Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH xuất nhập khẩu Bình Minh

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27462 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về Tài sản ngắn hạn 1.1.1. Khái niệm tài sản trong doanh nghiệp Theo Bộ luật Dân sự năm 2005: Theo quy định tại Điều 163, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá (như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu...) và các quyền tài sản (như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng...). Theo quy định tại Điều 164: thì quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó). Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý [1,Tr10]. Ngoài những định nghĩa mang tính học thuật và nghiên cứu trên, ta có thể hiểu đơn giản Tài sản của doanh nghiệp là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài sản của doanh nghiệp thường được phân loại thành tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn. 1.1.2. Tài sản ngắn hạn 1.1.2.1. Khái niệm Tài sản ngắn hạn là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng ngắn, trong vòng 12 tháng hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, và thường xuyên thay đổi hình thái giá trị trong quá trình sử dụng. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: TSNH sản xuất và TSNH lưu thông. 1 Tài sản ngắn hạn trong sản xuất bao gồm các nguyên liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. Tài sản ngắn hạn lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại tiền mặt, các khoản chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí trả trước,… Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSNH sản xuất và TSNH lưu thông luôn luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra một cách liên tục. 1.1.2.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh dược diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Do đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có những đặc điểm như sau:  Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên luôn đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Trong tất cả các dạng tài sản của doanh nghiệp thì tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh toán, lưu thông, tích trữ.  Tài sản ngắn hạn là một bộ phận trong khâu sản xuất – kinh doanh: dự trữ sản xuất – lưu thông.  Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ. Không như đầu tư vào tài sản cố định, các khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn thường có thể hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần tốn quá nhiều chi phí. Điều này là do sự đáp ứng nhanh chóng của tài sản ngắn hạn đối với sự biến đổi của doanh số và sản xuất giúp doanh nghiệp dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ. Tuy nhiên, tài sản ngắn hạn cũng bị lệ thuộc vào những dao động mang tính mùa vụ và chu kỳ trong quá trình kinh doanh.  Tài sản ngắn hạn được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau như: tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khoản phải thu khách hàng và các tài sản ngắn hạn khác. Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là luôn có mặt trong toàn bộ chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp nên tài sản ngắn hạn cần có các hình thái khác nhau nhằm phù hợp với từng giai đoạn của chu kỳ cũng như mục đích sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 1.1.2.3. Phân loại Để sử dụng TSNH một cách hiệu quả, hợp lý, cần phải phân loại theo những cách thức, tiêu thức khác nhau. 2 Thang Long University Library Căn cứ vào phạm vi sử dụng  Tài sản ngắn hạn sử dụng trực tiếp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với doanh nghiệp sản xuất, TSNH sử dụng trực tiếp trong HĐSXKD chủ yếu là nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang, vật liệu bao bì,…  Nguyên vật liệu chính: Là bộ phận cơ bản cấu thành nên thành phẩm cuối cùng, gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất.  Nguyên vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, nó chỉ có tác dụng phụ trong khâu sản xuất, chế tạo, có thể kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi đặc điểm bên ngoài của sản phẩm, hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được tiến hành bình thường, hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghiệp, kỹ thuật, phục vụ cho quá trình lao động.  Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư sản phẩm sử dụng để thay thế, sửa chữa, bảo trì máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư, công cụ, dụng cụ phục vụ mục đích sản xuất.  Công cụ, dụng cụ: Là những tư liệu lao động mà theo đó, doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, chúng không được xem như là TSCĐ vì có giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn.  