Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty tnhh may phố hiến”

  • Số trang: 55 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng. Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của cơ chế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động. Các doanh nghiệp muốn tồn tại trong thị trường phải luôn vận động biến đổi để tạo cho mình một vị trí và chiếm lĩnh những thị phần nhất định. Sự cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi họ phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả và bền vững. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, ngoài việc cạnh tranh với nhau còn phải chịu sự cạnh tranh của các công ty, tập đoàn nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh. Vì vậy vấn đề cạnh tranh không phải là một vấn đề mới, nhưng nó luôn là vấn đề mang tính thời sự, cạnh tranh khiến thương trường ngày càng trở lên nóng bỏng. Bất cứ doanh nghiệp nào, ngành nào đã tồn tại trong nền kinh tế thị trường đều chịu ảnh hưởng của sự cạnh tranh. Cạnh tranh giúp cho các doanh nghiệp, các ngành không ngừng hoàn thiện mình và đào thải những doanh nghiệp yếu kém, kinh doanh không hiệu quả từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. May mặc cũng là ngành không nằm ngoài phạm vi đó. Ngành dệt may được coi là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện đường lối của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng lên về mọi mặt, không ngừng tăng cường sản xuất, xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động - vấn đề mà toàn xã hội quan tâm. Tuy nhiên khi bước sang nền kinh tế thị trường, ngành dệt may Việt Nam đã bộ lộ nhiều yếu kém. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành còn rất hạn chế ngay cả ở thị trường trong nước. Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành đã không đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài khi họ có thế mạnh về quy mô, tiềm lực về tài chính, chất lượng nguồn nhân lực cao, định hướng tốt chiến lược kinh doanh… Dẫn đến thị trường trong nước bị thu hẹp, hoạt động kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phá sản. Các doanh nghiệp may Việt Nam muốn tồn tại và phát triển không còn cách gì hơn là phải nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ ở thị trường trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Luận văn tốt nghiệp 1 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp Công ty TNHH May Phố Hiến được thành lập từ năm 1997 theo Quyết định 439/QĐ – UB của UBND tỉnh Hưng Yên. Công ty chuyên sản xuất, gia công xuất khẩu các mặt hàng may mặc. Trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, vượt qua nhiều gian nan vất vả, Công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cùng với sự phát triển của đất nước, May Phố Hiến đang dần hoàn thiện mình và cố gắng nâng cao hình ảnh của mình trong lĩnh vực may mặc của Việt Nam. Những năm gần đây thị trường của công ty có những bước phát triển đáng kể và không ngừng được mở rộng, sản phẩm của công ty dần trở lên quen thuộc hơn với người tiêu dùng. Bên cạnh những mặt tích cực trên, Công ty vẫn còn những tồn tại. Qua điều tra tìm hiểu cho thấy doanh thu và hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian gần đây không ổn định. Một phần lý do là quy mô của Công ty chưa đủ lớn, khả năng tài chính chưa đủ mạnh, nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế… nên hoạt động kinh doanh của Công ty cũng gặp không ít khó khăn. Nhưng một nguyên nhân quan trọng hơn là tình hình kinh tế trong nước và cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 ảnh hưởng đến Công ty. Tỷ lệ lạm phát cao, mức lãi suất cao chưa từng có đã đưa Công ty vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng. Doanh thu của Công ty cuối năm 2008 và năm 2009 bị giảm sút nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Công ty. Tất cả những tác động trên đã làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến lợi nhuận, năng suất lao động, từ đó ảnh hưởng xấu đến năng lực cạnh tranh của Công ty. Khiến cho năng lực cạnh tranh của Công ty còn nhiều hạn chế, và Công ty chịu sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của những doanh nghiệp trong ngành. Thêm nữa, May Phố Hiến chưa biết cách khai thác và phát huy có hiệu quả năng lực cạnh tranh của mình. Vì vậy, hầu hết các nhà quản trị của Công ty khi trả lời phiếu điều tra đều nhận định rằng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty là vấn đề cần thiết và cấp bách. Công ty cần nhanh chóng nâng cao NLCT của mình, để giữ vững hình ảnh của Công ty, phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy việc đưa ra một số giải pháp để giúp Công ty nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường là hết sức cần thiết. 