thỏa sức lựa chọn về hãng sữa mà mình đủ khả năng chi trả. Ngoài ra còn được thỏa sức lựa chọn về hương vị, chất lượng, bao bì, cách đóng gói đẹp mắt. Như cùng một nhu cầu là uống sữa để đảm bảo lượng dinh dưỡng khách hàng được lựa chọn giữa loại sữa bột và nước, sữa có đường và không đường, về hương vị có rất nhiều như hương dâu, hương socola, hương vina, hương cam, dừa hoặc có thể uống sữa tươi hoặc sữa chua lên men. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp cùng 3 sản xuất một sản phẩm sẽ có sự cạnh tranh về giá và chất lượng. Người tiêu dùng sẽ được mua sản phẩm với giá rẻ hơn như cùng là sản phẩm sữa tươi nếu sản phẩm không có gì nổi trội hơn đối thủ khác thì doanh nghiệp sẽ căn cứ vào giá của đối thủ cạnh tranh để định giá cho sản phẩm của mình ví dụ một hộp sữa tươi của Vinamik giao động từ 6 – 8 nghìn đồng thì các sản phẩm sữa tươi đi sau của sữa chọn, sữa tươi mộc châu khi ra sản phẩm sau lại có thể định giá cao hơn, từ sự cạnh tranh các doanh nghiệp sẽ không ngừng cải thiện về công nghệ để có chất lượng sữa tốt hơn và từ đó khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn đây đúng là lợi ích tăng thêm cho người tiêu dùng. Như vậy, cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác, cạnh tranh đã giúp các doanh nghiệp trả lời câu hỏi: sản xuất gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào một cách thỏa đáng nhất. Vận dụng quy luật cạnh tranh, Nhà nước và doanh nghiệp có điều kiện hoạch định các chiến lược phát triển một cách khoa học mà vẫn đảm bảo tính thực tiễn, chủ động hơn trong đối phó với mọi biến động thị trường. (Nguồn: Nguyễn Văn Dần, (2010),“Kinh tế vi mô I”, Nhà xuất bản tài chính). 1.2. Tổng quan về năng lực cạnh tranh 1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. (Nguồn: Michael Porter (1980), “Chiến lược cạnh tranh”, Nhà xuất bản thống kê). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp, đây là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Thực tế cho thấy không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng vì những yêu cầu với mỗi khách hàng là khác nhau và từng thời điểm nó lại thay đổi. Thường thì một doanh nghiệp có lợi thế về mặt này thì sẽ có hạn chế về mặt khác. Ví dụ như cùng là doanh nghiệp sản xuất sữa, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, nhưng hãng sữa TH true milk có một dây truyền sản xuất khác so với Vinamilk, hàm lượng dinh dưỡng, độ ngọt, ngậy ít đường của TH true milk cũng sẽ khác so với Vinamilk. Khách hàng sẽ có sở thích ngọt hoặc thích ngậy ít đường khác nhau, vì vậy khi Vinamilk sản xuất một sản phẩm ngọt thì sản phẩm đó sẽ khó 4 Thang Long University Library chiều lòng được những khách hàng thích uống sữa ngậy, ít đường. Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điểm hạn chế và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá cả định tính và định lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ, chất lượng sản phẩm và bao gói, kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin và xúc tiến thương mại. Năng lực nghiên cứu và phát triển, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp, trình độ lao động, thị phần sản phẩm và tốc độ tăng trưởng thị phần, vị thế tài chính, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ không giống như các hãng xe hạng sang như Honda, Toyota, Audi thì Kia morning và Huyndai là hai dòng xe đánh vào thị trường những khách hàng có thu nhập thấp, giá cả khá mềm so với các dòng xe Honda, Toyota, Audi…Các hãng xe nhỏ như Huyndai, Kia morning không có đủ thị phần và sức cạnh tranh như các hãng xe lớn và có uy tín, thị phần tốt như Audi, Honda do quy mô nguồn vốn nhỏ, cũng chưa có nhiều uy tín với khách hàng và thâm nhập thị trường thị trường muộn hơn các hãng xe lớn…Thì việc lựa chọn thị trường khách hàng thu nhập thấp, các hãng xe lớn như Honda, Toyota, Audi còn bỏ ngỏ là một sự lựa chọn thông minh vì không vướng phải quá nhiều đối thủ cạnh tranh lớn, đảm bảo tỷ lệ phần trăm thắng lợi cao hơn. Vì vậy, có thể nói nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Đặc biệt trong thời kỳ Việt Nam đã gia nhập WTO để nâng cao năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải hiểu rõ yêu cầu của WTO đối với ngành sản xuất kinh doanh của đơn vị để từ đó thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu tố để đánh giá được hiện trạng của doanh nghiệp đồng thời đề ra các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 5 1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.2.2.1. Định tính - Uy tín, thương hiệu Đây là chỉ tiêu có tính chất rất khái quát, nó bao gồm rất nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt động marketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp…Đó là tài sản vô hình, vô giá mà doanh nghiệp nào cũng coi trọng, nếu mất uy tín thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không có khả năng cạnh tranh trên thương trường. Có uy tín doanh nghiệp có thể huy động được rất nhiều nguồn lực như: vốn, nguyên vật liệu và đặc biệt là sự quan tâm, gắn bó của người lao động với doanh nghiệp hay sự ủng hộ của chính quyền địa phương với công ty. Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ “thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, biểu tượng, hình vẽ hoặc tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định một sản phẩm hoặc dịch vụ của một sản phẩm và phân biệt sản phẩm dịch vụ đó với đối thủ cạnh tranh. Có thể nói thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp. Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. Giá trị của một thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà sản xuất trong tương lai. Nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Ví dụ khi nói đến cà phê người ta sẽ nghĩ tới cà phê Trung Nguyên, khi nói tới xe máy sẽ nghĩ tới Honda…Tên hàng hóa gắn với thương hiệu trở thành một cụm từ dễ nhớ và làm cho khách hàng nhớ đến doanh nghiệp lâu hơn. (Nguồn: Đào Minh Đức, “Làm rõ khái niệm thương hiệu”, www.Margroup.edu.vn, http://www.margroup.edu.vn/thu-vien-margroup/lam-ro-khaini%E1%BB%87m-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u.html?p=1242,27 ). Có thể thấy rõ nhất trong vụ việc của Công ty Vedan, trước đây sản phẩm mì chính của Công ty Vedan được người dân Sài Gòn rất ưa chuộng sử dụng, hầu như thị phần tại thành phố Hồ Chí Minh về mì chính do công ty nắm giữ. Nhưng năm 2008 xảy ra những vụ kiện về việc công ty xả chất thải ra sông Thị Vải làm ô nhiễm môi trường và gây bệnh cho những người dân sống gần công ty sử dụng phải nguồn nước ô nhiễm. Từ một công ty có thị phần cao và được nhiều người dân ưu tiên sử dụng sản phẩm. Công ty đã bị mất đi thị phần một cách nhanh chóng khi người dân không ai dùng sản phẩm của công ty nữa, công ty nhanh chóng bị suy sụp hoàn toàn. Đây chính là một minh chứng cho vai trò to lớn của uy tín và thương hiệu và hậu quả mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi đánh mất nó. 6 Thang Long University Library Xây dựng thương hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tài chính và ý chí không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao cũng có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương hiệu đó luôn được khách hàng nhớ và nhận biết rõ ràng. Một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có thể tạo được sự ấn tượng tò mò cho khách hàng, kích thích họ sử dụng sản phẩm. Nếu khách hàng đã thích và đam mê một thương hiệu họ sẽ trung thành với thương hiệu đó. Qua việc xây dựng thành công một thương hiệu người ta có thể đánh giá về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó vì: Thương hiệu làm cho khách hàng tin tưởng chất lượng, yên tâm và tự hào khi sử dụng thương hiệu đó. Thương hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty tốt và nhanh chóng thu hút được những khách hàng mới, vốn đầu tư, thu hút nhân tài. Thương hiệu tốt giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn, tạo thuận lợi khi tìm kiếm thị trường mới. Uy tín cao của thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp cho việc triển khai khuếch trương sản phẩm dễ dàng hơn, đồng thời giảm chi phí tiếp thị, giúp doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá. Thương hiệu của người bán khi đã đăng ký bao hàm sự bảo hộ của pháp luật đối với những tính chất độc đáo của sản phẩm trước những sản phẩm bị đối thủ cạnh tranh bắt chước. Để có một thương hiệu mạnh doanh nghiệp phải xây dựng một chiến lược về thương hiệu nằm trong chiến lược marketing tổng thể căn cứ các kết quả về nghiên cứu thị trường, đồng thời phải đăng ký thương hiệu trong nước và ngoài nước. Như vậy thương hiệu mới trở thành một tài sản thực sự có giá trị đối với tất cả mọi doanh nghiệp. - Kinh nghiệm của doanh nghiệp Một công ty có bề dày kinh nghiệm trên thương trường thì cũng được đánh giá rất cao về năng lực cạnh tranh. Kinh nghiệm lâu năm sẽ giúp công ty nâng cao chất lượng sản phẩm, có thể nắm bắt và xử lý tình huống phức tạp với thời gian và chi phí thấp nhất. Như với công ty sản xuất xe máy Honda hoạt động tại thị trường Việt Nam lâu năm sẽ đoán biết được nhu cầu mua xe máy của khách hàng tăng cao vào đợt tháng 8, tháng 9, 12 trong năm. Vì có nhiều sinh viên học xa nhà, cần có xe làm phương tiện đi lại, trong tháng 12 cũng cao vì cuối năm được thưởng khách hàng sẽ có khoản tiền lớn để mua xe. Đây cũng chính là một lợi thế của doanh nghiệp trong cuộc chạy đua với các đối thủ khác vì sẽ chủ động dự trữ nguyên vật liệu, hay sản xuất trước để tung ra thị trường được những mẫu sản phẩm mới và kịp thời gian. Cũng chủ động có những chiến dịch quảng cáo, khuyến mại, giảm giá để kích thích khách hàng mua xe nhiều hơn. 7 1.2.2.2. Định lượng - Thị phần doanh nghiệp trên thị trường Thị phần phản ánh thế mạnh của doanh nghiệp trong ngành, là chỉ tiêu được doanh nghiệp hay dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh. Thị phần lớn sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp chi phối và hạ thấp chi phí sản xuất do lợi thế về quy mô. Thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ là tỷ lệ phần trăm thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được trong thời kỳ đó có các loại thị phần sau: + Thị phần tuyệt đối Thị phần tuyệt đối: thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan tính theo tháng, quý, năm và được cụ thể hóa bởi công thức tính như sau: Doanh thu của doanh nghiệp Thị phần tuyệt đối = x 100 Tổng doanh thu trên thị trường Riêng đối với ngành xây dựng có thể tính toán thị phần tuyệt đối theo công thức như sau: Giá trị tổng sản lượng xây lắp doanh nghiệp hoàn thành Thị phần tuyệt đối = x100 Tổng giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành trên thị trường Thị phần tuyệt đối là một chỉ tiêu giúp nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được trong tổng doanh thu trên thị trường về cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì doanh thu của doanh nghiệp chiếm bao nhiêu phần trăm. Thông qua chỉ tiêu này doanh nghiệp cũng đánh giá được vị trí doanh nghiệp mình đã ở đâu và xác định được các đối thủ cạnh tranh cùng quy mô. (Nguồn: Vũ Quang Kết, (2007), “Quản trị tài chính”, Trường Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông). + Thị phần tương đối Thị phần tương đối: là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Nó cho biết vị thế của công ty trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào. Thị phần tương đối = Doanh thu của doanh nghiệp x 100 Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Chỉ tiêu thị phần tương đối đánh giá được doanh nghiệp đang mạnh hơn về quy mô vốn so với doanh nghiệp hay thấp hơn. Chỉ tiêu này đơn giản dễ tính, song kết quả tính toán chưa thật chính xác, vì kết quả thu được doanh nghiệp chỉ so với một doanh 8 Thang Long University Library nghiệp duy nhất, có thể doanh nghiệp đó đang là doanh nghiệp mạnh thị phần nhiều và vốn cao, do đó khó lựa chọn được đối thủ cạnh tranh mạnh nhất, đặc biệt trong khi doanh nghiệp kinh doanh trên nhiều lĩnh vực. - Chỉ tiêu lợi nhuận Chỉ tiêu lợi nhuận được thể hiện qua một số yếu tố như sau: giá trị tổng sản lượng sản xuất, lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng sản lượng sản xuất. Đây là một trong các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp nếu các chỉ tiêu này càng cao phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao và do đó tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp của nhiều yếu tố như: con người, công nghệ, tổ chức quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật…Do đó nó là tiêu chí rất quan trọng để - đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng suất lao động được đo bằng sản lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng trên một đơn vị số lượng lao động làm ra sản phẩm đó. Năng suất lao động Lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng = Số lượng lao động làm ra sản phẩm đó Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực, khi so sánh hai doanh nghiệp sản xuất cùng ngành nghề, cùng quy mô, cơ cấu và nguồn lao động, chất lượng sản phẩm tạo ra tương đương nhau. Nhưng một doanh nghiệp có năng suất lao động cao hơn doanh nghiệp kia, thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có năng suất lao động cao hơn sẽ tốt hơn, họ có thể đưa ra mức giá thấp hơn so với doanh nghiệp có năng suất lao động thấp hơn từ đó năng lực cạnh tranh của họ cao hơn. Khi doanh nghiệp có năng suất lao động cao hơn các đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải bỏ một lượng chi phí ít hơn cho một sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh từ đó nhà quản trị đưa ra được những chiến lược cạnh tranh về giá, sản phẩm hiệu quả. (Nguồn: Vũ Anh Tuấn, Tô Đức Hạnh, Phạm Quang Phân, (2007),“Kinh tế chính trị Marx – Lenin”, Nhà xuất bản tổng hợp). 1.2.3. Các yếu tổ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.2.3.1. Nhân tố có thể kiểm soát được - Nguồn nhân lực: năng lực của ban quản trị, tổ chức cũng như người lao động có thể nói qua các nội dung sau: Thứ nhất là về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ trôi chảy, có năng suất. Ngược lại, một cơ cấu chồng chéo, quyền lực không được rõ ràng thì hoạt động sẽ kém hiệu quả. Trong đó thì cơ cấu ban lãnh đạo có phầm chất và 9 tài năng có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của doanh nghiệp. Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ biết làm cho bộ máy công ty vận hành đúng quy luật mà còn phải cho nó hoạt động linh hoạt và uyển chuyển sao cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường bên trong và ngoài của doanh nghiệp. Như trong công ty mọi quyết định cuối cùng đều do giám đốc quyết định, phê duyệt, tuy nhiên đối với những trường hợp cần có quyết định nhanh giám đốc có thể ủy quyền cho phó giám đốc hoặc các trưởng phòng. Thứ hai là công tác đào tạo: Quản trị doanh nghiệp trước hết là phải lảm công tác giáo dục đào tạo trong công ty. Lãnh đạo doanh nghiệp phải tiến hành thường xuyên việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa cho mọi thành viên. Từ đó giúp họ nhận thức tốt về pháp luật, về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, khuyến khích mọi người tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, giảm thiểu những chi phí vô ích, ngoài ra còn tạo môi trường văn hóa lành mạnh trong công ty giúp cho mọi người đoàn kết, gắn bó, tạo dựng được tập thể vững mạnh cùng phấn đấu cho mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. - Khả năng tài chính: nguồn tài chính là vấn đề không thể không nhắc đến bởi nó có vai trò quyết định đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp. Trước hết, nguồn lực tài chính được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó. Quy mô vốn tự có phụ thuộc quá trình tích lũy của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàng năm cao, phần lợi nhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy mô vốn tự có sẽ tăng. Doanh nghiệp có quy mô vốn tự có cao cho thấy khả năng tự chủ về tài chính và chiếm được lòng tin của nhà cung cấp, chủ đầu tư và khách hàng…Doanh nghiệp nên phấn đấu tăng vốn tự có lên một mức nhất định đủ đảm bảo khả năng thanh toán nhưng vẫn đủ kích thích để doanh nghiệp tận dụng đòn bầy tài chính làm tăng lợi nhuận. Để đáp ứng các yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ rất nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhà cung cấp, khách hàng, vay các tổ chức tài chính hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên cung ứng vốn và sự phát triển của thị trường tài chính. Nếu thị trường tài