Vật liệu, bao bì đóng gói: Là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, luôn luôn đi cùng sản phẩm của doanh nghiệp trong khâu sản xuất và tiêu thụ.  Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc đang trong khu vực làm việc đợi tiếp tục chế biến, ví dụ như chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ đang được nuôi béo,…  Tài sản ngắn hạn sử dụng gián tiếp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Để linh hoạt trong sử dụng tài sản, trên thực tế, người ta dùng TSNH để chi trả cho công tác sửa chữa, bảo trì, hoặc được sử dụng trong hoạt động cung cấp dịch vụ,…  Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm: quản lý kinh doanh và quản lý hành chính. TSNH được sử dụng trong mục đích này gồm: + Vật liệu cho văn phòng, phương tiện vận tải.  Công cụ, dụng cụ cho văn phòng phẩm: Giấy, mực, bút, bàn, ghế,…  Các khoản tạm ứng: Chi tiếp khách, chi đào tạo cán bộ nhân viên, chi hội nghị,… 3  Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác phúc lợi TSNH cho mục đích phục vụ công tác phúc lợi chủ yếu là đầu tư cho câu lạc bộ, cho công trình phúc lợi công cộng của doanh nghiệp, cho sinh hoạt tập thể của công nhân viên, như: Hoạt động văn hoá, thể thao, văn nghệ, tham quan, nghỉ mát,… Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển tài sản ngắn hạn  Tiền và những khoản tương đương tiền: là chỉ tiêu tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nhất trong toàn bộ phần tài sản. Tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền  Tiền mặt: Là số tiền mà doanh nghiệp đang giữ tại các quỹ của mình, bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, ngân phiếu,…  Tiền gửi ngân hàng: Là số tiền doanh nghiệp hiện có trên tài khoản tiền gửi trong ngân hàng, kho bạc Nhà nước, các công ty tài chính,…  Tiền đang chuyển: Là số tiền doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, hay đã được gửi qua đường bưu điện, hiện đang làm thủ tục trích, chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp sang tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp khác, mà chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng.  Các khoản tương đương tiền: Là các loại chứng từ, tín phiếu có giá trị như tiền, như vàng bạc, đá quý, kim khí,… đang được lưu giữ tại quỹ của doanh nghiệp  Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là những khoản đầu tư ra bên ngoài với mục đích kiếm lời, dưới hình thức cho vay, cho thuê ngắn hạn, góp vốn liên doanh ngắn hạn, mua bán chứng khoán ngắn hạn (cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,…), có thời gian thu hồi trong vòng 1 năm.  Các khoản phải thu ngắn hạn: Là bộ phận tài sản của doanh nghiệp nhưng đang bị các cá nhân, đơn vị khác chiếm dụng một cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp, và doanh nghiệp phải có trách nhiệm thu hồi về trong vòng 12 tháng, bao gồm: các khoản phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, trả trước cho người bán, phải thu về thuế GTGT đầu vào được khấu trừ,…  Hàng tồn kho: Là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoặc đang chờ để bán. Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá và hàng gửi bán. - Tài sản ngắn hạn khác: Là toàn bộ những tài sản còn lại ngoài những tài sản kể trên, bao gồm: các khoản ký quỹ, ký cược ngắn hạn, các khoản ứng trước, các khoản chi phí trả trước ngắn hạn,… 4 Thang Long University Library Qua các cách phân loại trên, ta sẽ thấy được tình hình TSNH hiện tại của doanh nghiệp thông qua hình thái vật chất, cũng như đặc điểm của từng loại TSNH, để có thể trực tiếp nhận xét, đánh giá xem việc doanh nghiệp sử dụng TSNH có hợp lý, hiệu quả hay không, và từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH, nhằm đạt được và vượt qua mong đợi ban đầu của doanh nghiệp. 1.1.2.4. Vai trò Trong nền kinh tế thị trường đầy khó khăn, cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì tài sản ngắn hạn được coi là nguồn lực quan trọng nhất trong doanh nghiệp, đó là điều kiện tiên quyết, quan trọng trong sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, TSNH có những vai trò chủ yếu sau: Tài sản ngắn hạn góp phần giúp cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục, không làm gián đoạn quy trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu TSNH bị thiếu hay luân chuyển chậm sẽ hạn chế việc thực hiện mua bán hàng hóa, làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc mở rộng thị trường hay có thể gián đoạn sản xuất kinh doanh dẫn đến giảm sút lợi nhuận gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. TSNH