1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài. Qua thời gian thực tập, qua việc nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến. Em nhận thấy tình hình cạnh tranh hiện tại của Công ty còn nhiều điểm vướng mắc, và chưa thực sự phát huy được hết NLCT của mình. Để giải quyết được vấn đề đó thì cần phải tháo gỡ, hoàn thiện và nâng cao NLCT của Công ty. Luận văn tốt nghiệp 2 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng vấn đề cạnh tranh của Công ty em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty. 1.3. Các mục tiêu nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu luận văn, để áp dụng những kiến thức đã học cộng với đợt thực tập vừa qua giúp em có những cái nhìn cụ thể hơn về doanh nghiệp. Từ đó có cơ sở để phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Các mục tiêu nghiên cứu của luận văn là: - Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Những lý luận này nhằm mục đích đưa ra những nhận định chung nhất, toàn diện nhất, những quan điểm và lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh. - Phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến. - Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến. 1.4. Phạm vi nghiên cứu. - Không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty TNHH May Phố Hiến trên địa bàn thành phố Hưng Yên kết hợp nghiên cứu đối sánh với một số đối thủ cạnh tranh chính (tại thị trường tỉnh Hưng Yên) của Công ty như: Công ty Cổ phần Đay và May Hưng Yên, Công ty may Hồ Gươm (chi nhánh). - Thời gian: từ năm 2008 – 2010. Các giải pháp đề xuất nâng cao NLCT của Công ty TNHH may Phố Hiến được thực hiện trong giai đoạn từ 2010 – 2015. - Nội dung nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cấu thành từ nhiều yếu tố. Trong phạm vi luận văn này em chỉ tập trung nghiên cứu một số các yếu tố nguồn lực chính cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong thời gian tới trên thị trường nội địa. 1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp. Ngoài các phần: tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 4 chương: Luận văn tốt nghiệp 3 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến. Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến. Luận văn tốt nghiệp 4 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp CHƢƠNG 2: TÓM LƢỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI. 2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản. 2.1.1. Cạnh tranh. Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội.Trong giai đoạn hịên nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của DN hiện nay đầy biến động và cạnh tranh là cuộc đấu gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều lợi ích kinh tế hơn về mình. Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản, Mác đã quan niệm: “ Cạnh tranh CNTB là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.” Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một DN được coi là có sức cạnh tranh là đánh giá nó có thể đứng vững cùng với những nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế… Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau: “ Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận”. Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “mua rẻ - bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường. Theo Micheal Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. DN nào có thị phần càng lớn thì càng có vị thế, địa vị trên thị trường. Vậy có thể rút ra khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất”. Luận văn tốt nghiệp 5 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp 2.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. NLCT còn gọi là khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về NLCT của DN, cụ thể như sau:  NLCT là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. DN muốn cạnh tranh được trên thị trường thì phải có chỗ đứng. Từ các hoạt động kinh doanh DN có lợi nhuận, sản phẩm, thị trường… sẽ giúp DN quay vòng vốn, khai thác thị trường. Có như vậy, DN mới có thể cạnh tranh tốt trên thị trường.  NLCT của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. DN muốn cạnh tranh trước phải có thực lực, từ đó phát triển thành lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, cộng thêm việc đáp ứng nhu cầu khách hàng thì DN mới cạnh tranh được trên thị trường.  Có quan điểm gắn NLCT của DN với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất NLCT của DN với hiệu quả sản xuất kinh doanh,… DN có thị phần lớn hay hiệu quả sản xuất kinh doanh cao đều tạo ra lợi thế cạnh tranh cho DN mình, mà các DN khác không có được.  Một quan điểm khác cho rằng, NLCT của DN gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà DN đưa ra thị trường. Sản phẩm có một đặc điểm nào đó lợi thế hơn so với các sản phẩm cùng ngành cũng giúp cho DN có được NLCT cao. Do đó, DN muốn có được chỗ đứng trên thị trường thị phải xây dựng được thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình để cho người tiêu dùng khi nhắc đến sản phẩm cùng loại là nghĩ ngay đến sản phẩm của DN. Như vậy: “NLCT của DN là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường” – Thực chất là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. 2.2. Một số lý thuyết của năng lực cạnh tranh. 2.2.1. Quan điểm về cạnh tranh. Cạnh tranh là một phạm trù khá rộng, vì vậy có rất nhều quan điểm về cạnh tranh được đưa ra: Luận văn tốt nghiệp 6 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp  Theo Karl Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Marx đã nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hóa TBCN và cạnh tranh TBCN, Marx đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Theo quan điểm này, cạnh tranh là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.  