Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty TNHH thương mại Hương Long

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tài sản 1.1.1. Khái niệm về tài sản Theo chuẩn mực số 1: Chuẩn mực chung trong “Chuẩn mực Kế toán Việt Nam” đƣợc ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2012 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính đã đƣa ra định nghĩa về tài sản nhƣ sau: “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai”. Tài sản đƣợc biểu hiện dƣới hình thái vật chất nhƣ nhà xƣởng, máy móc, thiết bị, vật tƣ, hàng hóa hoặc không thể hiện dƣới hình thái vật chất nhƣ bản quyền, bằng sáng chế nhƣng phải thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhƣng doanh nghiệp kiểm soát đƣợc và thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai, nhƣ tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai nhƣng có thể không kiểm soát đƣợc về mặt pháp lý nhƣ bí quyết kỹ thuật thu đƣợc từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ đƣợc bí mật và doanh nghiệp còn thu đƣợc lợi ích kinh tế. Vậy tài sản ở đây phải hiểu là các yếu tố kinh tế cả hữu hình lẫn vô hình mà doanh nghiệp nắm giữ, quản lý, sử dụng để mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong tƣơng lai. Do đó có thể khẳng định rằng, tài sản đóng vai trò lớn trong việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng, góp phần đáng kể đem lại những lợi ích cho doanh nghiệp. 1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Có rất nhiều cách phân loại tài sản trong doanh nghiệp nhƣng có thể phân loại theo 3 cách: phân loại theo hình thái biểu hiện, phân loại theo thời gian và phân loại theo tính luân chuyển của tài sản.  Phân loại theo hình thái biểu hiện Theo nhƣ phân loại này thì tài sản pháp lý bao gồm tất cả các quyền lợi, lợi nhuận có liên quan đến quyền sở hữu, bao gồm quyền sở hữu cá nhân, nghĩa là chủ sở hữu có quyền hƣởng lợi ích nhất định khi làm chủ tài sản đó (Theo ủy ban thẩm định 1 quốc tế - IVSC). Căn cứ vào tính có hay không có tính chất vật lý tài sản có thể chia nhƣ sau: Tài sản vô hình: là những quyền tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thƣờng chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao. Tuy nhiên một số quyền tài sản có thể chuyển giao nhƣ thƣơng hiệu hàng hóa hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy đƣợc và không thể dùng đại lƣợng để tính. Nhƣng trong quá trình chuyển giao có thể quy ra tiền. Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá nhƣ thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ bồi thƣờng nhƣng khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vô hình không thể xác định đƣợc. Tài sản hữu hình: là những cái có thể dùng giác quan để nhận biết đƣợc hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm đƣợc. Điều kiện để vật trở thành tài sản là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Bởi vì khi vật không thuộc của ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ. Khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng ta phải có một đặc tính riêng nhƣ: thuộc sở hữu của ai đó, có đặc tính vật lý, có thể trao đổi đƣợc, có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất, là những thứ đã tồn tại và có thể tồn tại trong tƣơng lai.  Phân loại theo thời gian Dựa vào hình thức sở hữu tài sản theo thời gian và giá trị sở hữu tài sản trên hoặc dƣới 30 triệu ta có thể chia thành hai loại là Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn Khái niệm: tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh (trong vòng 1 năm). Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dƣới hình thái tiền, hiện vật (vật tƣ, hàng hóa), dƣới dạng đầu tƣ ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Đặc điểm: đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại TSNH chiếm tỷ trọng lớn, thƣờng chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng. Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại TSNH có ảnh hƣởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải biết rõ số lƣợng, giá trị mỗi loại TSNH là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao. Tài sản ngắn hạn đƣợc phân bổ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và 2 Thang Long University Library tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hƣởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Do đó, TSNH có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, TSNH là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vốn động và luân chuyển không ngừng trong một giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên cũng vận động phức tạp và khó quản lý. Phân loại tài sản ngắn hạn: trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng, tùy theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận động của TSNH có thể phân loại nhƣ sau Tiền và các khoản tương đương tiền: tiền đƣợc hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tƣơng đƣơng tiền là các khoản đầu tƣ ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tƣ chứng khoáng có thời hạn thu hồi dƣới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (nhƣ: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tƣ tài chính khác không quá 1 năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn, và