chính phát triển mạnh, tạo được nhiều kênh huy động với những công cụ phong phú sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư phát triển cho doanh nghiệp. Lựa chọn phương thức huy động vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài chính. - Máy móc thiết bị: đây là một bộ phận chủ yếu quan trọng nhất trong tài sản cố định, nó là cơ sở vật chất chủ yếu quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh. Nếu máy móc thiết bị và trình độ công nghệ 10 Thang Long University Library thấp kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng các chi phí sản xuất, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ không đạt được các yêu cầu về tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa sẽ rất khó xuất khẩu, tham gia thị trường khu vực và thế giới. Để đánh giá về năng lực máy móc thiết bị và công nghệ có thể dựa vào các đặc tính sau: Tính hiện đại của thiết bị công nghệ biểu hiện ở các thông số như hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất thiết kế, giá trị còn lại của thiết bị. Tính đồng bộ: thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị, công nghệ với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra. Tính hiệu quả: thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị sẵn có để phục vụ mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp. Tính đổi mới: hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động, máy móc thiết bị phải thích ứng được với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng giai đoạn, từng phương án sản xuất kinh doanh, nếu máy móc thiết bị không thể sử dụng linh hoạt và chậm đổi mới thì sẽ không đảm bảo năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Cùng với máy móc thiết bị, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Nhân tố chất lượng sản phẩm: Theo định nghĩa tiêu chuẩn ISO 9001:2008 thì chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Quan niệm này đồng nghĩa chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người tiêu dùng đánh giá cao. Để có thể sử dụng công cụ chất lượng sản phẩm để cạnh tranh có hiệu quả cần làm rõ thế nào là chất lượng sản phẩm. Cách hiểu về chất lượng sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý chất lượng sản phẩm. Bởi chất lượng sản phẩm là một phạm trù khá rộng và phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Về phía khách hàng hoặc người tiêu dùng chất lượng sản phẩm được định nghĩa là sự phù hợp và thỏa mãn nhu cầu hoặc mục đích sử dụng của họ. Về phía doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất thì chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn quy cách đã xác định trước. Nếu chỉ xét mỗi loại sản phẩm thì chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc số lượng và chất lượng các thuộc tính được thiết kế đưa vào sản phẩm. Những thuộc tính đó phản ánh công dụng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm và biểu hiện ở những chỉ tiêu chất lượng cụ thể. 11 Nếu xét trên góc độ giá trị, chất lượng sản phẩm được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để có được lợi ích đó. Dựa trên nghiên cứu các định nghĩa trên, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra định nghĩa chất lượng sản phẩm trong bộ tiêu chuẩn ISO 900 như sau: “Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các thuộc tính của sản phẩm, tạo cho sản phẩm đó khả năng thỏa mãn yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”. Định nghĩa trên cho thấy sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại của sản phẩm, các nhu cầu của khách hàng, giữa các yêu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng, giữa nhu cầu hiện tại và kỳ vọng trong tương lai của khách hàng về sản phẩm. Vì vậy định nghĩa này được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các hoạt động kinh tế hiện này. Chất lượng sản phẩm có vai trò quan trọng trong cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Một trong các căn cứ quan trọng khi người tiêu dùng quyết định lựa chọn sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp là chất lượng sản phẩm. Theo M.Porter thì năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm (chất lượng) và chi phí thấp. Vì vậy chất lượng sản phẩm trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp. Sản lượng tiêu thụ sẽ tăng cùng với sự gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng. Đặc biệt khi trình độ xã hội ngày càng cao, xã hội ngày càng văn minh, thị hiếu của người tiêu dùng đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao về mọi mặt chứ không đơn giản là tốt – bền – đẹp như trước kia. Như vậy chất lượng và cạnh tranh là hai phạm trù luôn đi cùng và gắn bó chặt chẽ với nhau, chất lượng làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngược lại năng lực cạnh tranh cao lại tạo cơ sở tài chính và vật chất cần thiết cho nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặt khác trong nền kinh tế mở hiện nay, khi tham gia các tổ chức thương mại quốc tế (AFTA, WTO…) cùng với các cơ hội kinh doanh là việc mỗi nước phải dỡ bỏ khá nhiều các hàng rào thuế quan để hàng ngoại tràn vào cạnh tranh tự do ngay trên sân nhà cùng doanh nghiệp nội địa. Tuy vậy, không một quốc gia nào lại không tìm cách bảo hộ nền sản xuất trong nước và một hàng rào mới lại được dựng lên. Đó là những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm như giấy chứng nhận về mức độ phóng xạ cho phép đối với hàng thực phẩm, chất lượng đóng gói bao bì, nhãn mác, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa…Các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm không chỉ để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi trên sân nhà mà còn nhằm hướng tới khả năng vươn ra thị trường quốc tế. 12 Thang Long University Library Để sử dụng có hiệu quả công cụ chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần làm tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm. Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Nói cách khác quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc xây dựng các quy trình đảm bảo chất lượng, thiết lập các văn bản xác định trình tự và tương tác các quy trình, đảm bảo nguồn lực và thông tin cần thiết, theo dõi kiểm tra và phân tích các quá trình nhằm đảm bảo mục tiêu chất lượng đề ra. Và hệ thống quản lý chất lượng là một hệ thống để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Đây là một hoạt động không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp để phát huy được lợi ích cạnh tranh đích thực từ sản phẩm. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng, các doanh nghiệp cần xây dựng và tổ chức triển khai các hoạt động đẩy nhanh quá trình cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng tốt nhất công cụ này cho nâng cao năng lực cạnh tranh. - Giá cả: giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa. Ngày nay, giá cả hiện diện trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành, các khu vực của nền kinh tế, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Giá cả không chỉ là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó còn biểu hiện tổng hợp các quan hệ cung cầu hàng hóa, tích lũy, tiêu dùng…Vì vậy giá cả hình thành thông qua quan hệ cung cầu hàng hóa, thông qua sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, giá được chấp nhận là giá mà cả hai bên đều có lợi. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trong những công cụ quan trọng thường được sử dụng. Bởi giá bán sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ. Hai hàng hóa có cùng công dụng chất lượng như nhau, khách hàng sẽ mua hàng hóa nào có giá thấp hơn. Có nhiều chính sách giá khác nhau được doanh nghiệp sử dụng phù hợp với sản phẩm, mục tiêu, tình hình thị trường và khả năng thanh toán của khách hàng. Trong quá trình hình thành và xác định giá bán, doanh nghiệp có thể tham khảo một số chính sách định giá cụ thể như sau: Chính sách định giá thấp: Là chính sách doanh nghiệp đưa ra mức giá thấp hơn giá thị trường: Thứ nhất là định giá thấp hơn giá thị trường nhưng vẫn cao hơn giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp sử dụng chính sách này khi sản phẩm mới thâm nhập thị trường, doanh nghiệp cần thu hút sự chú ý của khách hàng. Trường hợp này doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận thấp. Thứ hai chính sách định giá thấp hơn giá thị trường và thấp hơn giá thành sản phẩm. Trường hợp này doanh nghiệp không có lợi nhuận 13 nhưng sẽ đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ tăng nhanh vòng quay của vốn, làm cơ sở cho chính sách định giá cao sau này. Chính sách định giá cao: doanh nghiệp áp dụng mức giá cao hơn giá thị trường và cao hơn giá thành sản phẩm trong trường hợp sản phẩm mới tung ra thị trường, chưa có đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng chưa biết rõ về sản phẩm và chưa có cơ hội so sánh về giá. Giai đoạn này doanh nghiệp sẽ tranh thủ chiếm lĩnh thị trường sau đó sẽ hạ dần đến mức bằng hoặc thấp hơn giá thị trường nhưng vẫn đảm bảo thu lợi nhuận. Chính sách ổn định giá: theo chính sách này doanh nghiệp sẽ chọn một mức giá vừa phải và áp dụng trong thời gian dài để tạo uy tín và củng cố niềm tin của khách hàng về sự ổn định của sản phẩm. Nó giúp sản phẩm có những nét độc đáo khác biệt với đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp có điều kiện giữ vững và mở rộng thị phần. Chính sách bán phá giá: là chính sách doanh nghiệp bán hàng với mức giá rất thấp, không có lợi nhuận, thậm chí không bù đắp được chi phí sản xuất làm cho đối thủ không thể cạnh tranh được về giá và phải rút lui khỏi thị trường. Khi đó doanh nghiệp độc chiếm thị trường và lại chủ động nâng giá lên. Chính sách này rất nguy hiểm, ít được sử dụng vì nó là con dao hai lưỡi. Hiện nay bán phá giá được coi là phương thức cạnh tranh không lành mạnh và bị cấm sử dụng. Chính sách phân biệt giá là chính sách đưa ra những mức giá khác nhau đối với cùng một loại sản phẩm khi bán cho những đối tượng khác nhau, cho những khu vực thị trường khác nhau, hoặc khách hàng mua với số lượng khác nhau hoặc tại thời điểm khác nhau. Chính sách này giúp doanh nghiệp thỏa mãn được nhiều đối tượng khách hàng có nhu cầu và khả năng thanh toán khác nhau, tạo nên sự linh hoạt về giá để hấp dẫn khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo bù đắp được những chi phí phát sinh do sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn hoặc do vận chuyển sản phẩm đến những địa điểm khác nhau. Như vậy, việc nghiên cứu và vận dụng chính sách định giá là một vấn đề khá phức tạp đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn linh hoạt và sáng tạo bởi giá cả không chỉ được quyết định bởi giá trị hàng hóa mà còn phụ thuộc khả năng thanh toán của khách hàng. Để có thể vận dụng thắng lợi chiến lược giá cả trong cạnh tranh cần chú ý một số vấn đề sau: Việc định giá chỉ là một yếu tố trong chiến lược tổng hợp nhằm đem lại doanh thu và đảm bảo sức cạnh tranh cho doanh nghiệp nên không nhất thiết phải giảm giá hoặc tăng giá trong mọi trường hợp có biến động. Việc định