Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 32 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tài sản trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài sản trong doanh nghiệp Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) do Hội đồng chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASC) đưa ra, tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Theo điều 163 của Luật Dân sự 2005, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá (như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu...) và các quyền tài sản (như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng...). Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ (Điều 181 của Luật Dân sự 2005). Tài sản của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, có thể là hữu hình, vô hình, bằng tiền, cố định hay lưu động..., nó không chỉ thể hiện dưới hình thái vật chất mà còn biểu hiện dưới hình thái giá trị, là những tài sản chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp khi sử dụng. Giá trị của tài sản được biểu hiện bằng tiền, gọi là vốn của doanh nghiệp. Giá trị của chúng cần phải được đánh giá, đo đạc một cách chính xác, tin cậy và được so sánh với các thước đo trung gian áp dụng theo các quy định hiện hành. Do đó, tài sản đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần mang lại lợi ích cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một số đặc điểm của tài sản là: - Mỗi tài sản có những đặc tính nhất định, có thể thể hiện dưới hình thái vật chất hoặc giá trị tinh thần; - Thuộc sở hữu của một chủ thể. Theo điều 164 của Luật Dân sự 2005, quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật; chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản; 1 - Tài sản có thể chuyển nhượng, trao đổi hay có thể được mua, bán, tặng, cho với người thứ ba; - Tài sản tham gia trực tiếp vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.2. Phân loại tài sản trong doanh nghiệp a. Căn cứ vào hình thái biểu hiện - Tài sản hữu hình Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ các mục đích của mình. Tài sản hữu hình bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. - Tài sản vô hình Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ mục đích của mình. Tài sản vô hình bao gồm: kỹ năng quản lý, bí quyết marketing, danh tiếng, uy tín, tên hiệu, biểu tượng doanh nghiệp và việc sở hữu các quyền và công cụ hợp pháp (quyền sử dụng đất, quyền sáng chế, bản quyền, quyền kinh doanh hay các hợp đồng). b. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển và công dụng Tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm tài sản cơ bản là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn (còn gọi là tài sản lưu động) là đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, có thời gian chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm (hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh) và thường xuyên luân chuyển trong quá trình đó. Trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, các đối tượng lao động thông qua quá trình sản xuất hợp thành thực thể của sản phẩm. Kết thúc chu kỳ, doanh nghiệp sẽ thu về toàn bộ vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn. Ngoài ra, phần chênh lệch giữa khoản vốn đầu tư và số tiền thực tế thu về chính là khoản lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì toàn bộ giá trị của tài sản ngắn hạn sẽ được dịch chuyển một lần vào sản phẩm nên để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi, liên tục, doanh nghiệp phải luôn dự trữ tài sản ngắn hạn ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất. Do đó trong mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn luôn thay đổi tại mọi thời điểm. Thông thường với doanh nghiệp thương mại, vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn thường đơn giản hơn và được phân thành các loại dưới đây. 2 Thang Long University Library - Tiền và các khoản tương đương tiền Tồn tại dưới các loại hình thức sau đây: + Tiền mặt; + Tiền gửi ngân hàng; + Tiền đang chuyển. Tài sản bằng tiền có thể là nội tệ, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý ... có giá trị tương đương như tiền. Loại tài sản này có tính thanh khoản cao, các doanh nghiệp sử dụng nhằm mục đích thanh toán. Ngoài ra loại tài sản ngắn hạn này giúp phản ánh khả năng thanh toán nhanh và khả năng quản lý tài chính của doanh nghiệp, đồng thời có kế hoạch đầu tư tài chính tạm thời nhàn rỗi để tránh ứ đọng vốn. - Các khoản phải thu Các khoản phải thu là một loại tài sản của doanh nghiệp vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai, được tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp (bao gồm tất cả các khoản nợ doanh nghiệp chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán). Hầu hết các khoản phải thu ngắn hạn được coi như là một phần của tài sản vãng lai của doanh nghiệp. Các khoản phải thu thường dưới dạng tín dụng và thường trong thời gian ngắn, từ vài ngày cho đến 1 năm. Một doanh nghiệp có khoản phải thu, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đã bán hàng nhưng chưa thu được tiền. Hầu hết các doanh nghiệp đều cho phép một phần lượng bán của mình dưới hình thức trả chậm và được áp dụng cho một số khách hàng thường xuyên hay một số khách hàng đặc biệt được gửi hóa đơn định kỳ, và tránh được những rắc rối về thanh toán khi một giao dịch được thực hiện (khách hàng ghi giấy nhận nợ với doanh nghiệp cho những sản phẩm hay dịch vụ đã nhận). Có thể phân loại các khoản phải thu như sau: + Phải thu khách hàng: Là tiền bán hàng, sản phẩm, dịch vụ chưa thu được tiền, nhưng khách hàng đã chấp nhận thanh toán và khoản này đã được tính vào phần doanh thu bán trong kỳ, kể cả trường hợp cấp tín dụng thương mại (các doanh nghiệp cấp tín dụng cho nhau vay, không có sựu can thiệp của ngân hàng); + Ứng trước cho người bán: Là khoản tiền thanh toán trước (ứng trước) cho nhà cung cấp mặc dù doanh nghiệp chưa nhận được hàng hóa tại thời điểm 3 báo cáo. Mục đích của khoản phải thu này nhằm đảm bảo thự hiện hợp đồng và nguồn hàng hóa đầu vào của doanh nghiệp; + Phải thu nội bộ: Là các khoản phải thu do các đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp chi hộ cho nhau hoặc các đơn vị có nghĩa vụ phải nộp cho nhau; + Các khoản phải thu khác: Là các khoản phải thu khi đã có các quyết định như bồi thường, lãi thu về...; + Dự phòng các khoản phải thu khó đòi: Là khoản dự kiến bị tổn thất của các khoản phải thu trong kỳ kinh doanh tiếp theo trong trường hợp con nợ không có khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. - Hàng tồn kho Hàng tồn kho là một hạng mục tài sản ngắn hạn quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường hoặc đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang; là nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán. Thông thường, tỷ trọng hàng tồn kho lớn thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh do doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro vì doanh nghiệp có thể đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu giá tăng cao trong khi doanh nghiệp không còn hàng để bán. Hàng tồn kho bao gồm những tài sản có hình thái tồn tại như sau: + Tài sản ngắn hạn trong quá trình lưu trữ, chuẩn bị sản xuất như hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu tồn kho, các công cụ, dụng cụ trong kho; + Tài sản ngắn hạn đang trong quá trình trực tiếp sản xuất: Là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (hay bán sản phẩm). Loại tài sản này không chỉ bao gồm giá trị nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm các chi phí khác như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung (chi phí nhân viên phân xưởng, khấu hao tài sản cố định của phân xưởng, ...); + Tài sản ngắn hạn trong quá trình dự trữ, tiêu thụ: Bao gồm thành phẩm được doanh nghiệp chế tạo còn chưa tiêu thụ với giá trị được tạo thành bởi chi phí sản xuất kinh doanh dở dang; hàng tồn kho trong các kho hàng, quầy bán hàng với giá trị thực tế; hàng gửi đi bán chưa được chấp nhận 4 Thang Long University Library thanh toán nên chưa được tính vào doanh thu hay các khoản phải thu của doanh nghiệp. + Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Khoản giảm giá nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hóa tồn kho dự kiến trong kỳ kinh doanh sau. - Tài sản ngắn hạn khác + Tạm ứng cho người lao động. + Chi phí trả trước (đợi phân bổ): Là số tiền đã thanh toán cho một số khoản chi phí (chi phí mua các loại bảo hiểm, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định...) nhưng đến cuối kỳ hạch toán chưa được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ báo cáo. Giá trị của các khoản này có thể nhỏ nhưng giúp cho doanh nghiệp nhận được các lợi ích kinh tế trong tương lai mà không phải chi trả chúng. + Các khoản cầm cố, đặt cọc, ký quỹ ngắn hạn: Là các khoản vẫn thuộc tài sản của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không có quyền nắm giữ cũng như sử dụng chúng. + Tài sản đầu tư tài chính: Với các hình thức hoạt động đầu tư tài chính như đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh hoặc góp vốn hợp danh nhằm mục đích làm tạo lợi nhuận từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, phân tán rủi ro, tận dụng các lợi thế của doanh nghiệp, các cơ hội kinh doanh và tạo nguồn dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn hay còn gọi là tài sản cố định là loại tài sản tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, có thời gian chuyển đổi thành tiền trên một năm (hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh). Do đó, giá trị của chúng được luân chuyển dần vào giá trị sản phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất và được trích khấu hao từ doanh thu sản phẩm thu về để bù đắp. Các tài sản dài hạn được quay vòng sử dụng qua nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu mặc dù chúng có bị hao mòn. Chúng chỉ bị thay thế khi đã bị hư hỏng hoàn toàn, không thể sửa chữa hay không còn lợi ích kinh tế. Các tài sản dài hạn phải thỏa mãn đủ hai điều kiện là có tuổi thọ sử dụng nhiều hơn một năm và giá trị tối thiểu được quy định phải từ 30 triệu Việt Nam đồng (VND). Dựa vào hình thái biểu hiện và tính chất sở hữu, tài sản dài hạn được chia thành các loại tài sản chính dưới đây. - Tài sản cố định vô hình 5 Tài sản cố định vô hình là loại tài sản dài hạn không có hình thái vật chất cụ thể nhưng giá trị được xác định, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư chi trả, do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng lâu dài trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá trị của loại tài sản này mang lại lợi ích kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm trong dài hạn cho doanh nghiệp từ các đặc quyền và quyền của doanh nghiệp và có liên quan mật thiết đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định vô hình được chia thành nhiều loại. + Quyền sử dụng đất (chỉ tại Việt Nam) . + Chi phí thành lập, chuẩn bị sản xuất kinh doanh: chi phí để thăm dò thị trường, lập dự án, quảng cáo, lệ phí đăng kí... + Bằng phát minh sáng chế: Giá trị được xác định bằng giá trị doanh nghiệp mua lại bản quyền phát minh hay chi phí cho các công trình nghiên cứu được nhà nước cấp bằng sáng chế mà doanh nghiệp phải trả. + Chi phí nghiên cứu, phát triển: Để tăng sức cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải chi trả khoản chi phí khi chế tạo những sản phẩm mới, cải tiến công nghệ ... + Chi phí lợi thế kinh doanh: Số tiền doanh nghiệp phải trả thêm cho sự thuận lợi và phần lợi nhận được khi doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác. + Tài sản cố định vô hình khác: Quyền đặc nhượng; độc quyền nhãn hiệu và tên hiệu; bản quyền tác giả. - Tài sản cố định hữu hình Tài sản cố định hữu hình là loại tài sản dài hạn có hình thái vật chất cụ thể, có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Bao gồm: + Đất: Giá trị của đất được hình thành từ các chi phí liên quan để có mặt bằng; + Máy móc, thiết bị; + Phương tiện vận tải, truyền dẫn thông tin, điện, nước, băng truyền tải vật tư, hàng hóa; + Thiết bị, dụng cụ quản lý; + Cây lâu năm, súc vật làm việc cho sản phẩm; + Tài sản cố định hữu hình khác. - Các tài sản dài hạn khác: 6 Thang Long University Library + Các khoản trả trước dài hạn; + Các khoản đầu tư tài chính dài hạn; + Bất động sản đầu tư; + Tài sản dài hạn khác. c. Căn cứ vào khả năng di dời - Bất động sản Bất động sản là các tài sản không di dời được, bao gồm: + Đất đai: là tài sản quốc gia, loại hình tư liệu sản xuất đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai; + Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; + Các tài sản khác gắn liền với đất đai; + Các tài sản khác do pháp luật quy định. Chúng có đặc điểm là bền vững, cố định với một không gian, vị trí nhất định, không di dời được, khả năng sinh lời của bất động sản chịu tác động của yếu tố môi trường: điều kiện kinh tế, tính chất xã hội và điều kiện môi trường. Bất động sản có tính khác biệt do các bất động sản luôn khác nhau về vị trí, diện tích, kết cấu, ... Giá trị của bất động sản bao gồm cả chi phí xây dựng trên nó là rất lớn. - Động sản Động sản là những tài sản không phải là bất động sản và có đặc điểm là không gắn cố định với một không gian, vị trí nhất định và có thể di, dời được (máy, thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyền công nghệ…). Ngoài ra, tuổi thọ của chúng có phần ngắn hơn so với bất động sản và có thể chuyển nhượng thay đổi chủ sở hữu dễ dàng. 1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Hiệu quả là một thuật ngữ phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu trong mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và những chi phí, đầu tư bỏ ra để có được kết quả đó trong điều kiện nhất định. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà trong đó hiệu quả sử dụng tài sản gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp. Để các doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu nâng cao lợi ích kinh doanh, tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp phải xây dựng một kế hoạch đầu tư sử 7 dụng tài sản có hiệu quả phù hợp với tình hình của thị trường lẫn tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. 1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Mục đích của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay đều hướng tới mục tiêu đạt được lợi nhuận cao nhất và giảm thiểu chi phí. Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh là chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh và chi phí của hoạt động kinh doanh. Như vậy, lợi nhuận vừa là chỉ tiêu phản ánh kết quả đồng thời vừa là chỉ tiêu phản ánh tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, nó còn là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp. Đảm bảo mục tiêu lợi nhuận hay đảm bảo tình hình tài chính của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Để đạt được mục tiêu các doanh nghiệp cần nâng cao công tác quản lý các nguồn lực, nỗ lực khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là cần thiết, tạo ra điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và từ đó đóng góp quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản còn mang lại những lợi ích khác cho doanh nghiệp như: - Tăng lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được tạo ra nhờ doanh nghiệp khai thác và sử dụng tốt tài sản sẽ giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như tiết kiệm được các loại chi phí, lãi vay; - Đầu tư, nâng cấp các thiết bị, máy móc và được sử dụng hợp lý sẽ làm tăng năng suất lao động, đồng thời thể hiện trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất cũng như gián tiếp nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn cho người lao động, đặc biệt là những người trực tiếp điều hành và thi công máy móc. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị trường hiện nay. 1.2.3. Cơ cấu tài sản trong doanh nghiệp - Tỷ trọng tài sản ngắn hạn Tỷ trọng tài sản ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạn Tổng tài sản 8 Thang Long University Library Tỷ trọng tài sản ngắn hạn cho biết trong 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. - Tỷ trọng tài sản dài hạn Tỷ trọng tài sản dài hạn = Tổng tài sản dài hạn Tổng tài sản Tỷ trọng tài sản dài hạn cho biết trong 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng tài sản dài hạn. 1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp a. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản trong doanh nghiệp - Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, hay doanh nghiệp đã sử dụng tổng tài sản hiệu quả như thế nào trong việc tạo ra doanh thu. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng cao được phản ánh khi chỉ tiêu này càng lớn. - Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (Return on sales - ROS) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu = Lợi nhuận ròng Doanh thu thuần Chỉ tiêu ROS cho biết một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế để từ đó đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ suất này tăng cho biết doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và ngược lại, khi tỷ suất này giảm, cho biết doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. - Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on assets - ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản = Lợi nhuận ròng Tổng tài sản Chỉ tiêu ROA cho biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra trên một đồng tài sản của doanh nghiệp khi đưa vào hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả khả năng tổ chức, quản trị hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tỷ suất cao, chứng tỏ hiệu quả hoạt động quản trị của doanh nghiệp tốt và ngược lại. - Tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (Return on equity - ROE) 9 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận ròng Vốn ủ ở ữ Chỉ tiêu ROE cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn của cổ đông trong doanh nghiệp càng cao thì tỷ suất này càng lớn. b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp - Khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi một đồng nợ ngắn hạn sẽ có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn đảm bảo, hay số đồng vốn lưu động tương ứng để trả nợ đến khi hết hạn. Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt nếu tài sản ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc cả hai đều chuyển dịch theo xu hướng cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc cả hai đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, khi tỷ lệ này quá cao thì có khả năng doanh nghiệp đầu tư vào tài sản ngắn hạn còn thiếu hiệu quả. Ngược lại, khi tỷ lệ này thấp thì tình trạng tài chính của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, tùy theo điều kiện và ngành nghề kinh doanh sẽ có một tỷ lệ hợp lý phù hợp với khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp. - Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh = Tổng tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh đo lường khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản ngắn hạn (có tính thanh khoản thấp, không kể hàng tồn kho) có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ngay khi đến hạn và quá hạn. Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao hay thấp, tình hình tài chính được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào lượng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn lớn hay bé, nợ ngắn hạn nhỏ hay lớn. Giống với khả năng thanh toán ngắn hạn, độ lớn của tỷ lệ này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ. Thông thường, khi chỉ tiêu này lớn hơn 1 sẽ đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 sẽ phản ánh tình hình tài 10 Thang Long University Library chính của doanh nghiệp đang trong tình trạng suy yếu, không đủ sức thanh toán ngay cả các khoản nợ ngắn hạn. - Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ mỗi một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tiền mặt và các khoản tương đương tiền, thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền đang có của doanh nghiệp. - Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần Tổng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, từ đó cho biết doanh nghiệp đã sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả như thế nào. Hiệu suất này càng cao thì tính hiệu quả càng lớn. - Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn = Lợi nhuận ròng Tổng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra trên một đồng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt. - Hệ số thu nợ Hệ số thu nợ = Doanh thu thuần Phải thu khách hàng Hệ số thu nợ cho biết bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra từ một đồng khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao thì các chính sách cấp tín dụng thương mại của doanh nghiệp được mở rộng hoặc các chính sách phải thu kém hiệu quả. Ngược lại, khi chỉ tiêu này thấp, khi đó doanh nghiệp thiên về chính sách bán hàng thanh toán ngay hoặc chính sách các khoản phải thu hiệu quả. - Thời gian thu nợ trung bình Thời gian thu nợ trung bình = 365 Hệ số thu nợ 11 Thời gian thu nợ chính là khoảng thời gian doanh nghiệp cho khách hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp (khách hàng mua chịu). Thời gian thu nợ trung bình cho biết trung bình số ngày trong năm từ khi xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu được tiền về vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng. Nếu doanh nghiệp thắt chặt chính sách tín dụng thương mại, chỉ tiêu này càng thấp càng có lợi cho doanh nghiệp và ngược lại. - Hệ số lưu kho Hệ số lưu kho = Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho Chỉ tiêu này cho biết trong một năm hàng tồn kho được luân chuyển bao nhiêu lần. Nếu doanh nghiệp vẫn cung ứng hàng hóa đầy đủ cho hoạt động bán hàng thì chỉ tiêu này càng cao doanh nghiệp quản lý hàng tồn kho càng hiệu quả, rút ngắn được thời gian chuyển đổi hàng tồn kho thành tiền mặt và giảm chi phí. Ngược lại, nếu hệ số càng thấp, hàng hóa bị tồn kho quá nhiều, khó có khả năng luân chuyển và làm tăng thêm các chi phí không hợp lý. - Thời gian luân chuyển kho Thời gian luân chuyển kho = 365 Hệ số lưu kho Chỉ tiêu này cho biết thời gian trung bình hàng tồn kho được luân chuyển, tính từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua nguyên vật liệu đến khi hàng được đem bán. Tỷ lệ nghịch với hệ số lưu kho, khi chỉ tiêu này càng cao thì số ngày tồn kho trung bình cao, tức là hàng tồn kho luân chuyển chậm, gây ứ đọng vốn của doanh nghiệp và ngược lại. - Hệ số trả nợ Hệ số trả nợ = Giá vốn hàng bán - Chi phí quản lý chung, bán hàng, quản lý Phải trả người bán, lương, thưởng, thuế phải trả Hệ số trả nợ cho biết trung bình cứ bao nhiêu đồng chi phí thì có 1 đồng là doanh nghiệp đi chiếm dụng. Ý nghĩa của chỉ tiêu này là trung bình một năm các khoản phải trả quay vòng được bao nhiêu lần. Chỉ tiêu này càng thấp càng có lợi cho doanh nghiệp. - Thời gian trả nợ trung bình Thời gian trả nợ trung bình = 365 Hệ số trả nợ 12 Thang Long University Library Thời gian trả nợ trung bình cho biết thời gian doanh nghiệp chiếm dụng vốn trung bình là bao nhiêu ngày. Đối với doanh nghiệp thì chỉ tiêu này có thời gian càng dài sẽ càng tốt vì nó là khoảng thời gian mà doanh nghiệp chiếm dụng được vốn của người bán. - Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình + Thời gian luân = Thời gian thu nợ trung bình - chuyển kho trung bình Thời gian trả nợ trung bình Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình (hay thời gian quay vòng tiền) phản ánh khả năng quản lý tiền của doanh nghiệp, cho biết thời gian ròng kể từ khi doanh nghiệp chi tiền ra đến khi doanh nghiệp thu tiền về. Nếu thời gian quay vòng tiền bằng 0 sẽ không làm tăng chi phí tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời sẽ cao hơn. Nếu thời gian quay vòng tiền lớn hơn 0, sẽ làm tăng chi phí tài chính của doanh nghiệp, khi đó lợi nhuận và khả năng sinh lời sẽ giảm đi. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 0, doanh nghiệp sẽ có khoản tiền dư thừa tạm thời, khoản tiền này có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp đầu tư chứng khoán hay trả tiền sớm cho nhà cung cấp để hưởng chiết khấu thanh toán. Vì vậy, chỉ tiêu này càng nhỏ, thời gian quay vòng tiền càng ngắn thì càng có lợi cho doanh nghiệp. c. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn trong doanh nghiệp - Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Doanh thu thuần Tổng tài sản à ạ Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản dài hạn của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, từ đó cho biết doanh nghiệp đã sử dụng tài sản dài hạn hiệu quả như thế nào. Hiệu suất này càng cao thì tính hiệu quả càng lớn. - Tỷ suất sinh lời trên tài sản dài hạn Tỷ suất sinh lời trên tài sản dài hạn = Lợi nhuận ròng Tổng tài sản à ạ Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra trên một đồng tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp càng tốt. 13 1.3. Một số nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp không chỉ cần các số liệu chính xác và tính toán, phân tích các chỉ tiêu đánh giá một cách khách quan và cẩn trọng, các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cũng cần được quan tâm. Dựa vào đó mà doanh nghiệp mới có thể lên kế hoạch và đưa ra các chiến lược, giải pháp phù hợp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy những tác động tích cực trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế nói chung và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp nói riêng. Như vậy, hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp mới được nâng cao hoặc cải thiện nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp. 1.3.1. Các nhân tố chủ quan - Yếu tố con người. + Trình độ cán bộ quản lý: Thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, kỹ thuật tốt, có khả năng quản lý, tổ chức hoạt động của doanh nghiệp tốt đồng thời có thể đưa ra các quyết định đúng đắn trong từng giai đoạn để phù hợp với tình hình của doanh nghiệp. Các cán bộ quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hiện tại của doanh nghiệp trong mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh để đúc kết lại những thiếu sót, hạn chế hay những mặt tích cực đạt được về hiệu quả sử dụng tài sản để đưa ra các quyết định chính xác trong chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Nếu khả năng quản lý, tổ chức kém, các quyết định của nhà quản lý đưa ra không chính xác, kịp thời thì tài sản của doanh nghiệp sẽ không được sử dụng hiệu quả, không những không đem lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn khiến cho doanh nghiệp bị thua lỗ, thậm chí là phá sản. Ngày nay, khi công nghệ và máy móc ngày càng hiện đại hơn, đòi hỏi các nhà quản lý phải biết bắt kịp những xu hướng, cập nhật công nghệ mới cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào đó, khả năng truyền đạt, hướng dẫn, đào tạo của nhà quản lý với cấp dưới cũng rất quan trọng, như vậy mới có thể dẫn dắt các nhân viên của mình làm việc và cống hiến hết khả năng vì doanh nghiệp. Như vậy, yêu cầu đối với bộ phận này là rất cao, không chỉ cần chuyên môn vững vàng mà họ cần phải năng động, linh hoạt, sáng tạo trong công việc. Do đó, trình độ các cán bộ quản lý có vai trò rất quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. + Trình độ tay nghề của công nhân: Không chỉ yêu cầu bộ phận các cán bộ quản lý phải có trình độ chuyên môn và tinh thần làm việc cao, mà bộ phận công nhân cũng vậy. Họ là những người trực tiếp làm ra sản phẩm trong 14 Thang Long University Library quá trình sản xuất hay trực tiếp tiếp xúc, làm việc với khách hàng trong quá trình kinh doanh, trực tiếp sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp có được nâng cao hay không, đòi hỏi bộ phận công nhân cũng phải có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, chịu khó tiếp thu, học hỏi, tự chủ và sáng tạo trong công việc, có ý thức trách nhiệm với tài sản của doanh nghiệp, với công việc. Nếu bộ phận công nhân làm việc không tốt, hay bộ phận quản lý và bộ phận công nhân không phối hợp làm việc nhịp nhàng hiệu quả thì doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản giảm. - Yếu tố cơ sở vật chất: Là nhân tố quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp trang bị máy móc, thiết bị tốt, công nghệ cao và hiện đại, đầu tư nguyên vật liệu tốt, phù hợp với dây chuyền sản xuất thì các khâu sản xuất sẽ trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn, các sản phẩm được tạo ra có chất lượng hơn, sẽ được khách hàng tin dùng và lựa chọn sử dụng nhiều hơn. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không đầu tư vào cơ sở vật chất sao cho phù hợp và hiệu quả thì doanh nghiệp không chỉ không thu về được lợi nhuận mà còn mất thêm các chi phí phát sinh khác không đáng có trong khoảng thời gian dài. Như vậy, doanh nghiệp có đầu tư vào cơ sở vật chất thì mới có thể tận dụng tối đa các giá trị của máy móc, thiết bị lẫn nguyên vật liệu, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp mới được nâng cao. - Bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Mục đích sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp có mục đích sản xuất kinh doanh khác nhau sẽ có các quyết định phân phân phối tài sản, chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau. Chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn thì vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn, việc tiêu thụ hàng hóa cũng sẽ tốt hơn, thời gian thu hồi vốn nhanh hơn làm doanh thu của doanh nghiệp tăng lên, như vậy lợi nhuận doanh nghiệp nhận được cũng nhiều hơn và ngược lại. Từ đó cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp tăng lên. + Đặc điểm sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp sẽ có các quyết định đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau nếu đặc điểm ngành nghề kinh doanh khác nhau. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tác động quan trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản do ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, tỷ trọng các loại tài sản khác nhau dẫn đến hệ số sinh lời và vòng quay của tài sản cũng khác nhau. + Năng lực, trình độ quản lý và sử dụng tài sản: Do tài sản trong doanh nghiệp có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, doanh nghiệp cần phải có 15 các cách quản lý, khai thác và sử dụng tài sản sao cho phù hợp, khoa học với từng loại tài sản đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, tổng tài sản của doanh nghiệp. Điều đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. + Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp: Do vốn là nguồn hình thành nên tài sản nên khả năng huy động vốn cũng như cơ cấu vốn cũng tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Khả năng huy động vốn lớn thì quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng sẽ làm tăng doanh thu và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Ngoài ra, khi doanh nghiệp hạn chế được chi phí vốn, sẽ giúp làm giảm chi phí kinh doanh và tăng lợi nhuận, từ đó hệ số sinh lời tổng tài sản sẽ tăng, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp được nâng cao. 1.3.2. Các nhân tố khách quan - Môi trường chính trị, luật pháp Môi trường chính trị ổn định luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp. Các hoạt động đầu tư tác động trở lại rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó phản ánh lên hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật trong mọi hoạt động, đặc biệt trong hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh. Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tạo ra nền kinh tế ổn định, kích thích phát triển. Luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Môi trường tự nhiên - văn hóa - xã hội Các điều kiện tự nhiên (các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thời tiết khí hậu ...) ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ… do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng. Tình trạng của các điều kiện tự nhiên có thể tác động đến tài sản của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sử dụng tài sản, làm tăng giảm chi phí liên quan và hiệu quả kinh tế mà tài sản của doanh nghiệp mang lại. Trình độ văn hoá, giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội... ảnh hưởng tới khả năng đào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức cần thiết của đội ngũ lao động, có thể ảnh hưởng tới cầu về sản 16 Thang Long University Library phẩm của các doanh nghiệp. Điều đó gây tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Môi trường kinh tế Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người… là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp. Nếu có thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng… sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại. - Môi trường khoa học - công nghệ Tình hình phát triển, tính ứng dụng của khoa học - công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp. Sự tiến bộ của khoa học - công nghệ sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, do đó tác động tới năng suất chất lượng sản phẩm làm cho nó tốt hơn, cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên, khoa học – công nghệ ngày càng phát triển nhanh một cách chóng mặt, có thể khiến doanh nghiệp không thể bắt kịp, chi phí đắt đỏ, nhanh chóng lỗi thời, tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn, gây ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. - Môi trường kinh doanh + Đối thủ cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành với nhau ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, còn gây ảnh hưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm.... Các nhân tố cạnh tranh không chỉ trong sản xuất, sản phẩm mà còn cạnh tranh về khách hàng, nhà cung cấp, các sản phẩm thay thế... do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp thường theo xu hướng sản xuất kinh doanh theo nhu cầu của khách hàng là chính. + Nhu cầu khách hàng: Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng và được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý, ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất. Nếu như sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra mà không được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi thì doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất được. Mật độ dân cư, mức độ thu nhập, tâm lý và sở thích tiêu dùng... của khách hàng ảnh hưởng lớn tới 17 sản lượng và giá cả sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, sự cạnh tranh của doanh nghiệp vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp. + Thị trường: Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi có sự biến động của thị trường đầu vào, nếu giá cả nguyên vật liệu tăng kéo theo tăng chi phí đầu vào khiến giá bán tăng cao, sẽ làm giảm số lượng sản phẩm tiêu thụ và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và ngược lại. Thị trường đầu ra giúp doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Nếu cả thị trường đầu ra và sản phẩm của doanh nghiệp bán ra có tiêu chuẩn hợp lý, thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và lợi nhuận. Thị trường tài chính là quan trọng nhất, chi phối toàn bộ hoạt động nền kinh tế hàng hóa. Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều giao dịch trên thị trường tài chính. Nếu thị trường tài chính thuận lợi thì sẽ là kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp, mở rộng sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp có thể tối ưu hiệu quả sử dụng tài sản. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Tài sản là một trong những yếu tố quan trọng đóng vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là vấn đề thiết yếu và cần được chú trọng. Để hiểu được tầm quan trọng của vấn đề đó thì nội dung của chương 1 đã đưa ra những cơ sở lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Phần cơ sở lý luận trên đã trình bày khái quát nội dung lý thuyết về tài sản, hiệu quả sử dụng tài sản, các chỉ tiêu tài chính để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Từ đó là tiền đề tiến hành nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương ở chương 2 dưới đây. 18 Thang Long University Library CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƢƠNG MẠI MÁY VÀ THIẾT BỊ NAM DƢƠNG 2.1. Giới thiệu chung về công ty Công ty cổ phần thƣơng mại máy và thiết bị Nam Dƣơng 2.1.1. Sơ lược về Công ty cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương - Tên công ty: Công ty cổ phần thƣơng mại máy và thiết bị Nam Dƣơng. - Tên viết tắt: NAM DUONG .,JSC. - Địa chỉ: 34/2 Phố Giảng Võ, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội. - Số đăng ký: 0103001890. - Ngày thành lập: 28/07/2010. - Mã số thuế: 0101341630. - Hình thức sở hữu vốn: Cổ phần. - Lĩnh vực kinh doanh: Cung cấp máy móc thiết bị, dịch vụ bảo hành, bảo trì, lắp đặt thiết bị điện, thiết bị xây dựng…. 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương Công ty cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương được cấp giấy phép hoạt động vào ngày 19/03/2003 với tiền thân là Công ty trách nhiệm hữu hạn máy và thiết bị Nam Dương. Sau 7 năm hoạt động, công ty đã chuyển đổi hình thức sở hữu vốn của công ty sang cổ phần. Ngày 28/07/2010, Công ty cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương chính thức thành lập. Từ khi thành lập đến nay, công ty đã gặp không ít khó khăn. Mỗi thời điểm là một dấu mốc quan trọng ghi lại sự phát triển từng ngày của công ty, thể hiện qua sự thay đổi của tổ chức bộ máy, phương thức quản lý, lực lượng lao động, chất lượng sản phẩm ngày một được nâng cao. Sau hơn 10 năm trải qua quá trình hoạt động với nỗ lực và quyết tâm của toàn thể nhân viên, công ty đã khắc phục mọi khó khăn và tạo được vị trí nhất định trong lòng khách hàng bằng chữ tín và sự nhanh nhạy trong việc đáp ứng các nhu cầu của khách hàng về cung cấp máy móc, thiết bị xây dựng cũng như các dịch vụ mà công ty cung cấp cho khách hàng. 19 2.1.3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần thương mại máy và thiết bị Nam Dương Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần thƣơng mại máy và thiết bị Nam Dƣơng Giám đốc Phó giám đốc Bộ phận kế toán Bộ phận kinh doanh Bộ phận hành chính (Nguồn: Bộ phận hành chính) - Giám đốc Giám đốc là người có thẩm quyền cao nhất quyết định mọi vấn đề quan trọng của công ty theo luật doanh nghiệp và điều lệ công ty. Giám đốc có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của công ty. Trực tiếp điều hành hoạt đồng kinh doanh, tổ chức kế hoạch, chiến lược kinh doanh và đầu tư của công ty. Người giữ chức vụ quan trọng nhất, cao nhất trong công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật và toàn thể nhân viên về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty; kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty; quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong công ty, kể cả cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc. - Phó giám đốc Quản lý điều hành các hoạt động của công ty theo sự phân công của Giám đốc. Chủ động và tích cực triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về hiệu quả các hoạt động. Khi Giám đốc vắng mặt, Phó giám đốc có toàn quyền và nghĩa vụ như Giám đốc. - Bộ phận kế toán Theo dõi, ghi chép mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Soạn thảo, xây dựng các văn bản liên quan đến hoạt động thu mua hàng hóa, công tác tài chính, kế toán, 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -