Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của chi nhánh Công ty Cổ phần Giao nhận vận tải Con Ong

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1.1.1. Khái quát về tài sản của doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Tài sản là tất cả nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, nắm giữ và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó [1, tr.8]. Tài sản của doanh nghiệp là tất cả nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, giấy tờ có giá, tiền và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm xác định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó [4, tr.56]. Hay tài sản là toàn bộ phương tiện vật chất và phi vật chất phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời [10, tr.32]. 1.1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Trong hoạt động sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng tài sản có hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải phân loại tài sản theo các tiêu chí khác nhau. Có nhiều tiêu chí để phân loại tài sản, thông thường có những cách phân loại sau đây: Phân loại theo nguồn hình thành của tài sản (hay vốn kinh doanh của doanh nghiệp) thì tài sản được hình thành từ 2 nguồn: nguốn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.  Nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu biểu hiện quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp đối với các tài sản hiện có ở doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn như: số tiền đóng góp của nhà đầu tư - chủ của doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối - số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.  Nợ phải trả: Các khoản nợ phải trả bao gồm: các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả, phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn phải trả, nộp như: phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp cho Nhà nước. Qua tiêu thức phân loại này cho thấy kết cấu vốn sản xuất kinh doanh được hình thành bằng vốn bản thân doanh nghiệp cung cấp và từ các nguồn vốn huy động bên ngoài doanh nghiệp thuộc nợ phải trả. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt hơn và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả và hợp lý, doanh nghiệp biết được khả năng của mình trong việc huy động vốn là cao hay thấp. 1 Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của từng tài sản (hay vốn kinh doanh), tài sản của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.  TSNH là tiền và các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. TSNH phản ánh tồng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.  TSDH phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, bất động sản đầu tư và các loại tài sản dài hạn khác có đến thời điểm báo cáo, bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. Theo cách phân loại tài sản như trên giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn sao cho phù hợp với thời gian sử dụng sao cho hiệu quả. Tùy vào từng loại hình doanh nghiệp và quy mô kinh doanh mà tỷ trọng TSNH và tỷ trọng TSDH là khác nhau trong tổng tài sản. Tuy nhiên, doanh nghiệp nào cũng cần phải có một chế độ quản lý khoa học và hợp lý để vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh thông suốt, vừa giảm được những chi phí không cần thiết, từ đó giúp cho việc quản lý và sử dụng tài sản có hiệu quả hơn. Vậy nếu doanh nghiệp xác định được cách phân loại phù hợp với mình thì sẽ có ưu thế hơn trong việc bảo tồn, quản lý và sử dụng tài sản của mình. 1.1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp Trong bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào của doanh nghiệp cũng đều không thể thiếu được tài sản. Tài sản giúp cho doanh nghiệp hoạt động một cách liên tục. Tài sản giúp cho doanh nghiệp đáp ứng được các nhu cầu, các đơn hàng của khách hàng. Ngoài ra, tài sản giúp cho doanh nghiệp sản xuất một cách liên tục, đảm bảo quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy tài sản là điều kiện để doanh nghiệp đi vào hoạt động. Dù đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì tài sản cũng luôn là vấn đề mấu chốt dẫn đến thành công cho các doanh nghiệp này vì khi TSNH hoạt động hiệu quả thì không có lý do gì khiến hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị ngưng trệ, gián đoạn. Để đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các TSDH như máy móc, nhà xưởng,... doanh nghiệp còn cần mua sắm các hàng hóa hay nguyên vật liệu khác để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp dịch vụ thì TSNH và TSDH cũng không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp đó được. 2 Thang Long University Library Tài sản giúp doanh nghiệp tạo lập các mối quan hệ mật thiết với khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn và thân quen thông qua chính sách tín dụng thương mại. Vì khi tài sản của doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp có thể lới lỏng tín dụng đối với khách hàng, cho khách hàng chiếm dụng vốn khi họ đang có nhu cầu về vốn để duy trì hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường. Điều này mang lại cho doanh nghiệp những mối quan hệ thân thiết, tạo ra sự trung thành từ khách hàng. Nhìn chung, tài sản góp phần quan trọng, giúp doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường và ổn định. Do đó, quản lý tài sản là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp vì tài sản là nguồn trực tiếp tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cũng tức là góp phần đẩy mạnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.2. Tài sản ngắn hạn 1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế hiện nay, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có tài sản. Tài sản là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh. Dưới các những điều kiện kinh tế khác nhau và góc độ kinh tế khác nhau thì quan điểm về tài sản có sự khác biệt [1, tr.5]. Có người cho rằng TSNH là loại tài khoản dùng để phản ánh giá trị hiện có, tình hình biến động tăng, giảm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp [5, tr.6] Hay TSNH là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. TSNH của doanh nghiệp bao gồm vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác [4, tr86]. Từ những phân tích trên có thể hiểu: “TSNH của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời hạn sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thức tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hóa) dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu ngắn hạn” [3, tr 32]. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên tham gia luân chuyển trong quá kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, TSNH được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán, phải thu và dự trữ tồn kho. Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại TSNH chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản còn trong doanh nghiệp thương mại thì TSNH chiếm tới 70% tổng giá trị tài sản. TSNH của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất 3 lưu thông quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của TSNH. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh TSNH lại thay đổi hình thái biểu hiện. TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì TSNH hoàn thành một vòng chu chuyển [3, tr.52 ]. TSNH được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. TSNH có tính thành khoản cao dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không chịu chi phí lớn. Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn cho quản lý, chống thất thoát. TSNH phải đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh nghiệp và sản xuất. Chính vì vậy các khoản đầu tư cho TSNH thường xuyên có thể hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không phải chịu nhiều chi phí tốn kém. Đổi lại, TSNH phải chịu sự lệ thuộc vào những dao động mang tính chất thời vụ và chu kỳ kinh doanh. 1.1.2.2. Vai trò của TSNH trong doanh nghiệp TSNH giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được vận hành liên tục, không bị gián đoạn. Trong sản xuất, tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp thông suốt trong SXKD, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất. Lượng tài sản ngắn hạn có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách hàng và nhu cầu tiêu thụ nhịp nhàng. Vì nhu cầu của khách hàng là không giới hạn, tăng theo thời gian cả về quy mô lẫn chất lượng nên để thỏa mãn tất cả các nhu cầu đó, khơi thông sự gián đoạn trong lưu thông của doanh nghiệp thì dự trữ một lượng lớn TSNH là điều tất yếu. TSNH giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như các khoản chi phí phát sinh trong quá trình SXKD như chi phí đền bù, chi phí mua nguyên vật liệu thanh toán ngay,... Khi duy trì ở một mức độ hợp lý, phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phù hợp với tình hình nền kinh tế tại mỗi thời điểm nhất định thì nó đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như được hưởng chiết khấu thương mại khi mua với số lượng nhiều, chiết khấu thanh toán khi thanh toán sớm tiền hàng,… Từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. 4 Thang Long University Library TSNH giúp doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn và thân thuộc thông qua chính sách tín dụng thương mại. Vì khi TSNH của doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp có thể nới lỏng tín dụng đối với khách hàng, cho khách hàng chiếm dụng vốn khi họ đang có nhu cầu về vốn để duy trì hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường. Điều này mang lại cho doanh nghiệp những mối quan hệ thân thiết, tạo ra sự trung thành từ khách hàng. 1.1.2.3. Phân loại tài sản ngắn hạn Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng, tùy theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận động của TSNH, có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau: Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, TSNH được chia thành: Tài sản ngắn hạn dự trữ: là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu tồn kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán. Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: Thành phần tồn kho, hàng gửi bán và khoản nợ phải thu của khách hàng. Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của TSNH để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất. Phân loại theo tính thanh khoản Đây là cách phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán. Theo cách phân loại này thì TSNH bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, các khoản ứng trước, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.  Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền dưới dạng loại séc các loại, tiền trong thẻ tín dụng và trong tài khoản ATM. Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán. Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro khi thanh toán. Bên cạnh đó có các tài sản đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng chủ yếu cho mục đích dự trữ. Tuy nhiên tài sản này gần như không sinh lời, bởi vậy việc giữ tiền mặt của doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lý, không quá nhỏ để 5 đảm bảo khả năng thanh toán cũng như không quá lớn để tránh lãng phí, ứ đọng vốn của doanh nghiệp.  Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn khác bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản vừa có tính thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này.  Các khoản phải thu (tín dụng thương mại) bao gồm các khoản phải thu khách hàng… là một loại tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại. Muốn mở rộng mạng lưới tiêu thụ và tạo dựng mối quan hệ lâu dài, doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng, chính vì vậy đã phát sinh ra các khoản tín dụng thương mại. Tín dụng thương mại có thể giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số, từ đó tăng doanh thu, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn khi doanh nghiệp không thể hoặc khó thu hồi nợ từ khách hàng.  Các khoản ứng trước: Bao gồm các khoản tiền mà doanh nghiệp đã trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc cho các đối tượng khác.  Hàng tồn kho: “Hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hóa bị ứ đọng, không bán được mà nó bao gồm toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Trên thực tế, hàng tồn kho bao gồm hàng trăm loại khác nhau, tuy nhiên, có thể phân thành các nhóm chính sau: Nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vât liệu bổ trợ, nhiên liệu, thành phẩm, sản phẩm dở dang và bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ…  Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cước ngắn hạn. Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục trên trong bảng cân đối kế toán. Thông thường thì trong doanh nghiệp chỉ có các khoản chính như: tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác… Vậy nếu doanh nghiệp xác định được cách phân loại phù hợp với mình thì sẽ có ưu thế hơn trong việc bảo tồn, quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn. 1.1.3. Tài sản dài hạn 1.1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản dài hạn trong doanh nghiệp Có người cho rằng, TSDH là phản ánh tổng giá trị khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và TSDH khác có đến thời điểm báo cáo, bao gồm các khoản thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và TSDH khác [5, tr.86]. 6 Thang Long University Library Tài sản dài hạn của doanh nghiệp gồm: Tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư, đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác và đầu tư XDCB ở doanh nghiệp, chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại [6, tr.45]. Nói tóm lại, TSDH là những tư liệu sản xuất, là một trong những loại tài sản có giá trị lớn (từ 10 triệu đồng trở lên) được huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời, và thường thì các loại tài sản này có chu kì sử dụng trong dài hạn (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kì kinh doanh) [3, tr. 52]. Đặc điểm của tài sản dài hạn Khi tham gia vào quá trình sản xuất, nhìn chung TSDH không bị thay đổi hình thái hiện vật, nhưng tính năng công suất giảm dần, tức là có một số TSCĐ bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của chính tài sản đó bị cũng giảm đi. Hay nói cách khác, TSDH có đặc điểm như sau: TSDH thường là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài (thường là trên một năm) nên khả năng chuyển đổi thành tiền và giá trị tương đương tiền khó hơn TSNH, khó đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán ngay của doanh nghiệp hơn TSNH. TSDH thường có thời hạn sử dụng trên một năm và giá trị tương đối lớn nên khi tham gia và nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn không bị thay đổi hình thái vật chấ ban đầu đến khi hư hỏng. Giá trị của TSDH sẽ bị hao mòn dần và sẽ chuyển từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh. 1.1.3.2. Phân loại tài sản dài hạn trong doanh nghiệp TSDH của doanh nghiệp gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn khác và tài sản dài hạn khác. Tài sản cố định TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu mà nó có đặc điểm cơ bản là tham gia nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến khi bị loại bỏ khỏi quá trình sản xuất. Theo quyết định số 206/2003/QĐ – BTC ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ. Tài sản của doanh nghiệp được coi là TSCĐ khi nó thỏa mãn các điều kiện sau:  Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;  Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy;  Có thời gian sử dụng trên 1 năm;  Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành (trị giá từ 10.000.000đ). 7 Dựa trên khái niệm của TSCĐ thì TSCĐ bao gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính.  TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị...  TSCĐ vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả...  TSCĐ thuê tài chính: là TSCĐ mà bên thuê tài sản có sự chuyển giao phần lớn rủi ro đi kèm với lợi ích kinh tế. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn Các khoản thu đầu tư tài chính dài hạn là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm. Ngoài ra, các khoản đầu tư tài chính còn là một hoạt động đầu tư tài chính mà doanh nghiệp đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác để nhận kết quả kinh doanh và cùng chịu rủi ro (nếu có). Vốn góp liên doanh của doanh nghiệp bao gồm tất cả các loại tài sản, vật tư, tiền, vốn thuộc quyền chủ sở hữu của doanh nghiệp, kể cả vốn vay dài hạn dùng vào việc góp vốn kinh doanh. Cụ thể, các khoản đầu tư tài chính dài hạn bao gồm: các chứng khoán dài hạn và các khoản vốn góp liên doanh.  Các chứng khoán dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc mua bán cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên một năm và có thể bán ra bất cứ lúc nào với mục đích kiếm lợi nhuận. Bao gồm: cổ phiếu doanh nghiệp, trái phiếu (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu công ty). - Các khoản vốn góp liên doanh. 8 Thang Long University Library Các khoản phải thu dài hạn Các khoản thu dài hạn là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm. Bất động sản đầu tư Bất động sản đầu tư là bất động sản, bao gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. TSDH khác: Gồm có chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại và các TSDH khác. 1.1.3.3. Vai trò của tài sản dài hạn Giống như TSNH, TSDH có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Nếu không có TSDH, doanh nghiệp sẽ khó đi vào sản xuất – kinh doanh cũng như quản lý được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Một doanh nghiệp có nền tảng TSDH tốt, thì đó sẽ là bước đệm, tạo tiền đề để doanh nghiệp phát triển và đứng vững trên thị trường. Quản lý và sử dụng tốt TSDH là yếu tố tiên quyết để doanh nghiệp có thể chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình. 1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Theo các chuyên gia và các nhà kinh tế đánh giá thì hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu. Hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu. 9 Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo . . . Nhưng tất cả những mục tiêu đó đều nhằm đến một mục tiêu bao trùm nhất đó là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các doanh nghiệp đều phải nỗ lực khai thác và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình. Nói tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất, kinh doanh được tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất [5, tr116]. 1.2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có một lượng tài sản nhất định. Nếu không có tài sản thì sẽ không có một hoạt động kinh doanh nào được diễn ra. Song, việc sử dụng tài sản như thế nào cho hiệu quả cao mới là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó, việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý của doanh nghiệp. Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp được hiểu trên hai khía cạnh: Một là, dựa trên số tài sản hiện có của doanh nghiệp, tiến hành sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm doanh thu và lợi nhuận. Hai là, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô, hoạt động sản xuất kinh doanh sản xuất để tăng doanh thu với lượng hàng tiêu thụ đảm bảo tốc độ tăng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng của tài sản. Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Việc quản lý, sử dụng tốt tài sản sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thực hiện được những mục tiêu đề ra. Ngoài ra, quản lý tài sản không những đảm bảo sử dụng tài sản hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa trong việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, từ đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu và cần thiết của mỗi doanh nghiệp trên thị trường. 1.2.3. Các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng tài sản Có nhiều phương pháp phân tích được sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản xong khóa luận tập trung phân tích chủ yếu vào ba phương pháp: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp. 10 Thang Long University Library Phƣơng pháp thống kê Thống kê là phương pháp thu thập các số liệu và báo cáo có được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tổng hợp và phân tích nhằm mục đích nghiên cứu các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp. Từ các chỉ tiêu đó, nhà phân tích có thể phân tích tìm hiểu, nhận biết được tình hình hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp nhằm cân bằng lại các chỉ tiêu kinh tế. Các số liệu thống kê cần được đảm bảo tính hướng đích. Do đặc điểm là thống kê kết quả sản xuất kinh doanh, vì vậy phương pháp thống kê được lựa chọn phải phản ánh được nhiệm vụ nghiên cứu, phản ánh chính xác về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm nhất định của doanh nghiệp. Từ đó, nhà phân tích có thể đo được mức biến động của các chỉ tiêu, tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố, vai trò của chúng và tìm ra biện pháp khắc phục. Phƣơng pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi phổ biến trong phân tích kinh tế trong đó có phân tích hiệu quả sử dụng tài sản. Trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách so sánh ngang hoặc so sánh dọc. Khi áp dụng phương pháp này cần lưu ý: Thứ nhất, phải đảm bảo điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu. Các chỉ tiêu sử dụng để so sánh phải đảm bảo thống nhất về nội dung phản ánh, về phương pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường. Nếu không thống nhất các điều kiện so sánh, việc so sánh sẽ không có giá trị, nhiều khi còn phản ánh sai lệch thông tin. Thứ hai, phải xác định gốc để so sánh. Để so sánh, cần phải có gốc so sánh. Việc xác định gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích phân tích. Gốc so sánh thường được xác định theo thời gian và không gian.  Về mặt thời gian: người phân tích có thể lựa chọn kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ này năm trước hay lựu chọn các điểm thời gian (năm, tháng, tuần, ngày cụ thể),… để làm gốc so sánh:  Về mặt không gian: người phân tích có thể lựa chọn tổng thể hay lựa chọn các bộ phận của cùng tổng thể, lựu chọn các đơn vị khác có cùng điều kiện tương đương,… để làm gốc so sánh. Trong phân tích, kỳ được chọn làm gốc so sánh được gọi là kỳ gốc, còn kỳ được chọn để phân tích được gọi là kỳ phân tích. Các trị số của chỉ tiêu tính ra từng kỳ tương ứng sẽ là trị số của chi tiêu kỳ gốc, kỳ phân tích. Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích, các phương pháp so sánh thường được sử dụng dưới ba dạng sau: So sánh bằng số tuyệt đối: Số tuyệt đối được sử dụng để phản ánh quy mô của các hiện tượng, sự vật,…Bởi vậy, khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ 11 biết được quy mô biến động của các chỉ tiêu phân tích. Nói cách khác, so sánh bằng số tuyệt đối sẽ cung cấp thông tin về mức độ biến động của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc biểu hiện bằng tiền, hiện vật hay giờ công cụ thể. So sánh bằng số tương đối: Số tương đối phản ảnh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu. Do vậy, khi so sánh bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được xu hướng biến động của các chi tiêu. Trong phân tích, các nhà phân tích thường sử dụng các dạng so sánh bằng số tương đối chủ yếu sau: So sánh bằng số tương đối giản đơn: Loại so sánh này có tác dụng đánh giá sơ bộ tình hình thực hiện chỉ tiêu nghiên cứu mà không phản ánh được chất lượng công tác. So sánh bằng số tương đối liên hệ: So sánh này cho phép đánh giá sơ bộ tình hình thực hiện chỉ tiêu nghiên cứu và phản ánh chất lượng công tác. Ngoài ra còn có các loại so sánh tương đối khác như: So sánh bằng số tương đối kết hợp, so sánh bằng số tương đối động thái, so sánh bằng số tương đối kết cấu, so sánh bằng số tương đối hiệu suất. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp Dựa trên các thống kê, so sánh giữa các số liệu và kết hợp các số liệu đó, các nhà phân tích sẽ đi phân tích chúng để tìm hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý doanh nghiệp. Nhờ các lý luận và phương pháp phong phú mà nhà phân tích có thể vạch ra nguyên nhân của việc hoàn thành kế hoạch và các quyết định quản lý: phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng nguồn lực, xác định các mối liên hệ, các tính quy luật chung của hệ thống. Theo hướng phân tích đối tượng nghiên cứu được tách ra thành nhiều yếu tố cấu thành, các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của các chỉ tiêu cũng được chia ra làm nhiều nguyên nhân nhỏ hơn nhằm tạo khả năng nghiên cứu một cách sâu sắc và chi tiết đối tượng. Do việc phân tích thành các nhân tố như trên ta có thể biết được đâu là nhân tố nổi trội tác động tới các đối tượng mà ta nghiên cứu, mức độ chi tiết của việc nghiên cứu phân tích nhân tố phụ thuộc vào nhiệm vụ phân tích và khả năng thực tế của sự phân tích. Theo hướng tổng hợp, nhà phân tích có thể có một số cách làm khác nhau để khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu, xây dựng mô hình biến động của chúng trong thời gian dài hoặc trên quy mô lớn. 12 Thang Long University Library 1.2.4. Phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp Cân bằng tài chính là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài sản xác định các luồng thu về trong tương lai và tính tới hạn của những khoản nợ xấu xác định các luồng chi ra trong tương lai. Nói cách khác cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hòa giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn. Vì vậy các số liệu ngân quỹ và sự thay đổi ngân quỹ không thể chỉ bảo chính xác các điều kiện cân bằng tài chính. 1.2.4.1. Phân tích cân bằng tài chính trong ngắn hạn Cân bằng tài chính trong ngắn hạn thể hiện qua chỉ tiêu nhu cầu vốn lưu động ròng. Nhu cầu vốn lưu động ròng phải được dự kiến trước trong các kế hoạch kinh tế, kỹ thuật, tài chính cho doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều có nhiệm vụ tổ chức huy động nguồn vốn lưu động sao cho đủ để dự trữ TSNH, đáp ứng nhu cầu cho quá trình hoạt động kinh doanh và tiết kiệm vốn. Trong trường hợp doanh nghiệp không tự đáp ứng được nhu cầu về vốn, doanh nghiệp có thể vay ngân hàng hoặc các đối tượng khác để bổ sung vào nguồn vốn lưu động của mình. Mặt khác, doanh nghiệp cần có các biện pháp hữu hiệu để sử dụng có hiệu quả và đảm bảo hiệu quả các nguồn vốn, tiến hành phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn vốn hiện có nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp. NCVLĐR = Hàng tồn kho + Các khoản phải thu ngắn hạn – Nợ ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn) Trường hợp 1: NCVLĐR<0: Tức là hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn. Đây là một tình trạng rất tốt đối với doanh nghiệp, với ý nghĩa là doanh nghiệp được các chủ nợ ngắn hạn cung cấp vốn cần thiết cho chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vì vậy, đa số các doanh nghiệp đều muốn nhu cầu vốn lưu động ròng âm. Trường hợp 2: NCVLĐR > 0: Điều này cho thấy nợ ngắn hạn không kể vay ngắn hạn không đủ để tài trợ cho hàng tồn kho và khoản phải thu. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải huy động các nguồn vay khác từ bên ngoài như ngân hàng, tổ chức tín dụng để tài trợ cho phần chênh lệch này. Trường hợp 3: NCVLĐR=0: Khoản mục hàng tồn kho và các khoản phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn. trong trường hợp này, nợ ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn) vừa đủ để tài trợ cho hàng tồn kho và các khoản phải thu của doanh nghiệp. Mục tiêu mà các nhà quản trị hướng tới là làm sao để giảm NCVLĐR đến mức tối thiểu. Muốn như vậy cần phải đạt được đồng thời: Duy trì một mức tồn kho tối thiểu mà không gây gián đoạn quá trình sản xuất, thu ngắn tối đa chu kỳ sản xuất, 13 chính sách thương mại, công tác thu hồi nợ khách hàng phải được phát huy tốt nhất. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải cố gắng tìm kiếm các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài như nợ nhà cung cấp, yêu cầu khách hàng ứng tiền trước … 1.2.4.2. Phân tích cân bằng tài chính trong dài hạn Nếu vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán thì vốn lưu động ròng là phần chênh lệch giữa TSNH và nguồn vốn tạm thời. Có hai phương pháp tính vốn lưu động ròng của doanh nghiệp: Dựa vào nguồn gốc hình thành vốn lưu động ròng: Vốn lƣu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nguồn vốn tạm thời Hoặc: Vốn lƣu động ròng = Nguồn vốn thƣờng xuyên – Tài sản dài hạn Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn có thời gian sử dụng trên một năm bao gồm nguốn vốn chủ sở hữu và các khoản vay trung và dài hạn. Nguồn vốn này được doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường xuyên được sử dụng để tài trợ cho tài sản dài hạn. Nguốn vốn tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn thường là một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn tạm thời bao gồm các khoản phải trả tạm thời, các khoản nợ người bán, các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và nợ khác. Công thức này thể hiện cân bằng tài chính trong dài hạn. Dựa vào cách thức xác định VLĐR là chênh lệch giữa nguồn vốn thường xuyên và TSDH, ta có các trường hợp cân bắng tài chính dài hạn như sau: Trường hợp 1: VLĐR = NVTX – TSDH <0. Trong trường hợp này, nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn, phần thiếu hụt này được bù đắp bằng một phần nguồn vốn tạm thời. Do tài sản dài hạn có thời gian thu hồi chậm trong khi đó nguồn vốn tạm thời doanh nghiệp phải thanh toán trong năm do đó khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp kém. Cân bằng tài chính trong trường hợp này là không tốt. Trường hợp 2: VLĐR = NVTX – TSDH = 0. Trong trường hợp này, toàn bộ tài sản dài hạn được tài trợ vừa đủ từ nguồn vốn thường xuyên. Cân bằng tài chính tuy có tiến triển vững hơn trường hợp 1 nhưng độ an toàn chưa cao có nguy cơ mất bền vững. Trường hợp 3: VLĐR = NVTX – TSDH > 0. Trong trường hợp này nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho TSDH mà còn sử dụng một phần để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Cân bằng tài chính trong trường hợp này được đánh giá tốt và an toàn. 14 Thang Long University Library Ba trường hợp trên chỉ xem xét vốn lưu động ròng tại một thời điểm. Để đánh giá cân bằng tài chính của doanh nghiệp cần nghiên cứu nhiều năm để đánh giá xu thế cân bằng của doanh nghiệp. Phân tích VLĐR qua nhiều thời kỳ có những trương hợp sau: Vốn lưu động ròng dương và tăng qua nhiều năm: Chứng tỏ nguồn vốn thường xuyên không những đủ để tài trợ cho TSDH mà còn dư ra để tài trợ cho TSNH. Cân bằng tài chính được đánh giá tốt và an toàn. Quyết định lựa chọn phần lớn nguồn vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn trong trường hợp này đã đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp. Chính sách tài trợ như vậy là phù hợp. Tuy nhiên, cần xem xét kỹ lưỡng các bộ phận nguồn vốn thường xuyên về yếu tố TSDH. Trong trường hợp VLĐR dương và tăng do thanh lý liên tục tài sản dài hạn làm giảm quy mô tài sản dài hạn thì chưa kết luận tính an toàn. Vốn lưu động ròng giảm và âm: Thể hiện mức độ an toàn và bền vững tài chính của doanh nghiệp giảm do doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tạm thời tài trợ cho tài sản dài hạn. Tuy nhiên trong trường hợp VLĐR giảm do doanh nghiệp đầu tư vào tài sản dài hạn là chủ yếu để nâng cao vị thế doanh nghiệp, và tốc độ tăng của nó nhanh hơn tốc độ tăng nguồn vốn thường xuyên thì chưa thể kết luận về cân bằng tài chính của doanh nghiệp được. Vốn lưu động ròng có tính ổn định: Thể hiện các hoạt động của doanh nghiệp đang trong trạng thái ổn định. Khi đánh giá cân bằng tài chính phải đồng thời qua tâm đến các yếu tố tác động đến vốn lưu động ròng đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách khấu hao và dự phòng.. của doanh nghiệp. 1.2.4.3. Phân tích mối quan hệ giữa vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng Phân tích cân bằng tài chính cần xem xét mối quan hệ giữa vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng. Phân chênh lệch giữa vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng được gọi là ngân quỹ ròng. Ngân quỹ ròng= Vốn lƣu động ròng – Nhu cầu vốn lƣu động ròng Trường hợp 1: NQR >0 (VLĐR > NCVLĐR) thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn lưu động ròng. Ở một góc độ khác, doanh nghiệp không gặp tình trạng khó khăn về thanh toán trong ngắn hạn và số tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao để sinh lời. Doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính trong ngắn hạn. Trường hợp 2: NQR = 0 (VLĐR = NCVLĐR) thể hiện vốn lưu động ròng vừa đủ để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ròng. Cân bằng tài chính kém bền vững hơn so với trường hợp trên. Đây là dấu hiệu về tình trạng mất cân bằng tài chính. Trường hợp 3: NQR < 0 (VLĐR < NCVLĐR) điều này có nghĩa VLĐR không đủ để tài trợ NCVLĐR, doanh nghiệp mất cân bằng tài chính trong ngắn hạn, trong 15 trường hợp này doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt đó và tài trợ một phần TSDH khi VLĐR âm. Mục tiêu mà các nhà quản trị hướng tới là làm sao để giảm NCVLĐR đến mức tối thiểu. Muốn như vậy doanh nghiệp cần phải đạt được đồng thời: Duy trì một mức tồn kho tối thiểu mà không gây gián đoạn quá trình sản xuất, thu ngắn tối đa chu kỳ sản xuất, chính sách thương mại, công tác thu hồi nợ khách hàng phải được phát huy tốt nhất. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải cố gắng tìm kiếm các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài như nợ nhà cung cấp, yêu cầu khách hàng ứng tiền trước … 1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1.2.5.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (hay còn gọi là số vòng quay của tổng tài sản) Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận động không ngừng, để đẩy mạnh tăng doanh thu, là nhân tố góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Số vòng quay của tài sản có thể xác định bằng công thức: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân Trong đó: tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản có ở đầu kì và cuối kì. Chỉ tiêu này cho ta biết, một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp càng cao. Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản Chỉ tiêu thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này được tính như sau: Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lợi tổng tài sản = (ROA) Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này được dùng để đo hiệu quả của việc tài trợ cho các nhu cầu về tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu và vốn vay. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn chi phí nợ thì đầu tư bằng nợ có lợi cho doanh nghiệp hơn đầu tư bằng vốn chủ sở hữu. Hay là, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của daonh nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. 16 Thang Long University Library Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tào sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để sự kiến vốn đầu tưu khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần dự kiến, chỉ tiêu này được xác định như sau: Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Tài sản bình quân = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này thường được xác định như sau: Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế Tài sản bình quân = Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được một đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp thì cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản càng cao, hấp dẫn các cổ đông đầu tư. 1.2.5.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Nhóm chỉ tiêu hoạt động Các chỉ tiêu hoạt động là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Hệ số hoạt động còn được gọi là hệ số luân chuyển. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn Vòng quay TSNH trong kỳ là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của TSNH trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số TSNH bỏ ra trong kỳ. Số vòng quay của TSNH có thể xác định bằng công thức: 17 Doanh thu thuần Vòng quay TSNH = Tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết trong một năm TSNH của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng TSNH mang lại bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay càng cao, chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thời gian luân chuyển TSNH 360 Thời gian luân chuyển TSNH = Vòng quay TSNH Chỉ tiêu này cho biết độ dài của vòng quay vốn lưu động, tức là số ngày cần thiết của một vòng quay TSNH. Số ngày luân chuyển TSNH càng ngắn chứng tỏ TSNH được luân chuyển ngày càng nhiều trong kỳ phân tích, doanh nghiệp sử dụng TSNH hiệu quả. Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn (hay còn gọi là suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu thuần) Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn Tổng tài sản ngắn hạn bình quân = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ suất lợi nhuận của một đồng tài sản ngắn hạn sẽ tăng lên. Do đó qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị tài chính có thể xây dựng kế hoạch về đầu tư TSNH một cách hợp lý, phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra nhiều doanh thu thuần nhất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (hay còn gọi là số vòng quay của tài sản ngắn hạn) Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSNH = TSNH bình quân Trong đó, tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn hạn có ở đầu kì và cuối kì. Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các TSNH quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH là tốt. Hoặc số vòng quay của TSNH cho biết một đồng giá trị TSNH đầu tư trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, chỉ tiêu này 18 Thang Long University Library càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận. Hệ số sinh lời của TSNH (khả năng sinh lời) Hệ số sinh lời của TSNH Lợi nhuận sau thuế = TSNH bình quân Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSNH có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động SXKD đạt hiệu quả cao và ngược lại. Mức thu lợi của TSNH càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng cách lấy giá vốn hàng bán chia cho bình quân giá trị hàng tồn kho. Số liệu hàng tồn kho được tính giá trị bình quân vì giá trị giá vốn hàng bán được thu thập từ báo cáo kết quả kinh doanh, phản ánh số liệu trong thời kỳ, trong khi đó giá trị hàng tồn kho được lấy từ BCĐKT là giá trị tại một thời điểm. Công thức tính vòng quay hàng tồn kho: Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho = (vòng) Giá trị hàng tồn kho bình quân Trong đó: Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối Giá trị hàng tồn kho bình quân năm = 2 Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng. Và chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hàng tồn kho vận động không ngừng. Đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ số này đo lường tính thanh khoản của hàng tồn kho. Nếu việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp không hiệu quả sẽ phát sinh chi phí lưu trữ hàng tồn kho làm giá bán tăng. Thời gian quay vòng hàng tồn kho Chỉ tiêu này phản ánh một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày hay chính là số ngày tồn kho bình quân để từ hàng tồn kho chuyển thành doanh thu. Chỉ tiêu được xác định như sau: 19 360 Thời gian quay vòng hàng tồn kho = (ngày) Vòng quay hàng tồn kho Tăng đốc độ luân chuyển hàng tồn kho là rút ngắn thời gian hàng tồn kho nằm trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh như dự trữ, sản xuất và lưu thông. Đồng thời là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất kinh doanh để doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô của quá trình sản xuất mà không cần tăng thêm vốn đầu tư. Mặc khác tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho còn góp phần doanh nghiệp giảm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét hiệu quả của doanh nghiệp trong việc sử dụng tín dụng mở rộng cho khách hàng. Lí do mở rộng tín dụng cho khách hàng là nhằm mục đích tăng doanh số bán hàng. Tuy nhiên, nó lại có nhược điểm là khách hàng không thanh toán như đã hứa. Chỉ tiêu này xem xét tốc độ thanh toán các khoản nợ của khách hàng cho doanh nghiệp và được xác định bởi công thức: Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu= (vòng) Phải thu khách hàng bình quân Trong đó: Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ Phải thu khách hàng bình quân năm = 2 Vòng quay càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao quá có thể do phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp. Thời gian thu tiền trung bình Chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lý khoản phải thu. Nó cho biết trung bình mất bao nhiêu ngày để doanh nghiệp có thể thu hồi được khoản phải thu. Công thức: 360 Thời gian thu tiền trung bình = Vòng quay các khoản thu 20 Thang Long University Library (ngày)
- Xem thêm -