giá phải gắn liền với chính sách chiếm giữ thị phần. Doanh nghiệp phải coi chiếm giữ thị phần là mục tiêu chiến lược và việc định giá phải góp phần thực hiện mục tiêu này. Chiến lược định giá phải gắn liền với chiến lược cắt giảm chi phí. Dù việc định giá phải dựa trên nhiều căn cứ khác nhau song chi phí vẫn là một yếu tố quan trọng để định giá. Chiến lược giá phải gắn liền với chiến lược cắt giảm chi phí. Dù việc định giá phải dựa trên 14 Thang Long University Library nhiều căn cứ khác nhau song chi phí vẫn là một yếu tố quan trọng để định giá. Chiến lược giá phải dựa trên cơ sở cạnh tranh vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm thích đáng đến sự thay đổi giá và chính sách giá của đối thủ cạnh tranh. Chiến lược giá phải gắn với chiến lược phân khúc thị trường để có thể áp dụng những chính sách giá khác nhau cho phù hợp. Một số nhóm khách hàng sẵn sàng chấp nhận giá cao để được sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao và nhãn hiệu nổi tiếng vì vậy doanh nghiệp nên thực hiện chính sách đặt giá cao đối với những sản phẩm này để củng cố uy tín cho sản phẩm, không bỏ lỡ cơ hội tăng lợi nhuận nhưng cần đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng đủ những gì đã hứa hẹn trong sản phẩm. Cần xây dựng hệ thống đo lường để đánh giá kết quả công tác định giá. Đây là hoạt động không thể thiếu để đánh giá hiệu quả công tác định giá, qua đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời, đáp ứng mọi biến động của thị trường. Tóm lại, chiến lược giá cả là một công cụ cạnh tranh sắc bén của doanh nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các chiến lược giá và hoạch định chiến lược giá cả sao cho phù hợp với biến động của thị trường và mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. 1.2.3.2. Nhân tố không thể kiểm soát được - Nhà cung ứng: nói đến đầu vào là nói đến việc cung cấp các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, vốn, nhân lực…Trong thời đại của sự phân công lao động, của chuyên môn hóa thì mọi doanh nghiệp không nên tiến hành sản xuất theo kiểu “tự cung, tự cấp” tức là tự lo cho mình từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra. Điều này sẽ giảm hiệu quả sản xuất vì không tận dụng và phát huy được lợi thế so sánh giữa các ngành, các quốc gia. Các doanh nghiệp nên tìm đến những nhà cung ứng đầu vào bên ngoài có uy tín vì đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho tiến trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo cho đầu ra của các quá trình đó có năng suất và chất lượng cao. Nếu nhà cung cấp không giao hàng đúng hẹn, đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng thì doanh nghiệp cũng sẽ sai hẹn với khách hàng của mình và ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ví dụ như đối với công ty xây dựng nhận được hợp đồng xây nhà có đặt mua nhà cung cấp nguyên vật liệu cát vàng, nhưng khách hàng giao nhầm thành cát đen vì vậy công ty phải yêu cầu nhà cung cấp nguyên vật liệu đổi lại cho đúng. Sẽ mất thời gian chờ đợi nhà cung cấp giao nguyên liệu đúng công ty mới có thể tiến hành và điều này làm ảnh hưởng tới việc giao nhà đúng hạn cho khách hàng theo đúng hợp đồng đã quy định. - Khách hàng: Mục đích của các doanh nghiệp là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ cao và sự trung thành 15 từ phía khách hàng. Trong điều kiện có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng lại càng trở lên quan trọng và ưu tiên hơn. Tuy nhiên, thực tế là người mua luôn muốn trả giá thấp vì vậy sẽ thực hiện việc ép giá, gây áp lực đòi hỏi chất lượng cao hơn và được phục vụ tốt hơn nữa…điều này góp phần làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Cho nên các doanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau, trên cơ sở đó tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình. - Đối thủ cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh trong ngành quyết định tính chất và mức độ tranh đua giành giật lợi thế trong ngành, mà mục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo thu được lợi nhuận cao nhất. Cạnh tranh trở lên khốc liệt khi ngành ở giai đoạn bão hòa hoặc suy thoái hoặc có đông đối thủ cạnh tranh cùng năng lực. Đây là đối tượng ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp, là động lực kích thích mỗi doanh nghiệp không ngừng phải nâng cao năng lực của mình. Vì chỉ cần doanh nghiệp có những bước đi sai lầm thì chính họ sẽ là mối đe dọa lớn của công ty trong việc giành thị trường. Do vậy, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu mọi thông tin về đối thủ như: mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng, chiến lược hiện đại, những điểm mạnh, điểm yếu, khả năng thích nghi với môi trường…của đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở đó hoàn thiện những điểm còn yếu kém, phát huy những thế mạnh của doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh hơn đối thủ. - Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: khi một ngành có sự gia tăng thêm đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc một miếng bánh sẽ bị chia nhỏ hơn làm cho tỷ suất lợi nhuận giảm, tăng thêm mức độ cạnh tranh. Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau nên họ có lợi thế trong ứng dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ. Không phải lúc nào cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhưng khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một hàng rào ngăn cảnh sự xâm nhập của các đối thủ mới. Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu thụ. - Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: bao gồm môi trường chính trị, môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường khí hậu tự nhiên cụ thể như sau. Môi trường chính trị: Đây là yếu tố có tác động lớn tới mọi doanh nghiệp, nếu quốc gia nào có môi trường chính trị ổn định, ít biến động, một thể chế minh bạch rõ ràng, dễ thực hiện thì thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp yên tâm kinh doanh vì tài sản của họ được đảm bảo, rủi ro cũng ít hơn. Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì họ có thể xác định đầu tư 16 Thang Long University Library làm ăn lâu dài tại quốc gia đó, còn với doanh nghiệp trong nước thì có điều kiện phát huy năng lực cạnh tranh của mình. Môi trường pháp lý: yếu tố này được mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trước khi bắt tay vào kinh doanh một lĩnh vực gì đó thì doanh nghiệp cũng phải xem xét tới hệ thống văn bản pháp lý của quốc gia có cho phép kinh doanh mặt hàng đó hay không, các thủ tục cần thiết là gì, những quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ra sao…Do vậy, nếu một quốc gia có hệ thống pháp luật cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tiêu cực, quá nhiều cửa và đặc biệt hay thay đổi chính sách hoặc đưa ra chính sách không phù hợp. Thực tế chứng minh đây là một rào cản lớn cho doanh nghiệp, làm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Môi trường kinh tế: Bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư…Các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp trong các ngành đó. Do đó, các chính sách kinh tế, các quy định và thủ tục hành chính phải đơn giản, minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp sẽ có tác động mạnh tới kết quả, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Môi trường khí hậu: Cũng tùy vào từng doanh nghiệp khác nhau mà sự ảnh hưởng của yếu tố này là khác nhau. Nếu quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cho thông thương quốc tế thì điều kiện tốt để doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nâng cao được năng lực của mình. Ví dụ như đối với ngành xây dựng sản phẩm là các công trình do vậy điều kiện khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm và tiến độ thi công của doanh nghiệp, vào mùa mưa lớn và nắng nóng như tháng 7 sẽ rất khó khăn trong việc xây dựng. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Ngày nay thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, thời đại của hội nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa. Đó là một sân chơi chung cho tất cả các quốc gia, là cơ hội cho doanh nghiệp nào biết tận dụng. Đồng thời nó cũng tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp nâng cao được năng lực của mình bằng việc chuyển giao công nghệ, vốn, nhân lực có trình độ tay nghề vào trong sản xuất. Bài học kinh nghiệm của một số doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề mỗi doanh nghiệp luôn quan tâm khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Những doanh nghiệp nổi tiếng đều là những doanh nghiệp đã thành công trong việc sử dụng các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. Các biện pháp họ sử dụng dù thành công nhiều hay ít đều trở thành những bài học quý báu cho các doanh nghiệp khác học tập và rút kinh nghiệm. 1.3. 17 Thứ nhất, bài học về độc lập công nghệ và công tác nghiên cứu phát triển. Samsung Electronics là tập đoàn điện từ của Hàn Quốc đã thành công trong cuộc cạnh tranh với tập đoàn Sony của Nhật Bản. Vào thời điểm lợi nhuận của Sony giảm xuống còn 2,5% thì lợi nhuận của Samsung tăng lên 12%. Nếu như tổng vốn của Sony dừng ở mức 30 tỷ đô là thì Samsung đã vượt quá ngưỡng 60 tỷ đô la. Không chỉ có Sony, Motorola là doanh nghiệp cũng phải chịu những đòn tấn công của Samsung. Một trong những nguyên nhân thắng lợi của Samsung mà các nhà phân tích đưa ra, đó là họ có được thành công nhờ độc lập về công nghệ và đã có những đầu tư thích đáng cho hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D). Trong 15 năm liền Samsung tích cực đầu tư vào thiết bị sản xuất và dây chuyền sản xuất, dần dần họ đã độc lập về công nghệ. Hiện nay, Samsung chẳng phải mua gì của ai, họ đã tự sản xuất được tất cả ngay cả các sản phẩm điện tử, từ màn hình, bộ nhớ, mạch điện, bộ giải mã, phần mềm, đĩa cứng, bộ xử lý…Bằng chính sách độc lập công nghệ, Samsung đã mua tận gốc và bán tận ngọn. Hiện nay, Samsung có 25 nhà máy trên thế giới, họ không chỉ bán sản phẩm cho người tiêu dùng mà còn bán cho đối thủ cạnh tranh. Dell là tập đoàn sản xuất máy tính cá nhân của Mỹ, từ lâu đã mua màn hình máy tính LCD của Samsung. Thông qua bài học kinh nghiệm này cho thấy vai trò của công nghệ là vô cùng quan trọng. Nhất là đối với công ty hoạt động về lĩnh vực xây dựng, việc đầu tư công nghệ tốt sẽ giúp công ty có được những ngôi nhà đẹp, chất lượng hơn, rút ngắn được thời gian xây dựng, chi phí thuê nhân công. Máy móc kỹ thuật giúp giảm thiểu được tối đa sức lao động của con người, cùng với một lượng thời gian áp dụng được khoa học kỹ thuật phát triển công ty sẽ xây dựng được nhiều công trình hơn, phục vụ được nhu cầu của nhiều khách hàng hơn.(Nguồn: Lê Hoàng, Cuộc chiến 50 năm LG và Samsung: ván bài di động Vnreview,http://vnreview.vn/tin-tuc-kinh-doanh/-/view_content/content/1528053/cuocchien-50-nam-lg-va-samsung-phan-cuoi-van-bai-di-dong, 18). Bài học thứ hai, sự cạnh tranh về thương hiệu hãng điện tử samsung không chỉ thành công khi chọn biện pháp cách tân và đổi mới công nghệ để cạnh tranh, họ còn đang theo đuổi chiến lược đưa thương hiệu Samsung trở thành một trong những thương hiệu danh tiếng, chinh phục cả hành tinh. Thông qua các hoạt động marketing, đưa ra các sản phẩm mới. Samsung đã nhanh chóng lấy được tình cảm của khách hàng mà khi nhắc đến Samsung khách hàng luôn nghĩ tới những sản phẩm nhẹ nhàng, thanh mảnh. Hơn nữa, giá cả mà Samsung đưa ra phù hợp với rất nhiều đối tượng thu nhập thấp, cao. Sản phẩm dành cho người thu nhập cao có sức cạnh tranh với dòng điện thoại cao cấp xứng tầm như Apple. Mặc dù là doanh nghiệp xâm nhập thị trường Việt Nam sau, nhưng Samsung đã thành công trong việc lưu giữ được hình ảnh trong tâm trí khách hàng mỗi khi nhắc tới điện thoại mà họ đã sử dụng sẽ có tên Samsung trong đó. (Nguồn: Trần Trọng Hải, “Cạnh tranh trong quảng cáo và thương hiệu: Nokia 18 Thang Long University Library Apple–Samsung,Quangcaoajc.vn ,https://quangcaoajc.wordpress.com/2013/10/16/timhieu-su-canh-tranh-thuong-hieu-cua-top-3-hang-cong-nghe-di-dong-apple-samsungnokia/, 16). Bài học thứ ba về việc sử dụng lợi thế cạnh tranh về giá, Wipro là tập đoàn công nghệ thông tin nổi tiếng của Ấn Độ. Năm 2000 giá trị xuất khẩu của sản phẩm phần mềm của công ty là 6,2 tỷ đô la, năm 2001 là 9,3 tỷ đô la, năm 2002 là 13,5 tỷ đô la. Azim Premji Chủ tịch tập đoàn này đã tính toán, do chi phí sản xuất tại Ấn Độ rất thấp giúp cho các công ty nội địa cạnh tranh được với các công ty nước ngoài về giá và tính năng sử dụng. Nhờ đó sản phẩm của Wipro được nhiều công ty đặt hàng, khách hàng của công ty là 300 công ty xuyên quốc gia hàng đầu về các lĩnh vực điện thoại, hàng không, phần mềm. Theo các chuyên gia, bí quyết thành công của Wipro là biết sử dụng lợi thế cạnh tranh về giá nhờ tận dụng ưu điểm cho chi phí thấp. (Nguồn: TBKTVN,“Bill Gates’ của Châu Á”,Vnexpress.net, http://kinhdoanh.vnexpress.net/tintuc/doanh-nghiep/bill-gates-cua-chau-a-2682935.html, 6). Hay có thể ví dụ gần gũi về lợi thế về giá của cá basa của Việt Nam, nước ta có những điều kiện, khí hậu hết sức phù hợp với việc nuôi cá basa mà trên thế giới không nước nào có được. Cá basa được nuôi ở điều kiện Việt Nam nhanh lớn, cá chắc và ngọt thịt hơn so với việc nuôi ở các vùng khác. Chính vì điều kiện tốt, mà các chủ nuôi cá cắt giảm được các khoản chi phí thuốc bệnh, thức ăn…Vì vậy, nước ta khi xuất khẩu sản phẩm cá basa ra nước ngoài có mức giá thấp hơn nhiều so với các nước khác mà sản phẩm lại ngon và chất lượng tốt. (Nguồn: Khôi Nguyên, “Xuất khẩu cá basa vào Mỹ gặp trở ngại”, Vnexpress.net, http://vneconomy.vn/thi-truong/xuat-khau-catra-vao-my-gap-tro-ngai-20130225093139431.htm, 25). Kết luận Chương 1: Nội dung Chương 1 đưa ra cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh thông qua các khái niệm về cạnh tranh, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và những chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh. Làm tiền đề và cơ sở để phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty xây dựng và thương mại Sao tháng tám Việt nam trong chương 2. 19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI SAO THÁNG TÁM VIỆT NAM 2.1. Tổng quan về Công ty cổ phần Xây dựng và Thương mại Sao tháng tám Việt Nam 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Sao tháng tám Việt Nam Tên công ty đầy đủ: Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Sao tháng tám Việt Nam. Địa chỉ: Số 103 Phố Định Công Thượng, Phường Định Công, Quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội. Điện thoại: 098898538. Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Sao tháng tám Việt Nam thành lập năm 2011, theo giấy phép kinh doanh số 0106046822 cấp ngày 27/11/2011 do sở kế hoạch và đầu tư Quận Hoàng Mai cấp. Ngành nghề kinh doanh: hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như xây dựng công trình giao thông, thủy lợi và xây dựng. Kinh doanh, xuất khẩu vật tư phục vụ cho ngành quảng cáo và in ấn quảng cáo. Tuy mới thành lập, thời gian hoạt động còn chưa nhiều nhưng với sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên thì trong ba năm hoạt động công ty đã xây dựng được 38 công trình giao thông và thủy lợi, trong đó tiêu biểu là dự án đường Lĩnh Nam và Nguyễn Tam Trinh. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 100 lao động biên chế, 100 lao động tự do và đã nhận được những danh hiệu thi đua đáng kể tới như: Năm 2013 công ty đã trao danh hiệu Chiến sỹ thi đua cho một vài cá nhân trong công ty có thiết kế xây dựng đẹp, những đổi mới cải tiến trong thiết kế của mình được khách hàng ưa thích, lựa chọn. Ví dụ như anh Nguyễn Văn Thành cán bộ kỹ thuật của công ty đã nhận được danh hiệu chiến sỹ thi đua với thiết kế nhà mái sử dụng tôn chống nóng, đây là một ý tưởng hết sức thiết thực có tính ứng dụng cao vì thời tiết miền Bắc có mùa hè rất nóng bức, thiết kế mái nhà sử dụng tôn lạnh chống nóng giúp giảm thiểu được nhiệt độ trong nhà vào mùa hè, hay anh Trần Đình Chiến với thiết kế bảng in quảng cáo đèn led được bố trí hợp lý có thể nhìn rõ hình ảnh vào ban đêm. Những danh hiệu, giải thưởng đã nâng cao tinh thần lao động cho cán bộ nhân viên, tích cực lao động và sáng tạo hơn trong công việc. Năm 2014 do chấp hành tốt chủ trương và chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của ngành xây dựng công ty đã đạt được danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến do Bộ xây dựng cấp ngày 3/2/2014. Có được danh hiệu này có sự góp sức của 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -