Nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1,2,3 thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHỚ CÁC PHÉP TÍNH CỘNG, TRỪ, NHÂN, CHIA TRONG BẢNG CHO HỌC SINH YẾU LỚP 1,2,3 THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT DẠY HỌC PHỐI HỢP THỂ DỤC THỂ THAO. ( huyện Khánh Sơn) 1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI: Phần lớn trẻ em, khả năng học tập, nhận thức được phát triển tương ứng với độ tuổi. Các em phát triển đồng thời cả kiến thức lẫn kĩ năng trong các môn học ở trường và các hoạt động sống tại gia đình. Tuy nhiên thực tế vẫn tồn tại một số ít trẻ có sự phát triển không cân bằng trong việc ứng dụng kiến thức và kĩ năng tại hai môi trường này. Có trẻ rất nhanh nhẹn, tháo vát trong sinh hoạt hằng ngày nhưng lại chậm chạp trong học tập. Có trẻ học đọc, viết tốt nhưng tính toán lại gặp khó khăn. Đặc biệt , có trẻ đọc và diễn đạt bằng ngôn ngữ nói rất tốt nhưng không thể trình bày đúng một bài viết đơn giản. Những trẻ như vậy, năng lực nhận thức có thể đạt ở mức trung bình, hoặc trên trung bình nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn trong học tập các môn văn hóa đặc biệt trong môn Toán và Tiếng Việt. Học sinh yếu là học sinh có sự biểu hiện sự mất cân đối giữa trí thông minh thực tế và trí thông minh học tập (kết quả học tập tại trường). Có nhiều dạng học sinh học yếu môn toán như: Học yếu về các phép tính, yếu về đo lường, yếu về khả năng giải toán, yếu về toán hình… nhưng theo đề tài này tôi chỉ đi tìm hiểu về khả năng ghi nhớ của học sinh yếu lớp 1,2,3, khi học thuộc các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm được nhiều người biết đến đó là sử dụng các kĩ thuật dạy học như: Kĩ thuật đưa câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật nhóm, kĩ thuật động não, kĩ thuật trình bày một phút ..... Qua đề tài này, một kỹ thuật dạy học nữa được nghiên cứu đưa vào sử dụng đó là kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao. Kỹ thuật này được coi là một nội dung học tập, một hoạt động không thể thiếu trong mỗi giờ học nhất là giờ học môn toán về các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng đối với học sinh yếu lớp Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 1 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 1,2,3 nói chung trên toàn huyện và học sinh yếu lớp 1,2,3 Trường tiểu học Ba Cụm Bắc và Trường tiểu học Sơn Trung nói riêng. Kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao trong dạy học giúp học sinh yếu lớp 1,2,3 ôn lại các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng, rèn cách ghi nhớ cho học sinh giúp học sinh vận dụng vào tính các phép tính cộng, trừ, nhân, chia đơn giản. Kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao trong dạy học là hình thức hoạt động rất phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh tiểu học. Thể dục thể thao phù hợp, gắn với nội dung bài hấp dẫn, sẽ có tác dụng tốt với việc luyện trí nhớ của học sinh. Đặc biệt đối với học sinh yếu lớp 1,2,3, dạy học thông qua kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao được coi như một món ăn không thể thiếu để thỏa mãn nhu cầu của các em. Thông qua kỹ thuật dạy học này các em thể hiện được khả năng của mình vừa rèn luyện thể thao, vừa rèn khả năng ghi nhớ, đồng thời tạo ra bầu không khí vui, khỏe, thỏa mái, các em được giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Qua kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao trong dạy học các em có thêm tinh thần vui, khỏe “ Học mà chơi ”,“ Chơi mà học” là phương pháp giáo dục nhẹ nhàng và hiệu quả nhất. Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương, là hai nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của hai trường tiểu học Ba Cụm Bắc và tiểu học Sơn Trung. Nhóm thực nghiệm là 35 học sinh học sinh yếu lớp 1,2,3 trường tiểu học Ba Cụm Bắc; Nhóm đối chứng là 35 học sinh học sinh yếu lớp 1,2,3 trường tiểu học Sơn Trung. Hai nhóm được chọn có số lượng, trình độ, giới tính, thành phần sắc tộc giống nhau, hai lớp tương đương nhau về điểm số các môn học. Sốtt Nhóm thực nghiệm 01 Lớp 1A, 1B, 1C, 1D Trường tiểu học Ba Cụm Bắc 02 Lớp 2A, 2B, 2C, Trường Tiểu họcBa Cụm Bắc 03 Lớp 3A, 3B, Trường tiểu học Ba Cụm Bắc Nhóm đối chứng Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 2 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Lớp 1A, 1B, 1C, 1D Trường tiểu học Sơn Trung; Lớp 2A, 2B, 2C Trường Tiểu học Sơn Trung; Lớp 3A, 3B Trường tiểu học Sơn Trung Nhóm thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế từ tuần 12,13, 14, 15 đến hết tuần 16. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến việc rèn nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng của học sinh yếu lớp 1,2,3 Trường tiểu học Ba Cụm Bắc. Điểm bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm có giá trị trung bình là 5,5; Điểm bài kiểm tra sau tác động của nhóm đối chứng 4,6; Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p= 0,00002 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Điều đó chứng minh rằng sử dụng Kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao đã góp phần nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân chia trong bảng của học sinh yếu. 2. GIỚI THIỆU: Hiện trạng tại 2 nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của trường tiểu học Ba Cụm Bắc và trường tiểu học Sơn Trung học sinh nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng chỉ thông qua sự ghi nhớ áp đặt, học thuộc theo cách nhẩm hoặc nhìn bảng cộng, trừ, nhân, chia theo sự xóa dần của giáo viên và học một cách ê a. Các em thường khó nhớ được các thông tin qua thị giác và thính giác. Hai nhóm học sinh này không thể nhớ được đầy đủ các thông tin nếu các thông tin đó được cung cấp chỉ bằng một kênh là ngôn ngữ nói. Các em về nhà không học thuộc các phép tính cộng, trừ, nhân, chia mà cô thầy đã dặn. Các em học yếu không thể nhắc lại các phép tính cộng, trừ, nhân, chia cần ghi nhớ trong giờ học, chỉ nhớ được bài ngay trong giờ học mà không thể áp dụng khi làm bài; không nhớ thứ tự các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng; thường bị Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 3 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng quên, thiếu một vài bước trong chuỗi thực hiện; thường xuyên không làm bài, quên làm bài tập; quên những việc được giáo viên giao hay thực hiện không đúng.. Các em học sinh yếu người dân tộc thiểu số càng ít có điều kiện học hơn so với các bạn khác. Ở nhà các em không có góc học tập riêng, bố mẹ ít quan tâm nhắc nhỡ các em học thuộc các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng. Giáo viên giảng dạy hai nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của hai Trường tiểu học Ba Cụm Bắc và Trường tiểu học Sơn Trung ít có sử dụng kỹ thuật dạy học vào trong quá trình dạy học để giúp cho học sinh yếu. Các kỹ thuật dạy học đã được tập huấn của Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục khó có thể tổ chức cho các em học sinh yếu lớp 1,2,3 trong tiết học toán. Giáo viên chưa theo dõi kiểm tra, giúp đỡ học sinh yếu học thuộc các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng vì giáo viên sợ mất thời gian. Nguyên nhân chủ yếu chưa nâng cao được khả năng nhớ các phép tính cộng trừ, nhân, chia trong bảng của học sinh yếu lớp 1,2,3 là do giáo viên còn cứng nhắc chưa sử dụng các kỹ thuật dạy học phù hợp với các em. Với cách dạy ít sử dụng kỹ thuật dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, nhất là học sinh yếu đã làm cho các em càng khó hiểu bài, tiết học buồn tẻ, nhàm chán, không gây hứng thú học tập. Từ đó, các em ít nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng để vận dụng làm tính dẫn đến chất lượng học yếu môn Toán còn rất cao. Giải pháp thay thế: Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp của tôi là tổ chức bồi dưỡng giáo viên về kỹ thuật dạy học mới do bản thân sáng tạo ra đó là kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao để nâng cao khả năng ghi nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1,2,3. Thông qua kế hoạch bài học của môn toán, Kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao được tổ chức xuyên suốt trong từng hoạt động. Việc làm này có tác dụng rèn khả năng nhớ cho học sinh đồng thời rèn cho các em sự tự tin, mạnh dạn trong quá trình học toán. Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 4 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Vấn đề nghiên cứu: thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao có nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn không? Giả thuyết nghiên cứu: Thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao sẽ nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn. - Tác dụng của kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao: Đối với học sinh tiểu học, thể dục thể thao vẫn là một thành tố quan trọng trong hoạt động của học sinh. Vì vậy, việc sử dụng kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao có một số tác dụng sau: + Làm thay đổi hình thức hoạt động học tập tạo ra bầu không khí trong lớp học trở nên dễ chịu, thoải mái hơn, học sinh nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng tích cực hơn. Học sinh thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái, dễ chịu và khoẻ hơn. + Giúp học học sinh yếu rèn luyện khả năng ghi nhớ, tự tin hơn khi học môn toán. + Đối với học sinh yếu không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự nhiên có hiệu quả, rèn sự tự tin trong học toán bằng việc sử dụng kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao. Qua kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao các em được tham gia vào các hoạt động học tập tích cực hơn. Kĩ thuật day học phối hợp thể dục thể thao không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục học sinh yếu. - Kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao được giới hạn bởi không gian và thời gian. Mục đích và nội dung của mỗi kiến thức phụ thuộc vào người tổ chức thực hiện. Mặt khác, dù bất kỳ quy mô thực hiện theo nhóm nhỏ hay lớn hay như thế nào, thì kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao cũng phải có một thời gian nhất định: thời gian chuẩn bị, thời gian nghe, nhìn, thời gian thực hiện thử. - Quy trình các bước tiến hành cách sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao có hiệu quả như sau: Gồm 5 bước Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 5 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 1. Giới thiệu kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao: - Nêu tên môn thể thao cần phối hợp - Hướng dẫn cách thực hiện: Vừa mô tả vừa thực hành - Phân chia nhóm để thực hiện 2. Thực hiện thử: 3. Nhấn mạnh cách thực hiện, nhất là những lỗi thường gặp ở phần thực hiện thử. 4. Thực hiện thật, giúp đỡ những học sinh khi không nói ra được kết quả hay phép tính cho bạn. 5. Nhận xét kết quả thực hiện, thái độ của học sinh, giáo viên có thể tổ chức thực hiện ngoài sân, ngoài lớp học, trong lớp học - Người giáo viên phải hình dung được cách sử dụng kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao này ở đâu, lúc nào, thời gian bao nhiêu cho hợp lý và hiệu quả nhất, để vừa đáp ứng được mục đích, yêu cầu đề ra vừa đảm bảo nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho các em học sinh yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn. - Như vậy, nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn thông qua việc sử dụng kỹ thuật day học phối hợp thể dục thể thao sẽ giúp cho các em phát triển một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Thể dục thể thao làm cho học sinh được phát triển các năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau, từ đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng. Thể dục thể thao có nội dung tri thức gắn với hoạt động học tập của học sinh, gắn với nội dung bài học và giúp học sinh nhớ lâu các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng. Thể dục thể thao mang sắc thái tình cảm đi kèm cảm giác thoả mãn. Khi thể dục thể thao, trẻ tưởng tượng, suy ngẫm, thử nghiệm các tình huống, học cách lập luận để đạt kết quả. Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 6 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Khách thể nghiên cứu Tôi chọn 2 nhóm học sinh yếu lớp 1, 2,3 của 2 Trường tiểu học Ba Cụm Bắc và Sơn Trung có những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài này. * Giáo viên: Hai nhóm giáo viên đang giảng dạy các lớp 1,2,3 ở trường tiểu học Ba Cụm Bắc và Trường tiểu học Sơn trung có số lượng học sinh yếu như nhau; Các giáo viên đều có trình độ đào tạo là THSP 12+2 và Cao đẳng tiểu học, được nhà trường xếp loại chuyên môn khá giỏi và giảng dạy các lớp 1,2,3 nhiều năm. - Nhóm thực nghiệm: 1. Cô: Đào Thị Tuệ , Lương Thị Ruyên, Lê Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Ngọc Bích (dạy lớp 1 Trường tiểu học Ba Cụm Bắc) 2. Trần Thị Cải, Lê Thị Hoa, Mấu Vinh (dạy lớp 2, Trường tiểu học Ba Cụm Bắc) 3. Cô: Trần Ngọc Xuân Huyền, Lê Thu Phương, Cao Điệp Phóng (dạy lớp3, Trường tiểu học Ba Cụm Bắc). - Nhóm đối chứng: 1. Cô: Nguyễn Thị Lương, Cao Thị Mai, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Đặng Thị huqoqng (dạy lớp 1Trường tiểu học Sơn Trung) 2. Cô: Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thái Quang, Tro Thị Cúc (dạy lớp 2 Trường tiểu học Sơn Trung) 3. Cô: Lê thị Thanh Hưng và Cao Thị Đại (dạy lớp3 Trường tiểu học Sơn Trung). * Học sinh: Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 7 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Đối tượng nghiên cứu là hai nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của hai trường Tiểu học Ba Cụm Bắc và Tiểu học Sơn Trung. Nhóm thực nghiệm là 35 học sinh học sinh yếu lớp 1,2,3 Trường Tiểu học Ba Cụm Bắc; Nhóm đối chứng là 35 học sinh học sinh yếu lớp 1,2,3 Trường Tiểu học Sơn Trung. Hai nhóm được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về số lượng, trình độ, giới tính, thành phần dân tộc, về đúng độ tuổi về số học sinh yếu lưu ban... Cụ thể như sau: Bảng 1 Nhóm Dân tộc Đúng độ tuổi Số HS các nhóm Tổng số Nam Nữ Kinh Raglai Lưu ban Thực nghiệm 35 21 14 0 35 26 9 Đối chứng 35 26 9 0 35 27 8 3.2. Thiết kế nghiên cứu Chọn hai nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3. Nhóm thực nghiệm là 35 học sinh yếu Trường tiểu học Ba Cụm Bắc và nhóm đối chứng là 35 học sinh yếu Trường tiểu học Sơn Trung. Chúng tôi kiểm tra trước tác động hiệu quả tiết dạy thông qua các tiết dự giờ của giáo viên. Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước tác động. Kết quả: Bảng 2 : Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương TBC Thực nghiệm Đối chứng 3,1 3,2 Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 8 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng P= 0,327 P= 0,327 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương. Chọn thiết kế 2: “Thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương”. Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu Nhóm Thực Nghiệm Đối Chứng KT sau KT trước tác động Tác động 01 Tổ chức cho học sinh học thông qua kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao 03 02 Không tác động 04 tác động Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T.tes độc lập. 3.3. Quy trình nghiên cứu Chuẩn bị bài của giáo viên: + Nhóm đối chứng vẫn dạy theo kế hoạch bài học như bình thường. + Nhóm thực nghiệm: Tiến hành tác động: giáo viên lớp 1,2,3 của nhóm thực nghiệm được tập huấn và được hướng dẫn cách dạy học phối hợp thể dục thể thao, đồng thời hướng dẫn thiết kế kế hoạch bài học có sử dụng kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao. Trong tiết dạy giáo viên sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao ở các hoạt động: kiểm tra bài cũ, dạy bài mới và hoạt động củng cố bài. Cách sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao ở hoạt động kiểm tra bài cũ (nếu học sinh tiết trước đã học Phép cộng trong phạm vi 8), thì cách tiến hành kiểm tra như sau: Kiểm tra 4 hoặc 2 em (tùy vào số lượng học sinh yếu của lớp), giáo viên dùng hình thức thể thao chơi chuyền bóng (4 em) hoặc chơi đánh bóng bàn, đánh cầu lông (2 em) ...; Khi một học sinh chuyền bóng cho bạn thì nêu một phép Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 9 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng tính đã học (7 cộng 1 bằng mấy), bạn nhận bóng phải nói ngay kết quả của bạn vừa chuyền cho mình (bảy cộng 1 bằng 8) và ra một phép tính khác hoặc nói lại phép tính bạn vừa nêu (1 cộng 7 bằng mấy) rồi chuyền bóng cho bạn tiếp theo, cứ như thế cho đến bạn cuối cùng. Thời gian kiểm tra bài cũ tiến hành từ 2 đến 3 phút. Riêng các học sinh đại trà thì giáo viên cho viết bảng con phép tính để kiểm tra cả lớp. Cách kiểm tra các phép tính trừ, nhân, chia cũng tương tự. Cách sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao trong họat động 1 của phần dạy bài mới: Giáo viên hướng dẫn học sinh lập xong phép tính cộng trong phạm vi 8, tiến hành học thuộc lòng bảng cộng trong phạm vi 8, đối với học sinh đại trà tiến hành từng cặp đôi đọc nhẩm cho nhau nghe sau đó tự đọc thuộc và tự kiểm tra lẫn nhau. Riêng học sinh yếu giáo viên cho lên trước lớp hoặc ra ngoài lớp sử dụng hình thức chơi các môn thể thao mà giáo viên đã chuẩn bị để rèn cho học sinh yếu học thuộc lòng bảng cộng trong phạm vi 8 (thời gian 2-3 phút). Sau thời gian rèn học thuộc lòng bảng cộng trong phạm vi 8, giáo viên gọi học sinh xung phong đọc thuộc bảng cộng trong phạm vi 8. Cách tiến hành các phép tính trừ, nhân, chia cũng tương tự. Cách sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao Trong hoạt động củng cố bài, giáo viên tổ chức cho cả lớp sử dụng hình thức phối hợp thể dục thể thao để củng cố kiến thức vừa học. Giáo viên cho các nhóm học sinh chọn môn thể thao mà mình yêu thích, tiến hành chơi trong thời gian từ 2-3 phút.... Nếu giáo viên thường xuyên sử dụng kỹ thuật dạy học phối kết hợp thể dục thể thao trong các hoạt động dạy học thì khả năng rèn cho học yếu nhớ lâu về các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng là rất cao Tiến hành dạy thực nghiệm trong các tuần 12, 13, 14, 15 và hết tuần 16 của chương trình. Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu của từng điểm trường để bảo đảm tính khách quan. Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 10 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Đến thời gian định kỳ giữa học kỳ 2 tôi tiếp tục làm phiếu hỏi lấy ý kiến từ giáo viên giảng dạy các lớp 1,2,3 trên toàn huyện về việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao có phù hợp cho đối tượng học sinh yếu không, có giúp cho học sinh yếu ghi nhớ lâu các phép tính cộng trừ nhân chia trong bảng hay không? ...10 % giáo viên lớp 1,2,3 cho rằng sử dụng kỷ thuật phối hợp thể dục thể thao trong dạy để rèn khả năng ghi nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học yếu là rất phù hợp, 68,9 % giáo viên cho là tương đối phù hợp và 21,0% giáo viên cho rằng không phù hợp (đối tượng giáo viên cho rằng không phù hợp rơi vào 25 giáo viên người dân tộc). 3.4. Đo lường và thu thập dữ liệu - Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra hiệu quả tiết dạy - Bài kiểm tra sau tác động cũng là bài kiểm tra hiệu quả tiết dạy nhưng được thiết kế theo một kế hoạch bài học riêng. Bài kiểm tra sau tác động gồm 4 câu, học sinh vận dụng các phép tính đã học thuộc để làm tính. Sau khi học sinh học hết tuần 16 của chương trình, tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết (nội dung kiểm tra được đính kèm ở phần mục lục). 4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ Sau thời gian tiến hành tác động (5 tuần), tiến hành cho học sinh 2 nhóm (thực nghiệm và đối chứng) làm bài kiểm tra sau tác động (cũng là bài kiểm tra kiến thức các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng thông qua tiết dạy có lồng ghép các kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao. Trên cơ sở kết quả thu được, chúng tôi tiến hành phân tích dữ liệu qua các thông số: Tính giá trị chênh lệch qua giá trị trung bình của các bài kiểm tra trước và sau tác động Bảng so sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động Thực nghiệm Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Đối chứng Trang 11 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Điểm trung bình 5.5 4,6 Độ lệch chuẩn 0,8 0,9 Giá trị P của T- test Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD) 0,0002 1,0 Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả P = 0,0002< 0,05, cho thấy sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 5,5  4,6 1 . 0,9 Theo bảng chỉ tiêu Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 1 cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân chia trong bảng cho học sinh yếu có ảnh hưởng tới nhóm thực nghiệm là lớn. Vấn đề nghiên cứu thông qua việc sử dụng kỹ thuật day học phối hợp thể dục thể thao có nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn không? Có phù hợp cho học sinh yếu lớp 1,2,3 hay không? Đã được kiểm chứng. Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 12 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 5. BÀN LUẬN - Cơ sở để lựa chọn các đối tượng học sinh để nghiên cứu cho đề tài là: + Cùng học một chương trình như nhau (175 tuần). + Điều kiện học tập như nhau (mỗi trường đều có 1 điểm chính và 2 điểm trường lẽ). + Ý thức học tập như nhau. + Trình độ như nhau, vốn tiếng việt như nhau. + Giáo viên đang giảng dạy các lớp 1,2,3 nhiệt tình, gần gũi, quan tâm đến học sinh như nhau và có trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm như nhau ( THSP 12+ 2 và Cao đẳng Sư phạm, xếp loại khá, tốt). Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đề tài đặt ra. Việc sử dụng kĩ thuật day học phối hợp thể dục thể thao trong tiết dạy thông qua các bước kiểm tra bài cũ, học bài mới, luyện tập ở lớp và củng cố cho nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của Trường tiểu học Ba Cụm Bắc là có khả năng thực hiện. Để tạo tính hiệu quả cần phải tiếp tục được nghiên cứu và phát triển. Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 13 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Qua kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là TBC= 5,5 kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là TBC = 4,6. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,8; Điều đó cho thấy điểm trung bình cộng của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, nhóm được tác động có điểm trung bình cộng cao hơn nhóm đối chứng. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1. Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn. Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình sau tác động của hai nhóm là p = 0,00002< 0,05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm. * Hạn chế: - Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao trong dạy học các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1,2,3 là giải pháp rất phù hợp. Nhưng để sử dụng có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải nhiệt tình, phải dành nhiều thời gian cho học sinh yếu thực hiện. Giáo viên phải dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học (trong lớp hay ở ngoài sân trường, tổ chức cá nhân hay nhóm) sao cho không ảnh hưởng chung đến học sinh đại trà. Mặc khác, đòi hỏi giáo viên phải biết cách dẫn dắt và tổ chức thực hiện sao cho ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, đặt biệt phải gây hứng thú cho học sinh thì mới rèn khả năng ghi nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho các em học sinh yếu. 6. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ * Kết luận: Việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao vào các tiết học các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh yếu lớp 1,2,3 huyện Khánh Sơn đã nâng cao khả năng nhớ tốt các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng. Các em học sinh yếu lớp 1,2,3 đã biết vận dụng vào trong quá trình thực hiện tính nhanh hơn, ít sai soát hơn. Mặc khác, thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 14 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng dục thể thao giúp các em học sinh yếu lớp 1,2,3 mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp với các bạn trong lớp, với các bạn lớp khác. Đặc biệt chất lượng học các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng được nâng lên rõ rệt. * Khuyến nghị: Các Trường tiểu học cần chỉ đạo đến tất cả giáo viên từ lớp 1 đến lớp 5 kể cả giáo viên giảng dạy các lớp có học sinh khuyết tật học hòa nhập thường xuyên vận dụng các kỹ thuật dạy học vào trong các tiết học nhất là kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao. Giáo viên phải có sự nhiệt tình, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, phải hết lòng vì học sinh thân yêu của chúng ta. Đồng thời giáo viên phải thường xuyên thay đổi các hình thức tổ chức dạy học trong một tiết học và biết phối kết hợp các kỹ thuật dạy học đã được triển khai vào trong quá trình giảng dạy của mình, tác động đến tất cả đối tượng học sinh trong lớp, và quan tâm nhiều đến các em học sinh yếu. 7. TÀI LIỆU THAM KHẢO: - Tan, C. (2008) Tài liệu tập huấn Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học dành cho giảng viên sư phạm 14 tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Dự án Việt Bỉ Bộ GD&ĐT. - Mạng Internet: http://flash.violet.vn; thuvientailieu.bachkim.com; thuvienbaigiangdientu.bachkim.com; giaovien.net. - Tài liệu dạy học lấy học sinh làm trung tâm. - Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên) - Nhà xuất bản giáo dục. 8. PHỤ LỤC - Kế hoạch bài học lớp 1,2,3. - Đề kiểm tra sau tác động và đáp án Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 15 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng - Bảng điểm kiểm tra trước và sau tác động của 2 nhóm. - Phiếu hỏi dành cho giáo viên dạy lớp 1,2,3 trên toàn huyện. 8.1. KẾ HOẠCH BÀI HỌC (lớp 1) Tuần 14 Thứ ngày tháng năm 2011 Toán Tiết 55: PHÉP CỘNG TRONG PHẠM VI 9 (LỚP 1) I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: giúp học sinh: - Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 9 - Thực hành làm tính cộng trong phạm vi 9 2. Kĩ năng: học sinh tính nhanh, chính xác. 3. Thái độ: Yêu thích và ham học toán. II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 1. Đồ dùng dạy học: Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 16 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng - Giáo viên : Mô hình, vật thật trong phạm vi 9. - Học sinh : Bảng cài, ĐDHT Toán, sách vở, bảng con 2. Phương pháp dạy học: giảng giải, trực quan, luyện tập. Sử dụng kỹ thuật dạy học như kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật nhóm, kỹ thuật trình bày 1 phút, kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Khởi động : (1’) Lớp hát 2. Bài cũ: (4’) Gọi 2 hs lên bảng làm bài, lớp làm bảng con, nhận xét 8+3 5 4+4 6 6+2 8 8–0 7 - Kiểm tra vở BT hs, nhận xét Học sinh yếu sử dụng chơi thể thao đánh cầu lông để kiểm tra phép trừ trong phạm vi 8. - Nhận xét bài cũ. 3. Dạy bài mới: Hoạt động của GV Hoạt động 1: Giới thiệu bài Hoạt động của HS 2 học sinh nhắc đề bài Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 9 (13’) Mục tiêu: giúp học sinh thành lập bảng cộng trong p phạm vi 9 và học thuộc lòng bảng cộng này Học sinh theo dõi a. Hướng dẫn hs học 8 + 1 = 9 và 1 + 8 = 9 “ Cô có 8 viên kẹo,thêm 1 viên kẹo nữa, hỏi cô có mấy viên kẹo ?” + Mấy thêm mấy bằng mấy ? + Ai đặt tính ? + Vậy ta cũng có 1 + 8 = 9 - 9 viên kẹo - 8 thêm 1 là 9 8+1=9 - Hs nhắc lại + Cho hs nhắc qui tắc cộng b. Hướng dẫn phép tính 6 + 3 = 9; 3 + 6 = 9 - Cô có 6 quả cam,thêm 3 quả cam nữa là mấy quả cam + Mấy quả cam thêm mấy quả cam là mấy quả - 6 quả cam thêm 3 quả cam là 9 quả cam Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 17 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng cam + Ai đặt tính ? + Gọi hs nhắc lại vài lần + Tương tự 3 + 6 = 9 c. Hướng dẫn phép tính 7 + 2 = 9, 2 + 7 = 9 5 + 4 = 9, 4 + 5 = 9 “ Qui trình tương tự ” - GV cho hs đọc lại bảng cộng - Cho hs sử dụng bảng cài * Nghỉ giữa tiết. Hoạt động 2: Thực hành (20’) 6+3=9 - Hs nhắc - Cả lớp đọc và cài bảng cài Chia 2 dãy: dãy a nêu phép cộng, dãy b trả lời kết quả và ngược lại. Học sinh yếu chơi thể thao môn cầu lông để học thuộc bảng cộng trong phạm vi 9. 2 học sinh đọc đề Bài 1: Tính Cho hs nêu yêu cầu BT1 Gv hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập - Đặt tính dọc các cố phải đặt thẳng hàng, thẳng cột. Đặt tính dọc các số như thế nào? - HS làm bảng con. GV ghi bảng, cho hs làm bảng con. Nhận xét, chốt ý 2 học sinh đọc đề Bài 2: Tính (giảm cột 3) Giáo viên xác định yêu cầu bài tập Gv hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập Cho hs làm vào phiếu 2+7=9 4+5=9 8+1=9 0+9=9 4+4=8 5+2=7 8–5=3 7–4=3 6–1=5 - Hs làm vào phiếu bài tập - Vài em nộp chấm - Giáo viên chấm, nhận xét Bài 3: Tính - Giáo viên xác định yêu cầu bài tập. Gv hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập GV hỏi: Hs nhẩm 4 cộng 1 bằng mấy? (5), tiếp lấy 5 cộng 4 bằng mấy? (9), vậy 4 cộng 1 cộng 4 bằng mấy? (9) 2 Học sinh đọc đề 4 cộng 1 bằng 5, lấy tiếp 5 cộng 4 bằng 9 vậy 4 cộng 1 cộng 4 bằng 9. - HS làm vào vở toán Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 18 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Ghi kết quả sau dấu bằng 4 + 1 + 4 = 9 6+3=9 1+8=9 4+5=? 6+1+2=9 1+2+6=9 4+2+3=? 6+3+0=9 1+3+5=9 Giáo viên Chấm vở, nhận xét 2 học sinh đọc đề Bài 4: Viết phép tính thích hợp Xác định yêu cầu bài tập Dựa vào tranh sách giáo khoa Dựa vào đâu để viết số thích hợp Học sinh quan sát tranh sgk Gv hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập (Cho hs xem tranh bài toán, sau đó viết số tương ứng) Học sinh trả lời a. Có mấy hộp chấm bi đen? (8) Thêm mấy hộp nữa? (1). Có tất cả mấy hợp chấm bi đen? (9) b. Có mấy bạn học sinh đang chơi? (7), thêm mấy bạn đến chơi nữa? (2). Có tất cả mấy bạn đang chơi? (9) Học sinh lên bảng làm, lớp viết phép tính vào bảng con Học sinh trình bày, lớp nhận xét. Giáo viên nhận xét, chốt ý. 4. Củng cố: (3’) - Gọi hs đọc bảng cộng trong phạm vi 9 sử dụng kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao. - Xem lại bài,chuẩn bị bài sau: “Phép trừ trong phạm vi 9” - Nhận xét tiết học. 5. Rút kinh nghiệm tiết dạy: ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 19 Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng KẾ HOẠCH BÀI HỌC (lớp 2) Tuần 13 Thứ ngày tháng năm 2011 Toán Tiết 61: 14 Trừ đi một số 14 - 8 I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức: Giúp học sinh: - Biết lập và ghi nhớ bảng trừ 14 trừ đi một số 14-8. - Biết vận dụng bảng trừ đã học để làm tính và giải bài toán. 2. Kĩ năng: Rèn làm tính nhanh, giải toán đúng chính xác. 3. Thái độ: Học sinh yêu thích và ham học toán. II. ĐỒ DÙNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 1. Đồ dùng dạy học Nguyễn Thị Thừa – Chuyên môn tiểu học – PGD & ĐT Khánh Sơn Trang 20
- Xem thêm -