Theo các học giả trường phái tư sản cổ điển: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình”. Các học giả trường phái tư sản cố điển đã đưa ra một quan điểm chung và tổng quát hơn về cạnh tranh. Quan điểm này đã chỉ ra rằng cạnh tranh là một phạm trù rộng lớn và khó xác định. Cạnh tranh sẽ tạo ra những khó khăn nhất định cho các thành viên trong thị trường. Các thành viên sẽ có một phần xứng đáng nếu biết cách sử dụng, khai thác có hiệu quả khả năng của mình.  Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Tính cạnh trạnh là khả năng của các DN, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện canh tranh quốc tế”. Đây là một quan điểm khác về cạnh tranh, quan điểm này đã chỉ rõ tính cạnh tranh của các DN được thể hiện qua khả năng tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động và phạm vi cạnh tranh được mở rộng trên toàn thế giới. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò với xã hội, cộng đồng hơn là khả năng tạo ra doanh thu, lợi nhuận của các DN. 2.2.2. Quan điểm về năng lực cạnh tranh.  Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả, làm cho các DN, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Vậy một DN muốn có NLCT tốt thì phải biết sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có để tạo ra mức doanh thu cao.  Quan điểm khác cho rằng: NLCT của DN là khả năng giành được phần thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh trên các mặt: chất lượng, giá cả của sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, giá trị sử dụng của hàng hóa…và người chiến thắng trong cạnh tranh được coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn. Theo quan điểm này, các DN muốn giành được thắng Luận văn tốt nghiệp 7 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp lợi trước các ĐTCT thì phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phù hợp, thực hiện tốt các dịch vụ hỗ trợ sau bán… Đây là một thách thức đối với các DN, đòi hỏi các DN phải “biết người, biết ta” để có những chiến lược kinh doanh phù hợp.  Theo quan điểm quản trị chiến lược của M.Porter (Chiến lược cạnh tranh của M.Porter, NXB Khoa học kĩ thuật Hà Nội, 1996) thì: “NLCT của các hãng được quyết định bởi sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong ngành, các lực lượng này bao gồm các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành, sản phẩm thay thế, người cung ứng, và khách hàng”. M.Porter đã nhấn mạnh vai trò của các lực lượng cạnh tranh trong ngành trong việc quyết định NLCT của DN. Đây là những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến NLCT của DN. Yêu cầu DN phải phân tích kỹ thị trường, thấu hiểu khách hàng, đánh giá đúng ĐTCT, tìm được những nhà cung ứng có chất lượng… có vậy DN mới nâng cao được NLCT của mình. 2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trƣớc. Nâng cao NLCT luôn là mối quan tâm hàng đầu của một DN. Chính vì vậy trong thời gian qua có khá nhiều công trình nghiên cứu luận văn của sinh viên các khóa trước về đề tài này với các khía cạnh, trình độ khác nhau, ví dụ như:  Đề tài: “Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty phát triển phần mềm VASC” của Trần Thu Trang - Trường ĐHTM , năm 2003. Đã đưa ra được một số nội dung chủ yếu của vấn đề NLCT trong DN. Tuy nhiên phần giải pháp còn chung chung, chưa bám sát vào thực tế của Công ty VASC.  Đề tài: “Một số biện pháp góp phần nâng cao KNCT của Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long” của Bùi Thị Minh Hồng - Trường ĐHTM năm 2003. Đã đi sâu vào nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá NLCT của một DN và phân tích được rõ nét với thực tế ở Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long.  Đề tài: “ Nâng cao KNCT của Công ty TNHH thiết bị và chuyển giao công nghệ XETT dưới góc độ quản trị” của Ngô Văn Quý - Trường ĐHTM năm 2006. Đã đưa ra nhiều số liệu cụ thể, phân tích chi tiết về NLCT của Công ty XETT. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra những giải pháp sát với tình hình thực tế của Công ty.  Đề tài: “Nâng cao KNCT của Công ty TNHH đầu tư và phát triển thương mại Trường Thịnh” của Vũ Minh Ngọc - Trường ĐHTM năm 2010. Tác giả đã đưa ra những Luận văn tốt nghiệp 8 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp nhận xét và đánh giá khá chi tiết NLCT của Công ty Trường Thịnh. Phần thực trạng có những đánh giá sâu hơn nữa bài viết sẽ hoàn hảo hơn.  Đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao KNCT của Công ty bóng đèn Phích nước Rạng Đông” của Lê Quốc Vy - Trường đại học KTQD năm 2002. Đã phân tích khá chi tiết và đầy đủ về hệ thống lý thuyết liên quan đến cạnh tranh và NLCT của DN. Tuy nhiên, trong phần thực trạng NLCT của Công ty bóng đèn Phích nước Rạng Đông nếu tác giả đưa ra thêm nhiều bảng biểu so sánh NLCT của Công ty với các ĐTCT chính. Bài viết sẽ tăng thêm sức thuyết phục rất nhiều. Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, NLCT của DN và đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao NLTC của một số DN. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về tình hình NLCT của Công ty TNHH May Phố Hiến. 2.4. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài. 2.4.1. Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng. 2.4.1.1. Các loại hình cạnh tranh. a. Căn cứ mức độ cạnh tranh trên thị trường.  Cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là những thị trường trong đó không có hãng nào hoặc người tiêu dùng nào đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Thị trường này có một số đặc điểm: - Có rất nhiều người sản xuất và bán hàng hóa giống hệt nhau, song không ai có ưu thế trong việc cung ứng và mua sản phẩm để có thể làm thay đổi giá cả. - Sản phẩm do những người bán khác nhau cung ứng là đồng nhất (hay không có sự khác biệt). Trong những điều kiện như vậy, mỗi hãng sẽ đứng trước một đường cầu nằm ngang (hay hoàn toàn co giãn). - Rào cản gia nhập thị trường thấp Vì những giả thiết nêu trên hiếm khi cùng xảy ra trong thực tế, nên thị trường cạnh tranh hoàn hảo chỉ là một mô hình lý tưởng.  Cạnh tranh không hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh bình thường vì nó phổ biến trong điều kiện hiện nay. Đây là thị trường mà phần lớn các sản phẩm không đồng Luận văn tốt nghiệp 9 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp nhất.Ít nhất có một người bán (hoặc người mua) tương đối lớn, đủ để tác động đến giá cả thị trường. Đường cầu của thị trường này là đường không co dãn. Việc mua và bán sản phẩm được thực hiện trong bầu không khí có tính chất giao thương rất lớn, điều này khác hẳn với thị trường cạnh tranh hoàn hảo: người bán có thể thu hút khách hàng bởi nhiều cách: khuyến mại, quảng cáo, phương thức bán hàng ...Do đó, trong giá có sự phân biệt, xuất hiện hiện tượng nhiều giá. Có thể nói giá cả lên xuống thất thường, tùy khu vực, tùy nguồn cung ứng, tùy người mua.  Cạnh tranh độc quyền: Trong thị trường cạnh tranh độc quyền, các DN cạnh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo. Nghĩa là độ co dãn của cầu cao chứ không phải là vô cùng. Cạnh tranh độc quyền phổ biến nhất trong ngành bán lẻ của nền kinh tế. Có các hình thức độc quyền : độc quyền tập đoàn, độc quyền bán, độc quyền mua. b. Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh.  Cạnh tranh quốc gia: Hình thức cạnh tranh này diễn ra trên quy mô rộng lớn nhất, giữa quốc gia này với quốc gia khác nhằm tìm kiếm thị trường đầu tư, xuất khẩu thu lợi nhuận nhiều hơn. Mỗi quốc gia lại có những lợi thế cạnh tranh riêng, có khả năng về một lĩnh vực một ngành nghề nào đó và được coi là lợi thế quốc gia.  Cạnh tranh giữa các nghành: Là cạnh tranh giữa các DN trong các nghành kinh tế khác nhau nhằm thu được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra đầu tư vào ngành khác. Trong quá trình cạnh tranh giữa các ngành, dòng vốn tự phát chuyển từ ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao, bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận.  Cạnh tranh nội bộ ngành: Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các DN cùng một hay một số hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn cùng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng. Trong cuộc cạnh tranh này, các DN thôn tính lẫn nhau. Doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường. Doanh nghiệp thua sẽ thu hẹp phạm vi kinh doanh thậm chí phá sản.Cạnh tranh trong nội bộ ngành là nhân tố tự phát thúc đẩy kỹ thuật, Luận văn tốt nghiệp 10 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp công nghệ phát triển và nâng cao năng suất lao động cá biệt đến mức cao hơn năng suất lao động xã hội, từ đó giảm chi phí lao động cá biệt. c. Căn cứ vào tính chất của phương thức cạnh tranh.  Cạnh tranh lành mạnh (cạnh tranh hợp pháp): Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh giữa các DN bằng chính nỗ lực của mình, phù hợp pháp luật, tập quán, đạo đức kinh doanh, không lợi dụng kẽ hở của pháp luật để đạt mục tiêu cạnh tranh.  Cạnh tranh không lành mạnh (cạnh tranh bất hợp pháp): Các DN cạnh tranh bằng cách dùng những âm mưu, thủ đoạn để giành chiến thắng trong cạnh tranh chứ không xuất phát từ nỗ lực của chính mình. d. Căn cứ vào đối tượng cạnh tranh.  Cạnh tranh giữa người bán với người mua: Là cuộc cạnh tranh giữa người bán với người mua diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường. Người bán muốn bán sán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cuối cùng là giá thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động mua bán được thực hiện.  Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Là cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Do hàng hóa trên thị trường khan hiếm nên người mua chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa họ cần. Kết quả cuối cùng là người bán thu được nhiều lợi nhuận.  Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Với các DN thì đây là cuộc cạnh tranh gay gắt nhất nhằm giành giật lợi ích kinh tế về phía mình, nhằm chiếm lĩnh thị trường của đối thủ cạnh tranh, tăng thị phần cùng với doanh thu tiêu thụ tăng. Trên cơ sở đó DN có điều kiện đổi mới công nghệ mở rộng sản xuất, cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên. 2.4.1.2. Các công cụ cạnh tranh phổ biến. a. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. Đây là một công cụ cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế thị trường. Người tiêu dùng thường quan tâm đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để có một sản phẩm chất lượng tốt hơn. Tùy theo từng sản phẩm Luận văn tốt nghiệp 11 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp khác nhau với các đặc điểm khác nhau để ta lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm khác nhau. Càng tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có cơ hội giành thắng lợi trên thị trường. b. Cạnh tranh bằng giá. Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị hàng hóa. Giá cả của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Người bán và người mua thỏa thuận, mặc cả với nhau để đi đến mức giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi. Đây là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh thường được sử dụng trong giai đoạn đầu của DN khi DN bước vào một thị trường mới. DN có thể áp dụng một trong những chính sách giá sau: chính sách giá cao, chính sách giá ngang bằng giá thị trường, chính sách giá thấp, chính sách giá phân biệt. c. Cạng tranh bằng hệ thống kênh phân phối. Hệ thống kênh phân phối là cách thức mà DN cung ứng sản phẩm cho khách hàng. Việc thiết lập kênh phân phối một mặt ảnh hưởng đến chi phí của DN, một mặt ảnh hưởng đến độ bao phủ thị trường hay có sự có mặt của sản phẩm trên các thị trường khác nhau. Doanh nghiệp cần lựa chọn các kênh phân phối thích hợp tùy theo đặc điểm của mặt hàng kinh doanh, quy mô của DN, vị trí địa lý và nhu cầu của thị trường. Có các hình thức phân phối: Phân phối độc quyền, phân phối chọn lọc, phân phối ồ ạt. d. Cạnh tranh bằng chính sách Marketing. Marketing cạnh tranh là tổng thể các biện pháp nhằm đảm bảo cải thiện DN, thị trường và các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược Marketing gồm 4 chiến lược chính: - Chiến lược sản phẩm. - Chiến lược giá cả. - Chiến lược phân phối. - Chiến lược giao tiếp khuếch trương. Các yếu tố trên là các yếu tố cấu thành các hoạt động Marketing cạnh tranh của DN. Tuy nhiên để đưa ra các chính sách Marketing giúp DN đạt được mục tiêu đòi hỏi các DN phải đánh giá được thị trường, đối thủ cạnh tranh, đánh giá tiềm lực của chính mình từ đó có thể đưa ra những cống hiến tốt nhất cho khách hàng của mình, đối phó với tình hình cạnh tranh trên thị trường và đạt được mục tiêu đề ra. Luận văn tốt nghiệp 12 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp 2.4.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.4.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. a. Doanh số bán và thị phần của doanh nghiệp. * Doanh số bán: Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá NLCT của doanh nghiệp. Doanh số bán lớn đảm bảo có doanh thu để trang trải các chi phí đã bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích lũy để tái mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh số bán càng lớn thì tốc độ chu chuyển hàng hóa và vốn càng nhanh, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất của DN. Đồng thời nó phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của DN được mở rộng hay thu hẹp lại. * Thị phần: Đây là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá NLCT của DN, là tỷ lệ thị trường mà DN chiếm lĩnh, nói lên sức mạnh của DN trên thị trường. Thị phần càng lớn thể hiện sức cạnh tranh của DN càng mạnh. Khi xem xét thị, phần người ta thường đề cập đến các loại thị phần sau: - Thị phần tuyệt đối: Là phần trăm kết quả tiêu thụ sản phẩm của DN so với kết quả tiêu thụ sản phẩm cùng loại của tất cả các doanh nghiệp khác bán trên cùng một thị trường. Chỉ tiêu này giúp ta biết được khả năng chiếm lĩnh thị trường của DN. Doanh thu của DN trên thị trường Thị phần tuyệt đối của DN = x 100 Tổng doanh thu của toàn ngành trên thị trường -Thị phần tương đối: Là tỷ lệ so sánh về doanh số bán của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành. Chỉ tiêu này giúp DN biết được mình đang ở vị trí nào để từ đó đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp. Doanh thu của DN trên thị trường Thị phần tương đối của DN = x 100 Doanh thu của ĐTCT mạnh nhất b. Chi phí và tỷ suất chi phí * Chi phí: Là tất cả những khoản tiền mà DN phải bỏ ra để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của mình như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất Luận văn tốt nghiệp 13 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp chung, chi phí mua hàng, chi phí quản lý, chi phí phân phối, chi phí bán hàng,…Nếu DN tối ưu hóa được các khoản chi phí này sẽ tạo được lợi thế là có chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. * Tỷ suất chi phí: Tỷ suất chi phí cho biết một đồng doanh thu được tạo ra sẽ tiêu phí bao nhiêu đồng chi phí. Đây là chỉ tiêu tương đối nói lên trình độ tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, chất lượng quản lý chi phí. Tỷ suất chi phí thấp đưa lại tỷ suất lợi nhuận cao và từ đó tạo điều kiện để lợi nhuận càng nhiều. Vì vậy, DN nào cũng tìm mọi biện pháp để hạ thấp tỷ suất chi phí của DN mình. Chi phí của doanh nghiệp Tỷ suất chi phí của DN = x 100 Doanh thu của doanh nghiệp c. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận: * Lợi nhuận: Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của DN trong một thời kỳ nhất định hay là phần vượt trội giữa giá bán của sản phẩm so với chi phí tạo ra và thực hiện sản phẩm đó. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó thể hiện đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của DN, phản ánh kết quả của việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định… * Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất LN theo DT là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa LN sau thuế so với DT tiêu thụ của DN. Đây là một chỉ tiêu quan trọng, nó không chỉ phản ánh NLCT của DN mà còn thể hiện trình độ năng lực cán bộ quản trị cũng như chất lượng lao động của DN. LN sau thuế của DN Tỷ suất lợi nhuận theo DT = x 100 Doanh thu tiêu thụ của DN Nếu tỷ suất LN thấp chứng tỏ mức độ cạnh tranh gay gắt, ngược lại tỷ suất LN cao chứng tỏ mức độ cạnh tranh trong ngành không cao hoặc NLCT của DN là tốt. d. Năng suất lao động Năng suất lao động - thể hiện năng lực sản suất của DN, nếu DN có NSLĐ cao sẽ Luận văn tốt nghiệp 14 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn nhờ đó có thể hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên để có năng suất lao động cao thì DN phải có quy mô sản xuất và mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công xuất thiết kế. Nếu sử dụng công suất thấp sẽ gây lãng phí và lúc đó chi phí cố định và giá thành sản phẩm cao làm cho khả năng cạnh tranh của DN giảm. 2.4.2.2. Các yếu tố chủ yếu cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. a. Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được coi là vấn đề có ý nghĩa sống còn với mọi tổ chức trong tương lai. Kinh doanh là hoạt động của con người, kết quả kinh doanh lại phục vụ những lợi ích của con người. Con người vừa là công cụ vừa là mục đích của hoạt động kinh doanh. Việc sử dụng nguồn nhân lực như thế nào để đạt hiệu quả cao từ lâu đã trở thành những bài toán khó giải đối với các nhà quản trị bởi con người chung chung, con người trừu tượng mà mỗi con người cụ thể có cá tính khác nhau, có nhu cầu, ước muốn tình cảm khác nhau. Các nhà quản trị phải hiểu điều đó mới khai thác được tối đa năng lực của người lao động. Từ đó mỗi DN phải luôn xác định được thế mạnh và điểm yếu trong nguồn nhân lực của mình để có được những điều chỉnh cần thiết. Cho dù kế hoạch hoàn hảo đến đâu đi nữa nó cũng không mang lại hiệu quả nếu không có những con người làm việc có hiệu quả. Nguồn nhận lực trong DN được chia làm 3 cấp: quản trị viên cấp cao, quản trị viên cấp trung và quản trị viên cấp cơ sở. b. Nguồn lực tài chính. Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của DN trên thị trường. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của DN và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hằng năm như: tỷ lệ thu vốn, khả năng thanh toán… Nếu một DN có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho phép DN có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết… Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định chi phí về vốn của DN so với đối thủ cạnh tranh. c. Nguồn lực vật chất. Cơ sở vật chất của DN là toàn bộ tài sản cố định mà DN đang có như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng…Nó phản ánh quy mô và trình độ sản xuất kinh doanh của DN. Cơ sở vật chất còn ảnh hưởng đến năng suất lao động, chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm… Một DN có trang thiết bị máy móc và dây chuyền công nghệ hiện đại, thì họ Luận văn tốt nghiệp 15 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp nhất định sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiết kiệm được chi phí sản xuất, năng suất lao động cao hơn so với những DN có trang thiết bị, máy móc và dây truyền công nghệ lạc hậu; vì vậy giá thành sản phẩm của họ chắc chắn sẽ thấp hơn so với các DN khác. Như vậy khả năng chiến thắng trong cạnh tranh của DN là rất lớn. d. Uy tín của doanh nghiệp. Đây là tài sản vô hình của mỗi DN, nó có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của DN trên thị trường. Trong điều kiện hiện nay, khi khách hàng có rất nhiều sự lựa chọn về các sản phẩm, dich vụ từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, khách hàng thường lựa chọn sản phẩm dịch vụ của các DN có uy tín trên thị trường, tạo được cho họ sự tin tưởng về chất lượng. e. Năng lực lãnh đạo quản lý. Năng lực lãnh đạo quản lý được hiểu là khả năng tổ chức và sử dụng các nguồn lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của DN. Các nhà quản trị phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau như: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát…nhằm tổ chức quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Để thực hiện có hiệu quả bốn chức năng này đòi hỏi các nhà quản trị phải có khả năng lãnh đạo và khả năng tạo ra sự hứng thú cho người khác sẵn sàng làm việc với mình. Một DN có đội ngũ các nhà lãnh đạo giỏi, đó sẽ là một DN có NLCT lớn. 2.4.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN. a. Các nhân tố chủ quan.  Khả năng tài chính. Khả năng tài chính thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn khác cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó. Mặt khác để đánh giá khả năng tài chính của DN cần xem xét giữa vốn cố định và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh.  Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của DN. Con người cung cấp dữ liệu đầu vào để hoạch định mục tiêu, phân tích môi trường, lựa chọn, thực hiện và kiểm tra chiến lược kinh doanh của DN.  Trang thiết bị kỹ thuật công nghệ. Một DN có trang thiết bị kỹ thuật công nghệ lạc hậu sẽ không bao giờ cho ra được những sản phẩm chất lượng cao và càng không thể cạnh tranh được với các DN có trình Luận văn tốt nghiệp 16 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp độ máy móc hiện đại. Một hệ thống có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cộng với một công nghệ tiên tiến phù hợp với quy mô sản xuất của DN chắc chắn sẽ tăng KNCT lên rất nhiều. Với một cơ sở vật chất kỹ thuật như vậy chất lượng sản phẩm được nâng cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, lao động cùng với nó là giá thành sản phẩm được hạ thấp, chiếm được lòng tin của khách hàng và khả năng chiến thắng trên thị trường là rất cao.  Trình độ tổ chức quản lý. Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua: cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của DN. Một DN biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức, DN đó sẽ tận dụng được những lợi thế tiềm ẩn của mình. Đây là một đòi hỏi đối với các nhà quản trị cấp cao. Một cơ cấu tốt, một nề nếp tốt sẽ dẫn dắt các thành viên tích cực hơn trong công việc và lôi cuốn họ vào quá trình đạt tới những mục tiêu chung của DN. b.Các nhân tố khách quan. * Môi trường vĩ mô gồm: - Môi trường kinh tế: Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến DN. Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế có tác động trực tiếp đến kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của DN. Mức độ ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát. Sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế sẽ kéo theo sự tăng, giảm số lượng các DN tham gia thị trường, các DN tìm mọi cách để giữ chân khách hàng vì vậy mà cạnh tranh trên thị trường trở nên khốc liệt hơn. - Môi trường chính trị - pháp luật: Các yếu tố chính trị - pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của DN. DN phải tuân thủ các quy định về thuế, cho vay, thuê mướn, quảng cáo, nơi đặt nhà máy, bảo vệ môi trường…Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các DN tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả, ổn định về chính trị đem lại sự lành mạnh hóa cho xã hội, tạo hành lang thông thoáng cho sự cạnh tranh giữa các DN. Nhà nước đưa ra các quy định mang tính pháp lý có thể tạo ra cơ hội và nguy cơ. - Môi trường tự nhiên văn hóa – xã hội: Tất cả các doanh nghiệp cần phân tích rộng rãi các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy đến. Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến doanh nghiệp như sở thích thị hiếu, chuẩn mực đạo đức, quan điểm về mức sống, cộng đồng kinh doanh và lao động nữ…các Luận văn tốt nghiệp 17 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp nhân tố trên tác động gián tiếp đến NLCT của DN thông qua khách hàng và cơ cấu nhu cầu của thị trường. - Môi trường khoa học – công nghệ: ít có ngành hay DN nào mà lại không phụ thuộc vào điều kiện khoa học công nghệ trong nước và trên thế giới, việc phát triển khoa học công nghệ với nhiều yếu tố mới tạo ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành và các DN. Công nghệ sản xuất sẽ quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên NLCT của sản phẩm trên thị trường đó là chất lượng và giá bán. Công nghệ tác động đến chất lượng sản phẩm cũng như tác động đến chi phí cá biệt của từng DN từ đó tạo ra NLCT của DN. Ngoài ra, khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến quá trình thu thập, lưu trữ và truyền đạt thông tin. * Môi trường ngành gồm: - Đối thủ cạnh tranh. + Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Sự hiểu biết về các ĐTCT có ý nghĩa quan trọng vì các ĐTCT sẽ quyết định tính chất và mức độ tranh đua. Nếu các đối thủ này yếu DN có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Ngược lại, khi ĐTCT hiện tại mạnh thì DN sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc chạy đua để khẳng đinh mình. + Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các DN hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các DN hiện tại. Các DN hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra nhập ngành vì càng nhiều DN có trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn. - Nhà cung cấp. Các DN kinh doanh cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp những nguồn hàng khác nhau như: vật tư thiết bị, lao động, tài chính… Không DN nào có thể tồn tại một mình do vậy mối quan hệ giữa các DN là điều tất yếu phải có. Và khi họ thiết lập quan hệ với nhau thì nguyên tắc chung được áp dụng là nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi trên cơ sở thỏa thuận. Với các DN sản xuất kinh doanh, bất cứ sự biến đổi nào từ phía nhà cung cấp, các đại lý sớm hay muộn cũng ảnh hưởng nhiều hoặc ít đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Ngoài ra DN cần quan tâm đến các tổ chức tài chính, cơ quan nhà nước có liên quan, cơ sở lao động đào tạo nghề… Luận văn tốt nghiệp 18 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp Việc quan tâm tốt đến các quan hệ này sẽ giúp DN thuận lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh, nâng cao khả năng kinh doanh của DN mình. - Khách hàng. Khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh. Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị lớn nhất của DN. Một vấn đề khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ. Khách hàng là nhân vật trung tâm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đều hướng tới khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của họ một cách tốt nhất. Khách hàng là người tạo ra thu nhập cho DN, có vai trò quan trọng trong việc hình thành các chiến lược kinh doanh của DN. 2.4.2.4 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất nhanh chóng, hiện tại dường như chưa bắt đầu, tương lai đã sẵn sàng đối đầu và thách thức chúng ta. Trước áp lực đó, mỗi DN muốn tồn tại và phát triển cần tìm cho mình một hướng đi đúng đắn và thích hợp trong dài hạn, đó là nâng cao NLCT của DN trên nhiều phương diện: chất lượng sản phẩm, giá cả, hệ thống kênh phân phối… Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, môi trường cạnh tranh ngày càng hoàn chỉnh hơn đã đặt ra cho các DN những cơ hội và thách thức. Doanh nghiệp nào hiểu biết đối thủ, biết thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu khách hàng so với đối thủ cạnh tranh, biết giành thế chủ động với người cung cấp các nguồn hàng và tận dụng được lợi thế canh tranh DN đó sẽ tồn tại. Ngược lại, DN không có tiềm lực cạnh tranh hoặc không “nuôi dưỡng” tất yếu sẽ thất bại. Vì thế các DN phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình. Vậy cạnh tranh rất cần thiết đối với sự phát triển của các DN, điều này thể hiện rõ nhất qua vai trò của cạnh tranh: - Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu. - Khuyến khích sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. - Thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng. - Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng NSLĐ và hiệu quả kinh tế. - Cạnh tranh còn làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ giảm xuống nhưng chất lượng lại được nâng cao, kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Qua phân tích trên ta nhận thấy rằng việc nâng cao NLCT trở thành một điều kiện và tất yếu của các DN kinh doanh trên thị trường. Luận văn tốt nghiệp 19 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH MAY PHỐ HIẾN. 3.1. Phƣơng pháp hệ nghiên cứu NLCT của Công ty TNHH May Phố Hiến. 3.1.1 Phƣơng pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp. a. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu sơ cấp là các dữ liệu luôn mang tính cập nhật tại thời điểm hiện tại. Các dữ liệu này không có sẵn mà yêu cầu phải thu thập từ các cuộc điều tra khảo sát. Để thu thập các dữ liệu sơ cấp, luận văn sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp điều tra và phương pháp phỏng vấn.  Phương pháp điều tra: Phương pháp này được thực hiện bằng cách xây dựng bảng câu hỏi dành cho hai đối tượng là nhà quản trị và khách hàng. Phiếu điều tra hầu hết sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm, cho sẵn các câu trả lời để các đối tượng được điều tra dễ dàng trả lời. Với 12 câu hỏi dành cho khách hàng của Công ty chủ yếu liên quan đến các nhận xét và đánh giá của khách hàng về sản phẩm, giá, nguồn lực vật chất ….của Công ty, các yếu tố khiến khách hàng hài lòng hay chưa hài lòng. Đối tượng điều tra là những khách hàng đã sử dụng sản phẩm của Công ty, có cả khách hàng thường xuyên và không thường xuyên. Số lượng điều tra là 50 khách hàng tại thị trường thành phố Hưng Yên. Bản chi tiết đính kèm phụ lục 1. Phiếu điều tra dành cho nhà quản trị gồm 12 câu hỏi, được xây dựng dựa vào tình hình kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây. Đặc biệt là những câu hỏi về tình hình NLCT của Công ty. Số lượng điều tra là 5 người gồm: Giám đốc, Trưởng phòng TC - HC, Phó phòng TC - HC, Trưởng phòng KCS, Quản đốc phân xưởng. Bản chi tiết đính kèm phụ lục 2.  Phương pháp phỏng vấn: Bên cạnh hình thức phiếu điều tra, đó là hình thức phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo công ty. Các câu hỏi phỏng vấn nhằm mục đích thu thập nhiều hơn các đánh giá, ý kiến chủ quan của các nhà quản trị trong công ty về các vấn đề liên quan đến thực trạng NLCT, các định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới và các giải pháp mà Công ty đã áp dụng trong hoạt động này. Các câu hỏi phỏng vấn cũng được tiến hành với 3 nhà quản trị bao gồm: ông Đỗ Đình Lâm (Giám đốc công ty), ông Nguyễn Văn Nhận Luận văn tốt nghiệp 20 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C
- Xem thêm -