là thước đo hiệu quả và khả năng tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, điều này giúp doanh nghiệp đánh giá một cách chính xác khả năng tài chính, hiệu quả sử dụng TSNH để từ đó doanh nghiệp có những giải pháp điều chỉnh hợp lý. TSNH là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình hoạt động của hàng hóa, cũng như phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ bán hàng của doanh nghiệp. Mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh thời gian lưu thông có hợp lý hay không. Thông qua đó các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá kịp thời đối với măt hàng mua sắm, mặt hàng dự trữ và tiêu thụ của doanh nghiệp. Mặt khác, tài sản ngắn hạn còn được xem là tiền đề cho sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp. Bởi hầu hết trong các doanh nghiệp TSNH chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn, sự sống còn của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức, quản lý sử dụng tài sản ngắn hạn. Việc đảm bảo, tổ chức, sử dụng tài sản ngắn hạn một cách tiết kiệm hiệu quả được coi là điều kiện để tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tóm lại, tài sản ngắn hạn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó việc sử dụng tài sản ngắn hạn như thế nào cho hiệu quả sẽ ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. 5 1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu quả là những lợi ích về mặt kinh tế và xã hội do một hoạt động nào đó mang lại, bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội là những lợi ích đạt được về mặt xã hội, do một hoạt động nào đó đem lại. Ví dụ như hiệu quả xã hội của hoạt động thương mại tạo nên việc thoả mãn những nhu cầu vật chất, văn hoá, tinh thần cho xã hội, là sự góp phần cân đối cán cân cung – cầu, ổn định giá cả và thị trường, là việc mở rộng giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các vùng hoặc các nước, tạo thêm công ăn việc làm, làm tăng thu nhập cho người lao động. Hiệu quả kinh tế (hay còn gọi là hiệu quả kinh doanh) là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất, nói cách khác, đó là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào, hoặc giữa kết quả với chi phí gắn liền với hoạt động kinh doanh nào đó. Dựa trên khái niệm về hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội ta có thể rút ra được công thức hiệu quả: Hiệu quả = Kết quả đầu vào – Chi phí đầu ra = Kết quả đầu ra Chi phí đầu vào Vì thế, hiệu quả kinh doanh là một số tương đối phản ánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra. Đó là sự so sánh giữa kết quả đầu ra và các yếu tố đầu vào. Từ đó ta đưa ra được khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng TSNH của doanh nghiệp vào HĐSXKD, nhằm tối đa hoá lợi ích thu vào và tối thiểu hoá chi phí phải bỏ ra. 1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Do TSNH có tính thanh khoản cao, nên việc sử dụng hiệu quả TSNH chính là sự lựa chọn, đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản. Do vậy, những chỉ tiêu sau thường được sử dụng khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp: 1.2.2.1. Các chỉ tiêu tổng quát Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán Khả năng thanh toán ngắn hạn (current ratio) Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn 6 Thang Long University Library Khả năng thanh toán ngắn hạn là một trong những thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất. Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết một đồng nợ ngắn hạn sẽ huy động được bao nhiêu đồng TSNH. Chỉ tiêu này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nếu chỉ số tăng, cho thấy khả năng thanh toán tốt, giảm thiểu rủi ro trong quá trình thanh toán. Giá trị TSNH hoàn toàn có đủ khả năng trang trải cho số nợ ngắn hạn, tuy nhiên nếu quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp sẽ đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Ngược lại, nếu chỉ số giảm, sẽ cho biết khả năng thanh toán giảm, đó chính là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả khoản phải thu và hàng tốn kho là hai khoản mục có tính thanh khoản không cao lắm. Khả năng thanh toán nhanh (quick ratio) Khả năng thanh toán nhanh = Tổng tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh phản ánh một đồng nợ ngắn hạn huy động được sẽ đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, nhưng không bao gồm hàng tồn kho. Nếu khả năng thanh toán nhanh lớn hơn hoặc bằng 1 cho thấy doanh nghiệp có thể đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và ngược lại, nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và cần phải được xem xét cẩn thận. Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết với lượng tiền và các khoản tương đương tiền hiện có thì doanh nghiệp liệu có đủ khả năng trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn đến hạn hay không. Khi khả năng thanh toán tức thời lớn hơn hoặc bằng 1, doanh nghiệp có thể đảm bảo và đủ khả năng thanh toán ngay lập tức và ngược lại, nếu khả năng thanh toán tức thời nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán ngay lập tức của doanh nghiệp cần phải được xem xét do doanh nghiệp không thể huy động ngay được lượng tiền mặt đủ để trả nợ mà phải cần một khoảng thời gian để quy đổi tài sản hiện vật ra tiền mặt từ các khoản mục khác có tính thanh khoản thấp hơn tiền và các khoản tương đương tiền. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Khả năng sinh lời của doanh nghiệp phản ánh mức lợi thuận thu được trên một đơn vị tài sản, vốn chủ sở hữu hay doanh thu… Mức lợi nhuận thu được trên một đơn 7 vị của doanh nghiệp càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao. Ngược lại, mức lợi nhuận thu được trên một đơn vị của doanh nghiệp càng thấp thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng kém. Hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn Hệ số sinh lời của TSNH = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản ngắn hạn Hệ số này cho biết mỗi đơn vị TSNH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Hệ số sinh lợi của TSNH càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng tốt. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return On Assets) Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty. ROA = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết nếu bỏ ra một đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi của tổng tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh càng tốt. Ngược lại, chỉ tiêu này càng nhỏ, khả năng sinh lời của tổng tài sản càng thấp, hiệu quả kinh doanh càng kém. Tuy nhiên hệ số ROA thường có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây dựng, sản xuất kim loại…thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm… Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return On Equity) Các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu vì họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận từ đồng vốn mà họ bỏ ra để đầu tư, hơn nữa chỉ tiêu này cũng giúp các nhà quản trị tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn góp cho doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau: ROE = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này cho biết nếu bỏ ra một đơn vị vốn chủ sở hữu thì thu lại được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt vì sẽ giúp cho các nhà quản trị có thể huy động vốn trên thị trường tài 8 Thang Long University Library chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngược lại, chỉ tiêu này càng bé sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng thấp, doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc huy động vốn. Tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi do ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, khi đó mức độ mạo hiểm và rủi ro cao, vì vậy khi phân tích phải tùy thuộc vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS - Return On Sales) ROS = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết trong một đơn vị doanh thu thuần thì thu được bao nhiêu đơn vị nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ sức sinh lợi của doanh thu thuần càng cao, hiểu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. Ngược lại, chỉ tiêu này càng thấp sức sinh lợi của doanh thu thuần càng kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng thấp. 1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn chung Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (short-term assets turnover) Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần Tổng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, cho biết cứ một đồng tài sản ngắn hạn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng cao vì hàng hóa tiêu thụ nhanh, vật tư tồn đọng thấp, ít có các khoản phải thu. Ngược lại, nếu hệ số này thấp phản ánh lượng hàng tồn kho lớn, tiền tồn quỹ nhiều, doanh nghiệp không thu hồi được các khoản phải thu từ đó doanh nghiệp cần xem xét lại tình hình tài chính của mình để khắc phục. Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu thuần Suất hao phí của TSNH so với DTT = Tài sản ngắn hạn Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu trong kỳ thì cần đầu tư bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, đây cũng là căn cứ để doanh nghiêp đầu tư tài sản ngắn hạn sao cho phù hợp. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao. 9 Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế Suất hao phí của TSNH so với LNST = Tài sản ngắn hạn Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết số tài sản ngắn hạn cần có để đạt được một đồng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, hệ số này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để doanh nghiệp xây dựng dự toán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận như mong muốn. Thời gian quay vòng của tài sản ngắn hạn Thời gian quay vòng của TSNH = 360 Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển tài sản ngắn hạn hay số ngày bình quân cần thiết để tài sản ngắn hạn thực hiện một vòng quay trong kỳ. Trái ngược với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn, thời gian quay vòng của tài sản ngắn hạn càng ngắn chứng tỏ tài sản ngắn hạn được sử dụng có hiệu quả. Mức tiết kiệm vốn lưu động Trong mọi trường hợp khi có sự tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động so với kỳ trước thì doanh đều có sự tiết kiệm về vốn lưu động. Vì do tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức chu chuyển vốn lưu động mà không cần phải tăng thêm vốn lưu động hoặc có tăng thêm vốn lưu động thì tốc độ tăng vốn lưu động nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thuần. Trong cả hai trường hợp doanh nghiệp đều có sự tiết kiệm về vốn lưu động. Mức tiết kiệm tuyệt đối: là do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên có thể rút ra ngoài luân chuyển một số vốn lưu động nhất định để sử dụng vào việc khác. Nói một cách khác, với quy mô vốn không thay đổi song tốc độ luân chuyển nhanh nên doanh nghiệp cần một số ít hơn tiết kiệm được nguồn lưu động Mức tiết kiệm tuyệt đối = M1 360 * K1 – V0 Trong đó M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch. K1: Kỳ luân chuyển vốn năm kế hoạch. V0: Vốn lưu động bình quân năm báo cáo. Mức tiết kiệm tương đối: là do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên có thể đảm bảo mở rộng quy mô tái sản xuất nhưng không tăng hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ. 10 Thang Long University Library Mức tiết kiệm tương đối = M1 360 * (K1 – K0) Trong đó M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch. K1, K0: lần lượt là kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo, năm kế hoạch. Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động thường xuyên mà doanh nghiệp có thể rút ra ngoài chu chuyển hoặc không cần bổ sung thêm trong khi vẫn hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của kỳ so sánh ở quy mô bằng hoặc lớn hơn so với kỳ gốc. 1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành TSNH Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho - Số vòng quay hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn khi là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho. Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. - Thời gian quay vòng hàng tồn kho 360 Thời gian quay vòng hàng tồn kho = Số vòng quay hàng tồn kho 11 Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển tồn kho có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Vòng quay tăng thì ngày chu chuyển giảm và ngược lại. Các chỉ tiêu đánh giá về tình hình các khoản phải thu - Số vòng quay các khoản phải thu Số vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần Khoản phải thu khách hàng Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đã thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là bao nhiêu. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp. - Kỳ thu tiền bình quân Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn trong các doanh nghiệp, trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày. Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thập trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Mặt khác khi chỉ tiêu này được đánh giá là khả quan, thì doanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán che dấu đi các khuyết tật trong việc quản lý các khoản phải thu 360 Kỳ thu tiền bình quân = Số vòng quay các khoản phải thu Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho phép các nhà quản lý tài chính của doanh nghiệp đề ra các biện pháp, các chính sách quyết định đúng đắn, phù hợp để quản lý tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng ngày càng có hiệu quả trong tương lai, từ đó nâng cao lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Thời gian trả nợ trung bình Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có bình quân bao nhiêu nguồn để trả nợ. 360 Thời gian trả nợ trung bình = Hệ số trả nợ 12 Thang Long University Library Trong đó Hệ số trả nợ = Giá vồn hàng bán + Chi phí bán hàng, chi phí quản lý Phải trả người bán + Lương, thưởng, thuế phải trả Hệ số trả nợ (hay chính là vòng quay trả nợ) và thời gian trả nợ trung bình là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Đối lập với vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho có xu hướng ngày càng tăng càng tốt thì đối với doanh nghiệp càng chậm trả nợ thì càng tốt, vậy nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay phải trả thấp. Vòng quay phải trả thấp, số ngày trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công ty rất có uy tín và là khách hàng tốt nhất của nhà cung cấp nên được cho trả chậm, nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ đến hạn. - Thời gian quay vòng tiền trung bình Thời gian quay vòng tiền trung bình = Kỳ thu tiền bình quân + Thời gian quay vòng hàng tồn kho - Thời gian trả nợ trung bình Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả, chỉ số này cho biết sau bao nhiêu ngày thì số vốn của doanh nghiệp được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi kinh doanh bỏ vốn ra. Thời gian quay vòng tiền ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên, cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động, đơi với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì thời gian quay vòng tiền sẽ ngắn hơn nhiều sơ với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. 1.2.3. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả tài sản trong doanh nghiệp Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Sử dụng tài sản ngắn hạn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi nhuận nhưng không tăng vốn, hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng tài sản ngắn hạn. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý tài sản ngắn hạn và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, trên 13 cơ sở đó đề ra những biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Vì vậy, công tác phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa rất quan trọng. Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cần phải nghiên cứu một cách toàn diện cả về thời gian, không gian, môi trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động của các yếu tố sản xuất. Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trước hết phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tài sản ngắn hạn sử dụng trong doanh nghiệp, sau đó phải biết tận dụng phương pháp phân tích thích hợp. Việc phân tích phải được tiến hành trên từng chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, nhằm khai thác hết công suất của tài sản ngắn hạn đã đầu tư. 1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luôn vận động chuyển hoá không ngừng và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Trong quá trình vận động đó, tài sản ngắn hạn chịu tác động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 1.3.1. Nhân tố chủ quan Xuất phát từ bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng như toàn bộ quá trình HĐSXKD. Trong đó, phải kể đến một số nhân tố chủ yếu sau: 1.3.1.1. Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với từng mục đích sản xuất kinh doanh khác nhau, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phân phối tài sản khác nhau sao cho phù hợp với chu kỳ kinh doanh của mình. Điều đó cũng ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Để đi vào sản xuất kinh doanh thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu? Mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo là như thế nào? Lượng tiền mặt mà doanh nghiệp cần dự trữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn? Đều là các câu hỏi chỉ được trả lời khi doanh nghiệp có thể xác định được mục đích kinh doanh của mình. 1.3.1.2. Cơ sở vật chất Đây là nhân tố vô cùng quan trọng. Để có được những sản phẩm tốt, ngoài việc phải có nguyên vật liệu chất lượng tốt thì doanh nghiệp còn cần đến những thiết bị máy móc phù hợp. Một doanh nghiệp có những trang thiết bị tốt sẽ giúp cho khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn. Việc doanh nghiệp có thể đầu tư và áp dụng được công nghệ máy móc hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm 14 Thang Long University Library thiểu các chi phí hao hụt trong sản xuất, tiết kiệm chi phí đầu vào và tài sản ngắn hạn tham gia vào sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất hiện đại và đồng bộ sẽ nâng cao được hiệu quả công việc, nâng cao khả năng phân tích, xử lý thông tin dữ liệu cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể đưa ra được các quyết định mang tính chính xác và nhanh chóng hơn. 1.3.1.3. Lựa chọn dự án đầu tư Là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Nếu dự án lựa chọn khả thi, phù hợp với điều kiện của thị trường và khả năng doanh nghiệp thì sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ mạnh, từ đó làm tăng vòng quay tài sản ngắn hạn và ngược lại, nếu sự lựa chọn là không chính xác, tài sản ngắn hạn sẽ bị ứ đọng và không tạo ra hiệu quả. 1.3.1.4. Trình độ quản lý Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong cùng một thời điểm được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển, từ khi mua sắm vật tư dự trữ, đến giai đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nếu công tác quản lý không chặt chẽ sẽ làm thất thoát tài sản ngắn hạn và ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Chất lượng quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua một số nội dung như sau: Quản lý tiền mặt Một nguyên tắc tất yếu trong việc quản lý tiền mặt là “tăng thu – giảm chi”, tức là tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được, các khoản nợ từ khách hàng đồng thời kéo dài thời gian thanh toán các khoản tiền cần chi trả, các khoản chiếm doanh nghiệp đang chiếm dụng của nhà cung cấp. Nguyên tắc này cho phép doanh nghiệp duy trì mức chi tiều tiền mặt trong nhiều giao dịch kinh doanh ở mức thấp nhất có thể để có nhiều tiền cho việc đầu tư. Ta có thể đánh giá dựa trên công thức: ∆B = ∆t * TS * I * (1 – T) ∆C = (C2 – C1) * (1 – T) Trong đó: ∆B: Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất ∆C: Chi phí tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất ∆t: Số ngày thay đổi khi áp dụng phương thức đề xuất. Đối với phương thức thu tiền: là số ngày rút ngắn được. Đối với phương thức chi tiền: là số ngày kéo dài thêm. I: Lãi suất đầu tư 15 TS: Quy mô chuyển tiền trong một năm của doanh nghiệp T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp C1: Chi phí của phương thức đang sử dụng C2: Chi phí của phương thức đề xuất Theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định dựa trên sự chênh lệch giữa lợi ích nhận được và chi phí tăng thêm. Cụ thể: ∆B > ∆C: Doanh nghiệp nên chuyển sang phương thức được đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí phải bỏ thêm. ∆B < ∆C: Doanh nghiệp nên giữ nguyên phương thức cũ vì lợi nhuận tăng thêm không đủ bù đắp cho khoản chi phí phải bỏ thêm để thực hiện phương án đề xuất. ∆B = ∆C: Bàng quan với cả 2 phương thức do việc áp dụng hay không đều không mang lại lợi ích tăng thêm cho doanh nghiệp. Quản lý hàng dự trữ Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố không thể thiếu để doanh nghiệp nhìn nhận liệu việc sản xuất của mình có được ổn định hay không. Do vậy,việc quản lý hàng dự trữ hợp lý đặc biệt quan trong trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Sơ đồ 1.1. Mô hình hàng tồn kho EOQ Tổng chi phí Chi phí Chi phí dự trữ Chi phí đặt hàng Q* Số lượng đặt hàng/lần Mô hình EOQ (Economic Ordering Quantity): Là mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp đựa trên cơ sở giữa chi phí dự trữ hàng tồn kho và chi phí dặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch. Mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí dự trữ và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí là thấp nhất. 16 Thang Long University Library CP1 = S Q *O và CP2 = Q 2 *C Trong đó: CP1: Chi phí đặt hàng. O: Chi phí 1 lần đặt hàng. CP2: Chi phí dự trữ. C: Chi phí dự trữ kho S: Lượng hàng cần đặt. trong 1 đơn vị hàng lưu kho. Q: Lượng hàng đặt 1 lần. Q S Q : 2 Số lần đặt hàng. : Mức lưu kho trung bình. Từ đó, tổng chi phí: TC = CP1 + CP2 Mức lưu kho tối ưu là điểm tại đó tổng chi phí là nhỏ nhất hay TCmin Q* = √ 2*S*O C Khoảng thời gian dự trữ tối ưu (T*): Q* T* = S 360 Điểm đặt hàng tối ưu: Điểm đặt hàng = Thời gian chờ đặt hàng * Số lượng hàng sử dụng trong ngày = Sơ đồ 1.2. Mô hình điểm đặt hàng tối ưu 17 t* S 360 Quản lý khoản phải thu Khoản phải thu là những sản phẩm dịch vụ đã được doanh nghiệp bán và gửi hóa đơn cho khách hàng và đang chờ khách hàng thanh toán. Quản lý khoản phải thu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Nếu các khoản phải thu bị thu trậm trễ, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp không đủ để quay vòng đầu tư, sản xuất tiếp sẽ gây ra hiện tượng đình trệ, gia tăng các chi phí, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ đối mặt với nhiều rủi ro. Nhưng mặt khác, chính sách bán chịu giúp đẩy mạnh doanh thu và thu hút được khách hàng do vậy hầu hết các doanh nghiệp vẫn chấp nhận sự có mặt của các khoản phải thu. Do đó mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng những chính sách tín dụng dành cho những khách hàng riêng biệt nhằm tận dụng những ưu điểm của chính sách và hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra. Việc đánh giá các khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định có nên cấp hay không được dựa vào việc tính giá trị hiện tại ròng của dòng tiền NPV: CF0 = VC * S * ACP 360 CFt = [S * (1 - VC) - S * BD - CD] * (1 - T)  NPV = CFt k - CF0 Trong đó: CFt: Dòng tiền sau thuế mỗi kỳ. CF0: Giá trị mà doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng. k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu. VC: Dòng tiền ra biến đổi tính theo tỷ lệ % trên dòng tiền vào. S: Dòng tiền vào dự kiến hàng năm. ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày). BD: CD: T: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu (%). Dòng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng cho việc quản lý và thu các khoản phải thu khách hàng. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Từ kết quả thu được, quyết định đưa ra dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng NPV > 0: Cho thấy việc bán hàng trả chậm mang lại hiệu quả cao hơn việc thanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp. Do đó khoản tín dụng được chấp nhận. 18 Thang Long University Library NPV = 0: Bàng quan với quyết định cấp tín dụng vì nó không mang lại thay đổi gì so với việc thanh toán ngay. NPV < 0: Cho thấy việc doanh nghiệp cho khách hàng trả chậm đang mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp hơn những lợi ích mà doanh nghiệp nhận được. Do đó, doanh nghiệp nên từ chối cấp tín dụng. 1.3.1.5. Xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn. Do xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh. Nếu thừa vốn sẽ gây lãng phí, nếu thiếu vốn thì sẽ không đảm bảo cho quá trình sản xuất. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 1.3.2. Nhân tố khách quan Các nhân tố khách quan cũng có những tác động rất lớn đối với doanh nghiệp. Có những thời điểm các nhân tố này sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, nhưng cũng có những thời điểm chính những nhân tố này sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Sự tác động của các nhân tố khách quan không nằm trong sự kiểm soát của doanh nghiệp nên khi gặp phải những nhân tố này, doanh nghiệp phải tìm cách tự điều chỉnh sao cho phù hợp với sự tác động đó. 1.3.2.1. Chính sách kinh tế của Nhà nước Vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô. Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế. Thông qua luật pháp và các chính sách kinh tế…, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các DN phát triển SXKD và hướng các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch kinh tế vĩ mô. Một chính sách kinh tế của nhà nước có thể tạo ra tác động nhiều chiều đối với những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau và tác động tới hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả sử dụng tài sản nói chung của doanh nghiệp. 1.3.2.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm Kinh tế thị trường là một sự phát triển chung của xã hội nhưng trong nó vẫn có những mặt trái tồn tại và khi cơ chế thị trường mới được một sự linh hoạt, nhạy bén bao nhiêu thì mặt trái của nó lại là những thay đổi liên tục đến chóng mặt giá cả của các loại đồng tiền vì thế mà đồng tiền mất giá nghiêm trọng, lạm phát lại vẫn thường xuyên xảy ra. Điều đó gây ra tình trạng với một lượng tiền như cũ thì không thể tái tạo lại (hay mua sắm lại) tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp với quy mô như ban đầu. 19 1.3.2.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh (có ngành nghề thì sử dụng nhiều tài sản ngắn hạn hơn trong cơ cấu tài sản, nhưng có ngành nghề thì lại sử dụng ít tài sản ngắn hạn. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn vì tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn thường thay đổi khi lượng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp thay đổi. 1.3.2.4. Sự phát triển của khoa học công nghệ Sự phát triển của khoa học công nghệ là một điều đáng mừng nhưng đồng thời cũng là một nỗi lo lắng lớn cho các doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm trong các hoạt động sản xuất kinh doanh giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với sự phát triển quá nhanh khiến cho các trang thiết bị của doanh nghiệp nhanh chóng trở nên lỗi thời cũng khiến cho doanh nghiệp phải suy nghĩ nhiều hơn vào vấn đề chi phí để nâng cấp máy móc. Điều này khiến cho chi phí của doanh nghiệp trở nên lớn đến mức mà có thể doanh thu bán hàng của doanh nghiệp không thể bù đắp nổi lượng chi phí để đổi mới trang thiết bị sản xuất. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -