Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty tnhh kỳ nghỉ việt trong bối cảnh việt nam gia nhập wto

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

1 LỜI MỞ ĐẦU Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chứng tỏ được năng lực cạnh tranh của mình trước các đối thủ khác. Ngành du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong những năm gần đây, đời sống của người dân được nâng cao hơn và nhu cầu đi du lịch trở nên phổ biến hơn nhiều. Các doanh nghiệp lữ hành liên tục được thành lập. Đặc biệt, trong xu hướng mở cửa hội nhập của Việt Nam, tiêu biểu là việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO của Việt Nam khiến cho hàng loạt các công ty du lịch nước ngoài “nhảy vào” Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước đứng trước những khó khăn to lớn. Do đó, để có thể đứng vững trên thị trường, các doanh nghiệp phải biết xây dựng cho mình những lợi thế, công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình như các nguồn lực về tài chính, nguồn lực con người, công nghệ … So với các đối thủ trong ngành thì đây là một thách thức lớn đối với công ty TNHH Kỳ Nghỉ Việt. Sau một thời gian thực tập, tìm hiểu và nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Kỳ Nghỉ Việt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO” Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Kỳ Nghỉ Việt. Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Kỳ Nghỉ Việt Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của công ty THNN Kỳ Nghỉ Việt từ khi thành lập đến năm 2010. 2 Phương pháp nghiên cứu: Thu thập thông tin,quan sát thực nghiệm, phân tích, dự báo, đánh giá, thống kê mô tả Kết cấu của đề tài Chương I: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành Chương II: Năng lực cạnh tranh của công ty Kỳ Nghỉ Việt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Kỳ Nghỉ Việt Em xin chân thành cảm ơn THS. Trần Thị Hạnh, tập thể các anh chị trong công ty Kỳ Nghỉ Việt đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. Do còn hạn chế về trình độ, kinh nghiệm cũng như thiếu về thời gian nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp và phê bình của mọi người để giúp cho đề tài của em được hoàn thiện hơn. 3 CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH 1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1.1. Cạnh tranh a. Khái niệm - Theo “Từ điển kinh tế” của nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội năm 1979 trang 48 thì “ Cạnh tranh chính là cuộc đấu tranh giữa những người sản xuất hàng hóa tư nhân nhằm giành điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi hơn” hoặc “ Cạnh tranh là cuộc đấu tranh diễn ra nhằm giành được thị trường tiêu thụ, nguyên vật liệu, khu vực đầu tư có lợi nhuận nhằm giành địa vị thống trị trong ngành sản xuất nào đó, trong nền kinh tế đất nước hoặc trong hệ thống kinh tế Thế Giới”. - Theo cuốn “Cơ sở Khoa học và Thực tiễn” cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp hay các công ty trong việc giành nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. (Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế TW). - Cạnh tranh là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất. Cạnh tranh là so sánh với đối thủ trực tiếp của doanh nghiệp. Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh 4 b. Vai trò của cạnh tranh - Vai trò của cạnh tranh với nền kinh tế + Cạnh tranh là động lực để nền kinh tế phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội + Cạnh tranh hoàn hảo: Nếu các doanh nghiệp cùng nhau phát triển, giúp nhau cùng đi lên thì nền kinh tế đất nước phát triển bền vững. Nếu các doanh nghiệp phát triển chỉ vì mục đích riêng, bất chấp mọi thủ đoạn để đạt mục tiêu, bỏ qua lợi ích chung của đất nước sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh: đầu cơ, phá giá,…sẽ làm giảm uy tín của các doanh nghiệp trong quốc gia trên thị trường Quốc tế. + Cạnh tranh độc quyền: ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn quyền lợi và lợi ích trong xã hội nền kinh tế không ổn định. - Vai trò của cạnh tranh với người tiêu dùng + Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp làm cho người tiêu dùng được lợi. Trong cạnh tranh, người tiêu dùng được hưởng nhiều lợi ích do các doanh nghiệp cạnh tranh để gây dựng hình ảnh, uy tín và làm tăng chỗ dựa trong lòng khách hàng. + Khách hàng tác động trở lại quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua các thông tin phản hồi về hàng hóa, giá cả, chất lượng…Góp ý, gợi mở cho các doanh nghiệp những sai sót, chỗ chưa phù hợp. Để từ đó doanh nghiệp điều chỉnh hợp lý. + Nhu cầu khách hàng càng cao thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng diễn ra mãnh liệt. - Vai trò của cạnh tranh với doanh nghiệp + Cạnh tranh khiến doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng dịch vụ, thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng 5 + Doanh nghiệp thường xuyên áp dụng Công nghệ mới, KH-KT tiên tiến để giảm chi phí, sử dụng có hiệu quả nguồn lực nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, chất lượng tăng, mẫu mã phong phú đa dạng… + Cạnh tranh mạnh mẽ, doanh nghiệp có thị phần lớn. Thị phần lớn tức là doanh nghiệp làm ăn tốt, thu hút được nhiều khách hàng, lượng sản phẩm lớn… + Cạnh tranh có thể giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, tiêu thụ dễ dàng, doanh thu, lợi nhuận tăng, mở rộng quy mô. Cạnh tranh giúp kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, giảm rủi ro do khách hàng đem lại. 1.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành a. Khái niệm Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ... Tuy nhiên trong bài viết này em đề cập tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành. - Khái niệm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Hay nói cách khác năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành là khả năng sử dụng một yếu tố nào đó trong môi trường kinh doanh nội bộ vào sản xuất và kinh doanh tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. 6 b. Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành - Khái niệm: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành là việc phát hiện và sử dụng tốt hơn nữa các yếu tố trong môi trường kinh doanh nội bộ vào sản xuất và kinh doanh. - Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành: Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam. Như vậy: + Doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại Doanh nghiệp nào cũng vậy, sau khi thành lập luôn luôn muốn doanh nghiệp mình phải tồn tại, phát triển và có một chỗ đứng trong ngành cũng như trong nền kinh tế đất nước. Trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại được thì phải sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ phong phú và có chất lượng tốt. Mặt khác những mặt hàng này phải được khách hàng chấp nhận và doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình. Để làm được điều này có một khó khăn lớn là làm sao cho khách hàng ưa thích và mua sản phẩm của công ty mình nhiều hơn so với các doanh nghiệp cùng kinh doanh giống mình. Như vậy doanh nghiệp phải cạnh tranh với các đối thủ của mình. Muốn vậy doanh nghiệp phải thỏa mãn tốt hơn những nhu cầu của khách hàng bằng những sản phẩm tốt nhất, dịch vụ hoàn hảo và chi phí hợp lý nhất. Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện và tốt nhất với mức giá phù hợp nhất thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại được trong điều kiện hiện nay. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết để doanh nghiệp tồn tại. 7 + Doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển Để đứng vững được trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp không chỉ cần tồn tại mà phải luôn đưa ra những phương án, chính sách thích hợp để phát triển. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, có được khách hàng khó nhưng giữ được khách hàng lại càng khó hơn. Lúc này, cạnh tranh là điều kiện tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp để kích thích kinh doanh, trong chừng mực nào đó còn được xem là thước đo sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Và khi quy luật cạnh tranh là động lực của sự phát triển thì không một doanh nghiệp nào nằm ngoài vòng quay đó. Kết quả là những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả không có khả năng cạnh tranh hoặc không tích cực nâng cao sức cạnh tranh thì sẽ bị đào thải và những doanh nghiệp nào biết cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình thì sẽ chiếm lĩnh được thị trường. Khi đó không những doanh nghiệp duy trì được những khách hàng đã có mà còn có thể thu hút thêm khách hàng mới, khách hàng tiềm năng. Từ đó, doanh thu lợi nhuận được nâng cao, mở rộng quy mô kinh doanh vươn ra những khu vực thị trường mới và quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của mình. Nếu doanh nghiệp nào đảm bảo được điều đó và nhanh tay chớp lấy cơ hội thì doanh nghiệp đó sẽ thành công, sẽ ngày càng lớn mạnh, ngày càng phát triển và đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đó. + Doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện mục tiêu Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có những mục tiêu nhất định và tùy vào từng giai đoạn phát triển thì có những mục tiêu cụ thể cho mình. Trong giai đoạn đầu kinh doanh, doanh nghiệp có thể đặt mục tiêu là muốn thị trường biết đến sản phẩm của mình, giai đoạn phát triển doanh nghiệp có thể đặt mục tiêu là đạt lợi nhuận tối đa, còn ở giai đoạn suy thoái doanh nghiệp có thể sẽ đặt mục tiêu là làm thế nào để thu hồi được vốn. 8 Muốn đạt được mục tiêu của mình thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh và chỉ có cạnh tranh mới có thể đưa doanh nghiệp đến sự phát triển, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có động lực tìm ra những biện pháp tối ưu nhất để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, có những biện pháp thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp nhiều hơn… Nói tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc làm quan trọng và hết sức cần thiết. Muốn nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu rõ thị trường, phân tích và dự báo chính xác các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty cũng như các đối thủ cạnh tranh. 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.2.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô a. Kinh tế Kinh tế bao gồm các yếu tố: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập kinh tế quốc dân, lạm phát, thất nghiệp. Chẳng hạn tăng trưởng kinh tế ,GDP cao sẽ làm thu nhập của dân cư tăng lên. Thu nhập của dân cư tăng lên có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của họ và điều đó có nghĩa là họ có thể tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng và yêu cầu cao hơn. Đồng thời chấp nhận với giá thanh toán cao hơn. Tuy nhiên khi GDP tăng lên cũng có nghĩa là chi phí tiền lương của các doanh nghiệp cũng tăng lên. Đây là nhân tố giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. b. Khoa học – công nghệ Nhân tố khoa học công nghệ ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến môi trường cạnh tranh. Trên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ có áp dụng công nghệ cao. 9 Trong thời kỳ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì vòng đời của sản phẩm sẽ bị rút ngắn lại. Do vậy để chiến thắng trong cạnh tranh thì doanh nghiệp phải luôn đổi mới trang thiết bị, sử dụng các công nghệ hiện đại để tạo ra những lợi thế hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh. Ngày nay công nghệ hiện đại còn cung cấp cho doanh nghiệp thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh một cách nhanh chóng và chính xác. Khoa học hiện đại sẽ tạo ra thế hệ mới , vừa nâng cao hiệu quả sản xuất vừa bảo vệ được môi trường và như vậy trong cạnh tranh sẽ có lợi hơn so với công nghệ lạc hậu. c. Văn hóa – xã hội Nền văn hóa của mỗi dân tộc và của mỗi quốc gia là nhân tố tạo nên động cơ đi du lịch của người bản xứ khác và nhất là đối với du khách nước ngoài. d. Tự nhiên Bao gồm những tài nguyên thiên nhiên của đất nước, vị trí địa lý. Nhân tố này tạo ra những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và do đó tăng khả năng cạnh tranh. Hơn nữa vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho doanh nghiệp khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường. Ngược lại, nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo khó khăn cho doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó. e. Chính trị, luật pháp Các nhân tố chính trị pháp luật tác động đến môi trường kinh doanh theo các hướng khác nhau, chúng có thể tạo ra lợi thế và trở ngại, thậm chí là rủi ro cho doanh nghiệp. Một thể chế pháp luật rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả. Chẳng hạn các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện cạnh tranh, đảm bảo cho sự 10 cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và trên mọi lĩnh vực. f. Môi trường toàn cầu Khu vực hóa và toàn cầu hóa đã, đang và sẽ là một xu hướng tất yếu mà mọi doanh nghiệp, mọi ngành, mọi chính phủ phải tính đến. Ngày nay, nhiều nhà chiến lược đã gọi điều đó dưới cái tên thế giới là “ngôi nhà chung”. Trong bối cảnh đó môi trường quốc tế là một trường hợp đặc biệt của môi trường chung bên ngoài doanh nghiệp. Cũng giống các môi trường đã phân tích ở trên, mục đích phân tích và phán đoán là phải chỉ ra được các cơ hội và các đe dọa. Nhưng bản chất các cơ hội và đe dọa ở phương diện quốc tế đối với các doanh nghiệp có ít nhiều khác biệt nếu chỉ lấy môi trường bên ngoài trong phạm bị của một nước Việt Nam. Thực vậy, môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn theo quan điểm từ những khác biệt về xã hội, văn hóa, cấu trúc thể chế, chính sách và kinh tế… Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN đã và đang tạo ra nhiều vận hội cho các doanh nghiệp Việt Nam về đầu tư, về thị trường nhưng cũng đang có nhiều thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu. Tự do hóa thương mại khu vực, phá bỏ hàng rào thuế quan là những đe dọa rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa, bản thân ASEAN cũng phải đặt trong mối quan hệ toàn cầu của cạnh tranh thế giới, chẳng hạn với khối EU, Bắc Mỹ (NAFTA), với Nhật Bản, Trung Quốc,… Kể từ năm 1988, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Gần đây nhất, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Việt Nam sẽ được mở rộng thị trường xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, được hưởng quy chế tối huệ quốc, không bị đối xử phân biệt trong 11 thương mại quốc tế. Nhưng chiều ngược lại, những thách thức trong cạnh tranh thế giới sẽ quyết liệt hơn. 1.2.2. Các yếu tố thuộc môi trường ngành Mô hình 5 lực lượng của M.Porter Những người muốn vào mới (cạnh tranh tiềm tàng) Áp lực của các nhà cung ứng Doanh nghiệp và các đối thủ hiện tại Áp lực của người mua Sản phẩm dịch vụ thay thế Mô hình 1: mô hình 5 lực lượng của M. Porter a. Đối thủ cạnh tranh hiện tại Lực lượng thứ nhất trong số 5 lực lượng của mô hình M. Porter là quy mô cạnh tranh trong số các doanh nghiệp hiện tại của ngành. Nếu các đối thủ 12 cạnh tranh càng yếu, doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Ngược lại khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về gia cả đều dẫn đến những tổn thương. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành thường bao gồm các nội dung chủ yếu: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành, các rào cản gia nhập và rút lui. - Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản phẩm cả doanh nghiệp trong ngành sản xuất. Cơ cấu cạnh tranh khác nhau có các ứng dụng khác nhau cho cạnh tranh. Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung. Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có một doanh nghiệp nào trong số đó có vị trí thống trị ngành. Trong khi đó một ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít các doanh nghiệp lớn, thậm chí chỉ một doanh nghiệp duy nhất gọi là độc quyền. Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung rất khó phân tích và dự đoán. - Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ hội lớn để mở rộng hoạt động. Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp giữ được phần thị trường đã chiếm lĩnh. Đe dọa mất thị trường là điều khó tránh khỏi đối với các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh. - Rào cản gia nhập và rút lui là mối đe dọa cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngành giảm mạnh hoặc tăng nhanh. Hàng rào gia nhập và rút lui là kinh tế, là chiến lược và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại. Nếu rào cản gia nhập và rút lui cao, các doanh nghiệp có thể bị khóa chặt trong một ngành 13 sản xuất không ưa thích, khó khăn trong vấn đề gia nhập một lĩnh vực kinh doanh khác. b. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Lực lượng thứ hai cần phân tích là phán đoán đối với doanh nghiệp là các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại. Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp sẽ thay đổi. c. Sức ép của khách hàng Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua. Người mua có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn. Ngược lại, khi người mua yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn. Người mua gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp. Áp lực của khách hàng thường được thể hiện trong các trường hợp sau: - Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp. Trong khi đó người mua là một số ít và có quy mô lớn. Hoàn cảnh này cho phép người mua chi phối các công ty cung cấp. - Khách hàng mua một khối lượng lớn. Trong hoàn cảnh này người mua có thể sử dụng ưu thế mua của họ như một ưu thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý. 14 - Ngành cung cấp phụ thuộc vào khách hàng với tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng số đơn đặt hàng. - Khách hàng có thể cận dụng chiến lược liên kết dọc, tức là họ có xu hướng khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho mình. - Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả,… của các nhà cung cấpthì áp lực mặc cả của họ càng lớn. d. Sức ép của nhà cung ứng Lực lượng thứ tư trong các lực lượng cạnh tranh là khả năng mặc cả của nhà cung ứng. Những nhà cung ứng được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng của sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp. Qua đó làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. Trên một phương diện nào đó, sự đe dọa đó tạo ra sự phụ thuộc ít nhiều đối với các doanh nghiệp. Áp lực tương đối của nhà cung cấp thường thể hiện trong các tình huống sau: - Ngành cung ứng mà doanh nghiệp cần chỉ có một số, thậm chí một doanh nghiệp độc quyền cung ứng. - Tình huống không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp không có người cung ứng nào khác - Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và ưu tiên của nhà cung ứng - Loại đầu vào của nhà cung ứng là quan trọng nhiều đối với doanh nghiệp - Các nhà cung cấp có chiên lược liên kết dọc (khép kín sản xuất). e. Sản phẩm thay thế Lực lượng cuối cùng trong mô hình M. Porter là sự đe dọa cả các sản phẩm thay thế. Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu 15 cầu của người tiêu dùng. Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt. Sự gia tăng về các loại hình du lịch là mối đe dọa cho các chương trình du lịch thông thường. Đe dọa này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có sự phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ khoa học – công nghệ, trong đó liên quan đến đổi mới công nghệ, đổi mới các chương trình du lịch, tạo sức hấp dẫn tới du khách…Hơn nữa sự thay đổi của nhu cầu thị trường cũng là nhân tố quan trọng tạo ra sự đe dọa này. 1.2.3. Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ doanh nghiệp lữ hành a. Khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển (R&D) Nghiên cứu thị trường là hoạt động cần thiết đầu tiên đối với tất cả cácdoanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh và cả những doanh nghiệp sắp tham gia trên thị trường. Đó là cơ sở phát triển tìm kiếm thị trường và thiết lập các chính sách phát triển thị trường cho doanh nghiệp. Nghiên cứu và phân tích thị trường chính là một cách quan trọng giúp doanh nghiệp nhận biết và khai thác cơ hội xuất hiện trên thị trường. Một khi doanh nghiệp hiểu rõ được về thị trường thì khả năng xây dựng, thực hiện và phát triển sản phẩm sẽ đơn giản hơn rất nhiều. b. Hoạt động Marketing - Chính sách sản phẩm: Sản phẩm là vấn đề then chốt để tạo ra hình ảnh của công ty. Đây là một chức năng rất quan trọng cả marketing. Nội dung của chính sách sản phẩm bao gồm: + Đưa ra sản phẩm mới. Với chính sách này cần một đội ngũ nhân viên có tính sáng tạo cao, hiểu sâu sắc nhu cầu của khách du lịch, nhạy bén với sự biến đổi của môi trường. Đưa ra sản phẩm mới hoàn toàn rất khó. + Hoàn thiện, bổ sung cho sản phẩm cũ: đó là những sản phẩm truyền thống của công ty, những sản phẩm mà nhiều công ty cũng có. Sự hoàn thiện 16 này chỉ có thể là tăng cường chất lượng sản phẩm, có thể khiến các kỳ vọng của khách hàng không chỉ đúng như họ mong muốn mà còn nhỉnh hơn thế nữa hoặc là những hậu mãi khi kết thúc chuyến đi như quà tặng, mời đi nếu có dịp tung sản phẩm mới, gửi thư chúc mừng nhân ngày sinh nhật, ngày cưới…. - Chính sách giá: Giá là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển trong thị trường khi trao đổi hàng hóa. Giá cả là thước đo của giá trị, là một trung gian giúp trao đổi được dễ dàng hơn. Giá cả chịu sự tác động của quy mô sản xuất, là yếu tố nhạy cảm có tác dụng điều tiết thị trường. Yếu tố giá ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng. Người ta định nghĩa về chính sách giá là hệ thông các quan điểm, phương pháp và cách thức mà nhà sản xuất sử dụng để định giá cho một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá: + Yếu tố nội sinh của doanh nghiệp ▪ Chi phí: gồm chi phí cố định (chi phí không phụ thuộc vào quy mô sản xuất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, nhân công, quản lý, quảng cáo. Chi phí biến đổi: nguyên vật liệu, chi phí vốn, nhiên liệu…) ▪ Mục tiêu của doanh nghiệp ▪ Chính sách marketing – mix ▪ Thương hiệu + Yếu tố ngoại sinh ▪ Cạnh tranh ▪ Mức giá phổ biến trên thị trường ▪ Quan hệ cung – cầu ▪ Chính sách và pháp luật của nhà nước (thuế, chính sách đầu tư, tỷ giá lãi suất…) ▪ Yếu tố thời vụ 17 Xác định giá của sản phẩm là chức năng của marketing. Vì nó cân nhắc được các yếu tố chi phí, quan hệ cung cầu và giá cả của đối thủ cạnh tranh. - Hoạt động xúc tiến Sử dụng tất cả các mức độ phương tiện truyền thông có thể tới khách hàng để có thể bán được sản phẩm. Hình thức áp dụng phổ biến là truyền thông hỗn hợp. Truyền thông hỗn hợp bao gồm tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến bán, bán hàng cá nhân, thương mại điện tử, marketing trực tiếp: Xúc tiến hỗn hợp (promotion) Mạng internet Quảng cáo (advertising) Tuyên truyền/ quan hệ Công chúng Publicity/publircelation Xúc tiến bán Sale promotion Marketing trực tiếp (direct marketing) Bán hàng trực tiếp (personal selling) Mô hình 2: Hoạt động xúc tiến hỗn hợp - Hoạt động phân phối Phân phối là sự lựa chọn và quản lý các trung gian phân phối bảo đảm đưa sản phẩm tới người tiêu dùng và đưa người tiêu dùng đến nơi tạo ra dịch vụ mà khách đã đặt mua để thực hiện tiêu dùng du lịch. Chính sách phân phối là tập hợp những quan điểm, quyết định, phương thức trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp du lịch nhằm đưa khách hàng đến với sản phẩm du lịch thông qua các trung gian môi giới. Chính sách phân phối du lịch được thực hiện qua các kênh phân phối. 18 - Chính sách hợp tác giữa các đơn vị cung cấp, giữa khách hàng và nhân viên Do đặc điểm của dịch vụ du lịch mang tính tổng hợp vì vậy không có nhà cung cấp đơn lẻ mà phải có các bạn hàng như là đối tác hỗ trợ và bổ sung cho nhau tạo ra chuỗi dịch vụ du lịch để cung cấp cho du khách. Tất cả các nhà cung cấp du lịch đều là một phần và đều góp vào sự hợp tác giữa các nhà cung cấp du lịch. Sự hợp tác giữa các nhà cung cấp tạo nên một chu trình hoàn chỉnh, khép kín, làm tăng giá trị của tour du lịch cũng như giá trị của mỗi sản phẩm họ cung cấp. c. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và quyết định đến sự thành bại của một công ty. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ (du lịch..). Công ty nào có đội ngũ lao động có trình độ, kiến thức chuyên môn cao, ý thức, đạo đức và trung thành với công ty thì công ty đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các công ty kém về yếu tố này. Mặt khác, để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của công ty mình, các nhà quản lý phải có những chính sách về nhân lực phù hợp. a. Tình hình tài chính Tài chính của doanh nghiệp là một yếu tố không thể thiếu đồng thời là nhân tố tạo lập năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nguồn lực tài chính vững mạnh thì mới có nguồn lực khác: máy móc, công nghệ, yếu tố đầu vào,cơ sở vật chất kỹ thuật…khi đó các nguồn lực này sẽ huy động một cách dễ dàng. Hiện nay, vấn đề huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy quy mô tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động, khả năng huy động vốn trong sản xuất kinh doanh là những nhân tố cơ bản tạo nên năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp. d. Cơ cấu tổ chức của công ty 19 Cơ cấu tổ chức là nền tảng về mặt tổ chức của doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hóa, có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định, mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được bố trí theo từng cấp nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản trị và thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức được thiết kế thành các bộ phận quản trị và các cấp tổ chức. Bộ phận quản trị là một đơn vị riêng biệt chuyên môn hóa những chức năng quản trị nhất định. Cấp quản trị là sự thống nhất tất cả các bộ phận quản trị phản ánh sự phân chia chức năng quản trị theo chiều ngang, còn số cấp quản trị thể hiện sự phân chia chức năng quản trị theo chiều dọc. 1.3. Các phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.3.1 Phương pháp 1: So sánh một số chỉ tiêu giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh a. Phân tích một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty - Doanh thu Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Để đơn giản người ta tính doanh thu theo công thức M = P*Q Trong đó M: Doanh thu bán hàng Q: Số lượt khách du lịch thực hiện P: Giá bán cho một lượt khách Từ công thức trên ta có thể tăng doanh thu bán hàng bằng cách tăng số lượng sản phẩm bán hoặc tăng giá bán. Khi doanh thu bán hàng của doanh nghiệp càng lớn thì thị phần trên thị trường của doanh nghiệp càng cao. Doanh thu bán hàng đảm bảo cho doanh nghiệp có doanh thu để trang trải các chi phí bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích lũy để tái mở rộng của doanh nghiệp. Căn cứ vào doanh thu có thể đánh giá năng lực cạnh 20 tranh của doanh nghiệp thông qua thị phần cả doanh nghiệp. Với thị phần lớn, doanh nghiệp lợi dụng được việc giảm chi phí do kinh nghiệm mang lại, đồng thời củng cố lòng trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu sản phẩm. - Chi phí Chi phí doanh nghiệp là những khoản chi bằng tiền hoặc tài sản mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Trong doanh nghiệp thương mại thì chi phí kinh doanh bỏ ra nhằm mục đích kinh doanh, tức là trước hết phải tạo ra doanh thu. Nếu như doanh nghiệp có tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí thì sẽ làm tăng lợi nhuận, điều đó chứng tỏ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên. Để có thể đánh giá một cách chính xác việc sử dụng chi phí ta dùng chỉ tiêu tỷ suất chi phí để so sánh chi phí với doanh thu: F’ = (F/M)*100% Trong đó F’ : Tỷ suất chi phí F : Tổng chi phí M : Tổng doanh thu Việc xác định chi phí là rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Xác định chi phí giúp cho doanh nghiệp nhận thức, đánh giá chính xác, toàn diện khách quan tình hình quản lý và sử dụng chi phí, qua đó thấy được ảnh hưởng của nó đến quá trình và kết quả kinh doanh. Xác định chi phí doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp biết được quá trình kinh doanh của mình có đạt hiệu quả hay không, có phù hợp nhu cầu hay không. Đồng thời tìm ra những mặt tồn tại bất hợp lý trong chi phí để đưa ra những chính sách, biện pháp phù hợp nhằm sử dụng tốt chi phí, tạo ra hiệu quả kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. - Tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/ Doanh thu
- Xem thêm -