các khoản phải thu khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dƣới một năm. Tồn kho: bao gồm vật tƣ, hàng hóa, sản phẩm, sản phẩm dở dang. Tài sản ngắn hạn khác bao gồm: chi phí trả trƣớc ngắn hạn, thuế GTGT đƣợc khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nƣớc, tài sản ngắn hạn khác. Tài sản dài hạn Khái niệm: tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tƣ và các TSDH khác có đến thời điểm báo cáo, bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tƣ, các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn và TSDH khác. Đặc điểm: TSDH thƣờng là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài cho nên khả năng chuyển đổi thành tiền với giá trị tƣơng đƣơng tiền khó hơn TSNH, khó đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp hơn TSNH. TSDH khó chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên doanh nghiệp tốn ít chi phí quản lý hơn TSNH. Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên và có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên. Phân loại tài sản dài hạn: cũng nhƣ TSNH thì TSDH đƣợc phân loại theo những tiêu thức nhƣ sau: 3 Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm. Bất động sản đầu tư: là những bất động sản gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do ngƣời chủ sở hữu hoặc ngƣời đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thƣờng. Tài sản cố định: là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài hạn cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai từ việc sử dụng tài sản đó. Nguyên giá tài sản phải đƣợc xác định một cách tin cậy. Ngoài ra phải có thời gian sử dụng từ một năm trở lên. Đặc biệt phải có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên. Tài sản dài hạn khác: bao gồm chi phí trả trƣớc dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại, tài sản dài hạn khác. Tài sản tài chính dài hạn: là các khoản đầu tƣ vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tƣ khác vƣợt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói, tài sản chính dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tƣ vào các linh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm, nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp.  Phân loại theo tính luân chuyển của tài sản Tài sản lưu động: là những đối tƣợng lao động, tham gia toàn bộ và luân chuyển giá trị một lần vào giá trị sản phẩm. TSLĐ trong doanh nghiệp thƣờng đƣợc chia làm hai loại là TSLĐ sản xuất (nguyên nhiên vật liệu,…) và TSLĐ lƣu thông (các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,…). Đặc điểm của TSLĐ là trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành liên tục. Tài sản cố định: là những tƣ liệu sản xuất, là một trong những loại tài sản có giá trị lớn đƣợc huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Nó tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo ra sản phẩm sản xuất. Thông thƣờng các loại tài sản này có chu kỳ sử dụng trong dài hạn. Tài sản cố định đƣợc phân thành bất động sản và động sản. 4 Thang Long University Library 1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp Trong sản xuất kinh doanh, chúng ta không thể không nói đến tài sản. Đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Đặc biệt trong ngành sản xuất vải bạt thì tài sản có vai trò vô cùng quan trọng. Trong đó, tài sản lƣu động giúp doanh nghiệp có thể quay vòng vốn nhanh hơn và giảm chi phí sử dụng vốn. Tài sản lƣu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tƣ. Nhu cầu lƣợng vật tƣ dự trữ ở các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu vốn lƣu động cao hay thấp. Tài sản lƣu động luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số vật tƣ tiết kiệm hay lãng phí, thời gian ở các khâu có hợp lý hay không và mức độ luân chuyển vốn lƣu động đã đạt yêu cầu hay chƣa. Nhƣ vậy, thông quá sự vận động của tài sản lƣu động có thể đánh giá đƣợc tình hình dự trữ tiêu thụ sản phẩm, tình hình sử dụng vốn lƣu động của doanh nghiệp. Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và phát triển không ngừng thì việc đầu tƣ vào tài sản đặc biệt là tài sản cố định là rất cần thiết. Cụ thể tài sản cố định là điều kiện tăng năng suất lao động xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân. Từ góc độ vi mô, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất chính là yếu tố để xác định quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Còn từ góc độ vĩ mô, tài sản cố định đánh giá về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn bộ nên kinh tế có vững mạnh hay không. Do vậy, việc hiều và đánh giá đúng về tài sản là vấn đề thiết thực đối với doanh nghiệp. 1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm Theo các chuyên gia và các nhà kinh tế đánh giá, hiệu quả đƣợc coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó, trong điều kiện nhất định. Nhƣ vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả đƣợc xem xét trong bối cảnh điều kiện nhất định, đồng thời cũng đƣợc xem xét dƣới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu. Mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Ngày nay, cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra trong khối ngành kinh tế, doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải đặc biệt quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế đƣợc hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt đƣợc các mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất – kinh doanh. 5 Trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nƣớc và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận. Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng nhƣ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản. Hiệu quả sử dụng tài sản là một trong những căn cứ đánh giá năng lực hoạt động của doanh nghiệp và nó cũng ảnh hƣởng lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Vì vậy việc quản lý sử dụng tốt tài sản sẽ góp phần làm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ đạt đƣợc các mục tiêu đề ra. Nhƣ vậy, bản chất hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là việc phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất – kinh doanh không gián đoạn với hiệu quả kinh tế cao nhất. 1.2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp,… song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn đƣa ra và tìm cách để giải quyết những quyết định về tài chính. Mà quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản trong doanh nghiệp là một trong những nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính của doanh nghiệp. Nó ảnh hƣởng rất lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà một yêu cầu khách quan gắn liền với bản chất và định hƣớng mục tiêu của doanh nghiệp đó là cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản. Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản Có rất nhiều cách phân loại tài sản và một trong số đó là phân loại tài sản theo thời hạn sử dụng. Phân loại tài sản theo thời hạn sử dụng thì tài sản đƣợc chia thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong đó, một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh đó là tài sản ngắn hạn. Trong khâu dự trữ và sản xuất, để đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp đƣợc tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ và công đoạn sản xuất thì bắt buộc 6 Thang Long University Library phải có tài sản ngắn hạn. Bên cạnh đó, trong lƣu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ đƣợc diễn ra liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng. Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn đƣợc diễn ra thƣờng xuyên. Mặt khác, tài sản dài hạn cũng góp phần quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản dài hạn gồm các tài sản cố định, có tài sản cố định thì quá trình sản xuất kinh doanh mới hoàn thành. Với vai trò to lớn nhƣ vậy thì việc phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn là một điều tất yếu. Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp có nghĩa là có thể tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian lƣu thông và giảm bớt số lƣợng tài sản ngắn hạn bị chiếm dụng. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong cũng có nghĩa là làm cho tài sản cố định hoạt động tốt hơn, tăng các khoản đầu tƣ tài chính, thu đƣợc nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp. Từ đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nƣớc, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nƣớc. Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại các doanh nghiệp Sử dụng tài chính trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm không hiệu quả trong doanh nghiệp là nguyên nhân phổ biến khiến các doanh nghiệp thất bại trên thƣơng trƣờng. Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản cố định và tài sản lƣu động, có khi không kiểm soát đƣợc tài sản lƣu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Một trong những cách gián tiếp nâng cao trình độ tay nghề cũng nhƣ trình độ chuyên môn cho đội ngũ lao động kỹ thuật, đặc biệt là các công nhân trực tiếp vận hành máy móc, đó là sử dụng tài sản cố định một cách hợp lý. Chính vì thế, tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là rất cần thiết trong mỗi doanh nghiệp. Và để đảm bảo trình độ kỹ thuật, phƣơng tiện hiện đại, các doanh nghiệp đã không ngừng chú trọng nâng cao hiệu quả đầu tƣ vào tài sản, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng sản xuất, giúp Công ty ngày càng đứng vững và phát triển trên thị trƣờng. 1.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản 1.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, cần nghiên cứu một cách toàn diện về cả thời gian, không gian, môi trƣờng kinh doanh đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với 7 sự biến động của giá cả và các yếu tố sản xuất. Dƣới đây là các chỉ tiêu đƣợc sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (số vòng quay tổng tài sản) Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công thức sau: Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và điều kiện để nâng cao lợi nhận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chƣa hoạt động hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của công ty và cũng là một thƣớc đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty. Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản Hệ số này có ý nghĩa là với 100 đồng tài sản của công ty sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Một công ty đầu tƣ tài sản ít nhƣng thu đƣợc lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tƣ nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu đƣợc thấp. Hệ số ROA thƣờng có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tƣ tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị, công nghệ nhƣ các ngành vận tài, xây dựng, sản xuất kim loại,… thƣờng có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tƣ nhiều vào tài sản nhƣ ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm,…. Một trong những khía cạnh đƣợc quan tâm nhất của thu nhập trên tổng tài sản là khả năng phối hợp của các chỉ số tài chính để tính toàn ROA. Một ứng dụng thƣờng đƣợc nhắc tới nhiều nhất là mô hình phân tích Dupont dƣới đây: Lợi nhuận sau thuế ROA = Doanh thu thuần X Doanh thu thuần Tài sản bình quân 8 Thang Long University Library ROA = Tỷ suất sinh lời trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Từ mô hình chi tiết ở trên có thể thấy đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của tài sản đó là hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản càng cao chứng tỏ sức sản xuất của tài sản càng nhanh đó nhân tố để tăng sức sinh lời cho tài sản. Trên cơ sở đó nếu doanh nghiệp muốn tăng hiệu suất sử dụng tài sản thì cần phải phân tích các nhân tố liên quan, phát hiện các mặt tích cực tiêu cực của từng nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản, góp phân nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Khi nghiên cứu khả năng sinh lời của tài sản cần phải quan tâm đến mức tăng của vốn chủ sở hữu bởi hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời lên doanh thu thuần là hai nhân tố không phải lúc nào cũng tăng ổn định. Mặt khác, để tăng lợi nhuận trong tƣơng lai cũng cần phải đầu tƣ thêm. Việc tăng vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào lợi nhuận sau thuế và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy cần phải kết hợp tăng vốn chủ sở hữu và tăng những nguồn tài trợ từ bên ngoài. Tóm lại, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp dựa vào mô hình tài chính Dupont đã đánh giá đầy đủ hiệu quả trên mọi phƣơng diện. Đồng thời phát hiện ra các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản để từ đó có các biện pháp nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự kiến vốn đầu tƣ khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần nhƣ dự kiến, chỉ tiêu này ngƣợc lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản, chỉ tiêu này đƣợc xác định nhƣ sau: Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài sản để tạo ra một đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ. Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này đƣợc xác định theo công thức sau: 9 Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận = Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, để tạo ra một đồng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả sử dụng tài sản càng cao và càng hấp dẫn nhà đầu tƣ và ngƣợc lại. Thời gian quay vòng tiền Chỉ tiêu này cho biết thời gian quay vòng tiền trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp. Số vòng quay càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và ngƣợc lại. Chỉ tiêu này đƣợc xác định nhƣ sau: Thời gian quay vòng tiền = Kỳ thu tiền bình quân + Số ngày tồn kho bình quân - Số ngày phải trả bình quân 1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản ánh tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đƣợc sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lƣu thông. Quá trình vận động của TSNH bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tƣ dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dƣới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động nhƣ vậy đƣợc gọi là một vòng luân chuyển của TSNH. Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp các hệ thống chỉ tiêu tài chính đƣợc đƣa ra để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán là không thể thiếu. Qua quá trình phân tích hệ thống chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của mình và đƣa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục khó khăn trong niên độ tiếp theo. Để đánh giá khách quan hiệu quả sử dụng TSNH chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu nhƣ sau: Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSNH Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSNH = TSNH bình quân TSNH bình quân trong kỳ là bình quân số học của TSNH có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị TSNH sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, 10 Thang Long University Library chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao, đó nhân góp phần nâng cao lợi nhuận. Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROCA – Return on Current Assets) Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của TSNH = TSNH Thời gian 1 vòng quay của TSNH Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển đƣợc bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn mang lại bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động càng nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. 360 Thời gian quay vòng TSNH = Hiệu suất sử dụng TSNH Chỉ tiêu về khả năng thanh toán Đây là nhóm chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi nó đến hạn. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể đƣa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động. Do đó cần chú ý đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lƣờng khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn hay nói cách khác là 1 đồng nợ ngắn hạn đƣợc đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngƣợc lại. Nếu khả năng thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp 11 không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tƣ quá nhiều vào tài sản lƣu động so với nhu cầu. Hệ số khả năng thanh toán nhanh Là chỉ tiêu đƣợc dùng để đánh giá khả năng thanh toán tức thời (thanh toán ngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền. Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho. Chỉ tiêu này càng cao thì tình hình tài chính của doanh nghiệp càng tốt. Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán tức thời Hệ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền và khoản nợ đến hạn phải trả. Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì hiện tại doanh nghiệp có bao nhiêu đơn vị tiền tệ tài trợ cho nó. Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là tốt, nếu chỉ tiêu này thấp thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp chƣa tốt. Tuy nhiên, hệ số thanh toán tức thời quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời. Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0,5. Khi hệ số này lớn hơn 0,5 thì khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp là khả quan và ngƣợc lại. Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu về hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quang luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho đƣợc xác định bằng: Doanh thu thuần Số vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. 12 Thang Long University Library Tuy nhiên, chỉ số này quá cao cũng không tốt vì chứng tỏ lƣợng hàng dự trữ trong kho không nhiều nếu nhu cầu thị trƣờng tăng đột biến thì có khả năng doanh nghiệp sẽ không đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng. Từ đó dẫn đến doanh nghiệp có khả năng mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Thời gian luân chuyển kho trung bình: Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay đƣợc một vòng vì hàng tồn kho có ảnh hƣởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng TSNH ở khâu dự trữ. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển tồn kho có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và ngƣợc lại. 360 Thời gian luân chuyển kho trung bình = Số vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu các khoản phải thu Vòng quay khoản phải thu Doanh thu thuần Số vòng quay các khoản phải thu = Khoản phải thu khách hàng Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà khách hàng nhận đƣợc từ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đã thu đƣợc bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chƣa đƣợc thu là bao nhiêu. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao tức là khách hàng trả nợ doanh nghiệp càng nhanh. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp. Thời gian thu tiền bình quân Chỉ tiêu này đƣợc đánh giá khả năng thu hồi vốn trong các doanh nghiệp, trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày. Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu đƣợc các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngƣợc lại. Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trƣờng hợp chƣa kết luận đƣợc chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp nhƣ mục tiêu mở rộng thị trƣờng và chính sách tín dụng. 13 360 Thời gian thu tiền bình quân = Số vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu phán ánh suất hao phí Suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần Suất hao phí của TSNH so với doanh thu cho biết để có một đồng doanh thu thuần trong kỳ cần bao nhiêu đồng giá trị TSNH. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sự dụng TSNH càng cao. Tổng TSNH Suất hao phí của TSNH so với doanh thu = Doanh thu tuần Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng TSNH, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao. Chỉ tiêu này là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản ngắn hạn khi muốn có mức độ lợi nhuận mong muốn. Tổng TSNH Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế 1.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn Hiệu quả sử dụng TSDH phản ánh một đồng giá trị TSDH làm ra đƣợc bao nhiêu đồng giá trị sản lƣợng hoặc lợi nhuận. Hiệu quả sử dụng TSDH đƣợc thể hiện qua chỉ tiêu chất lƣợng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình độ phổ biến, đặc trƣng cơ bản của hiện tƣợng nghiên cứu. Chỉ tiêu chất lƣợng này đƣợc thể hiện dƣới hình thức giá trị về tình hình và sử dụng TSDH trong một thời gian nhất định. Trong khi sản xuất kinh doanh thì chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa giá trị sản lƣợng đã đƣợc tạo ra với giá trị tài sản cố định sử dụng bình quân trong kỳ hoặc là quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thực hiện với giá trị TSDH sử dụng bình quân. Sau đây là một chỉ tiêu mà các nhà quản trị thƣờng quan tâm nhất. Để phân tích hiệu quả sử dụng TSDH của doanh nghiệp, khóa luận tốt nghiệp xin đƣợc phân tích theo các yếu tố nhƣ sau: Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSDH Hiệu suất sử dụng TSDH Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSDH = Tổng TSDH 14 Thang Long University Library Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tƣ cho tài sản dài hạn trong một kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSDH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSDH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời của TSDH Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của TSDH = TSDH Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản dài hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSDH càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu phản ánh suất hao phí Suất hao phí của TSDH so với doanh thu Tổng TSDH Suất hao phí của TSDH so với doanh thu = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị TSDH, đó chính là căn cứ để đầu tƣ TSDH chi thích hợp. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn mức doanh thu nhƣ mong muốn. Suất hao phí TSDH so với lợi nhuận sau thuế TSDH Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết để có một hợp đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng TSDH bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao, chỉ tiêu này là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản dài hạn khi muốn có mức độ lợi nhuận mong muôn. Suất hao phí của TSCĐ Suất hao phí của TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ sử dụng bình quân năm Tổng doanh thu Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị TSCĐ, đó là căn cứ để đầu tƣ TSCĐ cho phù hợp nhằm đạt đƣợc doanh thu nhƣ mong muốn. 15 1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đƣa ra các chiến lƣợc và kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp cho doanh nghiệp đạt đƣợc những mục tiêu đề ra. 1.4.1. Các nhân tố khách quan Môi trƣờng kinh tế Nhân tố này thể hiện các đặc trƣng của hệ thống kinh tế nhƣ: chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trƣởng kinh tế, hệ thống tài chính tiền tệ. tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các chính sách tài chính – tín dụng của Nhà nƣớc. Chu kỳ kinh tế gồm 4 giai đoạn: giai đoạn tăng trƣởng, giai đoạn cực thịnh, giai đoạn suy thoái và giai đoạn ngƣng trệ. Chu kỳ kinh tế tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản. Bởi khi nền kinh tế lâm vào giai đoạn suy thoái hay ngƣng trệ làm cho sản xuất kinh doanh kém đi, khả năng sử dụng tài sản cũng bị kém theo. Còn khi nền kinh tế ở giai đoạnh tăng trƣởng cực thịnh thì sản xuất kinh doanh tốt, tài sản đƣợc sử dụng một cách hiệu quả nhất. Các chính sách kinh tế của nhà nƣớc, tốc độ lạm phát, thu nhập trên đầu ngƣời tác động đến cung cầu của doanh nghiệp. Nếu nhƣ tốc độ tăng trƣởng cao, các chính sách của chính phủ khuyến khích doanh nghiệp đầu tƣ mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát đƣợc giữ ở mức hợp lý, thu nhập trên đầu ngƣời tăng,… thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao sử dụng tài sản và ngƣợc lại. Chính trị - pháp luật Trong nền kinh tế thị trƣờng vai trò của Nhà nƣớc là hết sức quan trọng. Sự can thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nƣớc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung nhƣ: duy trì sự ổn định kinh tế, chính trị, định hƣớng phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Khoa học công nghệ Khoa học công nghệ một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên tiến bộ khoa học công nghệ cũng làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn. Có những 16 Thang Long University Library máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ,… mới chỉ nằm trên các dự án các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó. Nhƣ vậy việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa học công nghệ là hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn phƣơng án đầu tƣ để có thể đạt đƣợc hiệu quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thị trƣờng Thị trƣờng là nhân tố có ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trƣờng đầu vào thị trƣờng đầu ra và thị trƣờng tài chính. Khi thị trƣờng đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm. Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tƣơng ứng với tỷ lệ tăng của giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng sự sụt giảm về số lƣợng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu thị trƣờng đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lƣợng cao, giá bán hợp lý, khối lƣợng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trƣờng thì sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Đối thủ cạnh tranh Đây là yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tồn tại phát triển của doanh nghiệp. Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sản xuất có ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ khách hàng nhà cung cấp các đối thủ cạnh tranh các sản phẩm thay thế,… Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng nhƣ ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp và cũng tạo ra động lực phát triển doanh nghiệp. Môi trƣờng quốc tế Các xu hƣớng chính trị trên thế giới, các chính sách bảo hộ và mở cửa của các nƣớc trên thế giới, sự mất ổn định chính trị, tình hình phát triển kinh tế các nƣớc trên thế giới,… ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động lựa chọn và sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Vì vậy môi trƣờng quốc tế ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh cũng nhƣ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Môi trƣờng kinh tế, chính trị ổn định là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. 1.4.2. Các nhân tố chủ quan Trình độ nguồn nhân lực: Con ngƣời luôn đóng vai trò trung tâm và có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Đặc biệt trong nền 17 kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay, khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau một cách gay gắt thì con ngƣời càng khẳng định đƣợc mình là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinh doanh. Bộ phận quản lý doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và quyết định rất lớn tới tài sản doanh nghiệp. Nếu trình độ quản lý doanh nghiệp còn non kém dẫn tới việc thất thoát vật tƣ, hàng hóa dẫn đến sử dụng lãng phí tài sản trong doanh nghiệp. Nếu bộ phận quản trị có khả năng chuyên môn cao, nhạy bén, đƣa ra những quyết định kịp thời và hoạch định chính sách phù hợp từng giai đoạn thì việc sử dụng tài sản có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tốt hơn. Trình độ quản lý doanh nghiệp đƣợc biểu hiện qua cách quản lý tài sản chung, quản lý TSNH và quản lý TSDH. Quản lý tài sản ngắn hạn thông qua chính sách quản lý tiền mặt, quản lý các khoản phải thu, quản lý hàng tồn kho. Quản lý TSDH đƣợc thể hiện qua các chính sách quản lý và các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn, quản lý tài sản cố định. Nếu chính sách quản lý trên hiệu quả thì sử dụng tài sản trong doanh nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đội ngũ cán bộ nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất thì tay nghề và kiến thức của họ là rất quan trọng. Nếu các lao động có trình độ tay nghề tâm huyết và có ý thức trách nhiệm sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tránh hao hụt lãng phí tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Ngƣợc lại nếu đội ngũ nhân viên có trình độ thấp sẽ không thể có đầy đủ khả năng sử dụng một cách hiệu quả tài sản. Do đó, doanh nghiệp luôn luôn có những chính sách đào tạo nguồn nhân lực thƣờng xuyên cho cán bộ nhân viên. Ngành nghề kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực vải bạt xuất khẩu nền cần đến tài sản rất nhiều, các tài sản cố định có giá trị lớn để phục vụ sản xuất. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản sẽ giúp cho công ty đầu tƣ trong ngành nghề kinh doanh của mình. Tình hình tài chính doanh nghiệp Tình hình tài chính của doanh nghiệp là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô doanh nghiệp và là nguồn hình thành nên tài sản doanh nghiệp. Do đó khả năng huy động tài chính sẽ phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có khả năng huy động tốt sẽ góp phần mở rộng hoạt động đầu tƣ làm tăng doanh thu làm tăng hiệu suất tài sản. Và ngƣợc lại, nếu nhƣ khả năng huy động vốn yếu kém thì doanh nghiệp không đảm bảo đƣợc nguyên liệu đầu vào, các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra và không có khả 18 Thang Long University Library năng đầu tƣ đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất dó đó không nâng cao đƣợc tài sản. Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hƣởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy tình hình tài chính tác động mạnh tới hiệu quả sử dụng tài sản của chính doanh nghiệp đó. Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Cơ sở hạ tầng giúp doanh nghiệp sử dụng tài sản có hiệu quả hơn. Cơ sở hạ tầng bao gồm trụ sở làm việc, cơ sở sản xuất, hệ thống bán hàng, nhà kho, bến bãi,… Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng đƣợc bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả bấy nhiêu. Ví dụ môi trƣờng làm việc trong doanh nghiệp đảm bảo an toàn lao động, môi trƣờng văn hóa tốt thúc đẩy lao động làm việc hăng say và thoải mái. Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất ảnh hƣởng đến năng suất chất lƣợng vật liệu. Nếu công nghệ tiên tiến hiện đại sẽ đem lại những sản phẩm tốt hơn. Nếu công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho chất lƣợng sản phẩm rất thấp và gây lãng phí nguyên vật liệu. 19 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Trong chƣơng 1 của khóa luận đã đƣa ra đƣợc những cơ sở lý luận chung về việc sử dụng và quản lý tài sản trong doanh nghiệp, các chỉ tiêu để đánh giá đƣợc hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Qua đó, chỉ ra những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Trong chƣơng 2, trên cơ sở lý luận chung đã nêu ở chƣơng 1, khóa luận sẽ tiến hành phân tích khái quát tình hình kinh doanh của Công ty TNHH Thƣơng Mại Hƣơng Long , thực trạng quản lý tổng tài sản gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn thông qua việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -