Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Kinh doanh than Tây Bắc

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27429 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Khái niệm, phân loại doanh nghiệp, các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Khái niệm doanh nghiệp: Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Phân loại doanh nghiệp: Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:  Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.  Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.  Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.  Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định. Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ti Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. 1 Doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%). Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%. Như vậy doanh nghiệp nhà nước có các đặc điểm: Chủ đầu tư: là Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác.  Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ).  Hình thức tồn tại: doanh nghiệp nhà nước có nhiều hình thức tồn tại. Nếu doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp như: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Nếu doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn  Trách nhiệm tài sản: doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.  Tư cách pháp lý: doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân.  Luật áp dụng: các công ty nhà nước đã thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp. Các loại doanh nghiệp nhà nước khác tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp. 1.2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.2.1.1. Khái Niệm. Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế, với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mục tiêu hoạt động khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu khác nhau. Nhưng có thể nói rằng trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này mọi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường, phải thực hiện việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh, phải kế hoạch hóa các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả. Trong quá trình tổ chức xây dựng các hoạt động quản trị trên, doanh nghiệp phải luôn kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của chúng. Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể không thực hiện việc tính 2 Thang Long University Library hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì? Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên phải tìm hiểu hiệu quả kinh tế nói chung là gì. Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất:  Theo P. Samerelson và W. Nordhaus: hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng săn lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó. Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nên kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu qủa ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa.  Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng lên chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế.  Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông: tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá chia cho chi phí kinh doanh. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế.  Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau: mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg,…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu,…) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật. Mối quan hệ tỷ lê giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị. Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền. Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.  Một số khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến đó là: hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt 3 được mục tiêu đã xác định. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hay hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau: hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất 1.2.1.2. Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động sản xuất. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan hiếm các nguồn lực và sử dụng cũng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện trong mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Xét về tổng lượng thì hiệu quả thu được khi kết quả kinh tế đạt được lớn hơn chi phí, sự chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả ngày càng cao, sự chênh lệch này nhỏ thì hiệu quả đạt được càng nhỏ. Về mặt định tính: Hiệu quả kinh tế thu được là mức độ phản ánh sự nỗ lực của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống kinh tế, phản ánh trình độ năng lực quản lý kinh tế và giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chính trị, xã hội. Vì vậy, yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. 1.2.1.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Xu thế toàn cầu hóa đã làm cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn. Trong một môi trường cạnh tranh gay gắt như vậy, mọi doanh nghiệp đều có mục tiêu xuyên suốt đó chính là tối đa hóa lợi nhuận ròng. Muốn tồn tại và phát triển được trong môi trường cạnh tranh như vậy, doanh nghiệp phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho chính những sản phẩm, dịch vụ của mình, đó là sự khác biệt hóa, chất lượng, giá thành… Để tạo ra được lợi thế cạnh tranh về giá, bắt 4 Thang Long University Library buộc các doanh nghiệp phải sử dụng nguồn lực của mình hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp khác. Chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mới có thể giúp cho doanh nghiệp đứng vững được trong nền kinh tế cơ chế thị trường này. Trong khi các nguồn lực sản xuất ngày càng khan hiếm, càng ngày nhu cầu về các nguồn lực sản xuất vào sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng tăng cao. Trong khi các nguồn lực này càng cạn kiệt thì nhu cầu thị trường ngày càng đa dạng và tăng cao không ngừng. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp phải trả lời đúng các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Việc trả lời không đúng các câu hỏi trên sẽ đẩy các doanh nghiệp bị rơi vào tình trạng lãng phí nguồn lực hoặc không có nguồn lực để sản xuất, dẫn đến không có lợi nhuận, tức là kinh doanh không hiệu quả. Điều này sẽ làm cho các doanh nghiệp biến mất trên thị trường. Hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng rất tốt các nguồn lực của mình. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yêu cầu khách quan để doanh nghiệp có thể thực hiện được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ròng, tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt này. 1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Các hệ số tài chính được coi là các biểu hiện đặc trung nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Mỗi doanh nghiệp khác nhau tại một thời điểm khác nhau sẽ sử dụng các hệ số tài chính khác nhau để lột tả một cách rõ nét và cụ thể về thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Do đó, việc phân tích các hệ số tài chính là một nội dung quan trọng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp. 1.2.2.1 Hệ số khả năng thanh toán  Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn) Công thức: Tài sản ngắn hạn Hệ số thanh toán hiện thời = Nợ ngắn hạn Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn.Vì thế, hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Thông thường, khi hệ số này thấp (nhỏ hơn 1) thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là yếu và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về mặt tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong việc thanh toán nợ. Hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên không phải hệ số này càng cao càng tốt, vì điều này sẽ phản ánh 5 lượng tài sản lưu động tồn trữ quá lớn và bộ phận tài sản này không vận động, không sinh lời, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp chưa cao. Tuy nhiên, hệ số này lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.Chẳng hạn đối với doanh nghiệp thương mại, tài sản lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao. Do đó, khi đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số đặc trưng của các doanh nghiệp cùng ngành.  Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Công thức: Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho Nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp.Ở đây, hàng tồn kho bị loại trừ ra, bởi lẽ trong tài sản lưu động, hàng tồn kho được coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp. Hệ số này được xem như là thước đo phản ánh khả năng thanh toán ngay của các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua chỉ tiêu này, các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích, doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ tiêu này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản lưu động. Do đó, để đánh giá sát hơn các khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn có án thể sử dụng hệ số khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.  Hệ số khả năng thanh toán tức thời Công thức: Tiền + Tương đương tiền Hệ số thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển khoản. Các khoản tương đương tiền là khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thời hạn 3 tháng và không gặp rủi ro lớn. Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bất kỳ lúc nào, bởi vì trong nguồn trang trải các khoản nợ của doanh nghiệp hết sức linh hoạt.  Hệ số thanh toán lãi vay. Lãi vay phải trả là chi phí sử dụng vốn mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả đúng hạn cho chủ nợ. Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Hệ số 6 Thang Long University Library thanh toán lãi vay phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận trước lãi vay và thuế với lãi vay phải trả. Công thức: Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế Lãi vay phải trả trong kỳ Như vậy, hệ số thanh toán lãi vay phản ánh số lợi nhuận trước lãi vay và thuế mà doanh nghiệp có thể bù đắp được số tiền vay phải trả trong kỳ ở mức độ nào. Nếu hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, mức sinh lời của đồng vốn cao đủ để đảm bảo thanh toán lãi vay đúng hạn và ngược lại. 1.2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản a .Hiệu quả sử dụng tài sản chung:  Tỷ suất sinh lời của tài sản: thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh, được xác định bằng công thức: Tỷ suất sinh lời của Lợi nhuận sau thuế = tài sản (ROA) Tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, doanh nghiệp đầu tư 1 đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp.  Số vòng quay tài sản: Tổng doanh thu thuần Tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ kinh doanh, tài sản quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp, nghĩa là các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, sản phẩm dở dang nhiều, làm cho doanh thu doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp. Số vòng quay tài sản =  Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự kiến vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ tiêu này thường được xác định: Suất hao phí của tài sản so Tải sản bình quân = với doanh thu thuần Doanh thu thuần bán hàng Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, doanh nghiệp thu được 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài 7 sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp.  Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế: Phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, được xác định: Suất hao phí của tài sản so Tài sản bình quân = với lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp thu được 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản. Chỉ tiêu này càng thấp nghĩa là hiệu quả sử dụng các tài sản càng cao, hấp dẫn đầu tư. b. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn  Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn: Tỷ suất sinh lời của tài Lợi nhuận sau thuế = sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đầu tư 1 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn bình quân được tính theo kỳ phân tích, được xác định như sau: Tài sản ngắn hạn bình TSNH đầu kỳ + TSNH cuối kỳ = quân 2  Số vòng quay của tài sản ngắn hạn: Số vòng quay của tài sản Doanh thu thuần = ngắn hạn Tài sản ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng tốt. Hoặc cho biết 1 đồng giá trị tài sản ngắn hạn đầu tư trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ, chỉ tiêu này cao thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận.  Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu: Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản ngắn hạn. Đó là căn cứ để đầu tư tài sản ngắn hạn cho phù hợp. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao. Suất hao phí Giá trị tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ = của tài sản ngắn hạn Doanh thu thuần trong kỳ so với doanh thu 8 Thang Long University Library  Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế: Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận = Tài sản ngắn hạn bình quân Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng dự toán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận như mong muốn.  Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn còn được xác định qua công thức: Tỷ suất sinh lời = Số vòng quay của x Tỷ suất sinh lời của tổng của TSNH TSNH doanh thu thuần Như vậy, muốn chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn cao thì cần phải có các biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản ngắn hạn và tỷ suất sinh lời của tổng doanh thu thuần.  Số vòng quay của hàng tồn kho: Số vòng luân chuyển của Giá vốn hàng bán = hàng tồn kho Hàng tồn kho bình quân Trong đó: HTK đầu kỳ + HTK cuối kỳ Hàng tồn kho bình quân = 2 Số vòng luân chuyển của hàng tồn kho cho biết vốn đầu tư cho hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hàng tồn kho vận động tốt. Đó là một nhân tố góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp. Công thức xác định: Thời gian 1 vòng quay 360 = của hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho Để biết được doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư cho hàng tồn kho, ta dựa vào chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho được xác định bằng công thức: Hàng tồn kho bình quân Hệ số đảm nhiệm = hàng tồn kho Tổng doanh thu thuần c. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn  Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn: Tỷ suất sinh lời Lợi nhuận sau thuế = của tài sản dài hạn Tài sản dài hạn bình quân 9 Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng giá trị tài sản dài hạn bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp càng tốt, đó là nhân tố hấp dẫn các nhà đầu tư.  Sức sản suất của tài sản dài hạn: Sức sản xuất của tài sản Doanh thu thuần = dài hạn Giá trị tài sản dài hạn bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, các tài sản dài hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao sẽ càng góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất của tài sản dài hạn, chứng tỏ tài sản dài hạn hoạt động tốt hay chưa tốt, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó: Giá trị tài sản dài hạn bình = quân trong kỳ Giá trị TSDH đầu kỳ + Giá trị TSDH cuối kỳ 2  Suất hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu: Suất hao phí của tài sản Giá trị TSDH bình quân trong kỳ = dài hạn so với doanh thu Doanh thu thuần Suất hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản dài hạn. Đây là căn cứ để đầu tư tài sản dài hạn cho phù hợp. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp.  Suất hao phí của tài sản dài hạn so với lợi nhuận: Công thức xác định: Suất hao phí của tài sản Giá trị TSDH bình quân = dài hạn so với lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản dài hạn. Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, và đó là căn cứ để đầu tư tài sản dài hạn cho phù hợp. Đây cũng là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn mức lợi nhuận như mong muốn.  Tỷ suất sinh lời của tài sản cố định: Tỷ suất sinh lời của tài Lợi nhuận sau thuế = sản cố định Giá trị còn lại TSCĐ bình quân Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng giá trị TSCĐ sử dụng trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiêp là tốt, đó là nhân tố hấp dẫn các nhà đầu tư. 10 Thang Long University Library  Sức sản xuất của tài sản cố định: Sức sản xuất của tài sản cố định = Doanh thu thuần Giá trị TSCĐ bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng giá trị TSCĐ đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất của TSCĐ, chỉ tiêu đạt càng cao chứng tỏ tài sản cố định hoạt động tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Trong đó: Giá trị TSCĐ bình quân trong kỳ = Giá trị TSCĐ đầu kỳ + Giá trị TSCĐ cuối kỳ 2  Suất hao phí của tài sản cố định: Suất hao phí của tài sản Giá trị TSCĐ bình quân = cố định Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản cố định, đó là căn cứ để đầu tư tài sản cố định cho phù hợp nhằm đạt được doanh thu như mong muốn. 1.2.2.3.Hiệu quả sử dụng nguồn vốn  Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE): Công thức xác định: Tỷ suất sinh lời của vốn = Lợi nhuận sau thuế chủ sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao, càng biểu hiện xu hướng tích cực, giúp các nhà quản trị có thể huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp.  Hiệu quả sử dụng vốn vay:  Hiệu quả sử dụng lãi vay: Hiệu quả sử dụng lãi vay = Lợi nhuận kế toán trước thuế + Chi phí lãi vay Chi phí lãi vay Chỉ tiêu này phản ánh độ an toàn, khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn vay càng tốt.  Tỷ suất sinh lời của tiền vay: Tỷ suất sinh lời của tiền Lợi nhuận sau thuế x 100 = vay Tiền vay bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp sử dụng 100 đồng tiền vay phục vụ cho hoạt động kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sinh doanh tốt, đây là nhân tố hấp 11 dẫn nhà quản trị đưa ra quyết định vay tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cũng chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp. 1.2.2.4.Hiệu quả sử dụng chi phí:  Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán: Tỷ suất sinh lời của giá Lợi nhuận gộp về bán hàng = vốn hàng bán Giá vốn hàng bán Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán cho biết trong kỳ, doanh nghiệp đầu tư 1 đồng giá vốn hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện các mặt hàng kinh doanh có lời nhất, do vậy doanh nghiệp càng đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ. Chỉ tiêu này thường phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành nghề cụ thể.  Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng: Tỷ suất sinh lời của chi Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh = phí bán hàng Chi phí bán hang Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí bán hàng.  Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp: Tỷ suất sinh lời của chi = phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Chi phí quản lý doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí quản lý.  Hiệu quả sử dụng lao động  Doanh thu bình quân một lao động.: Doanh thu bình quân Doanh thu = một lao động Tổng số lao động Chỉ tiêu này đánh giá một lao động có thể làm ra bao nhiêu đồng doanh thu.  Mức sinh lời của một lao động: Mức sinh lợi của một Lợi nhuận = lao động Tổng số lao động Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của mỗi người lao động vào lợi nhuận. 1.3. Nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.3.1. Nhân tố chủ quan 12 Thang Long University Library Mỗi biến động của một nhân tố thuộc về nội tại doanh nghiệp đều có thể ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh, làm cho mức độ hiệu quả của quá trình sản xuất của doanh nghiệp thay đổi theo cùng xu hướng của nhân tố đó. 1.3.1.1. Nguồn nhân lực Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đó là tổng hợp các kỹ năng, mức độ đào tạo, trình độ giáo dục có sẵn tạo cho một cá nhân có khả năng làm việc và đảm bảo năng suất lao động. Như vậy, nguồn vốn nhân lực của doanh nghiệp là lượng lao động hiện có, cùng với nó là kỹ năng, tay nghề, trình độ đào tạo, tính sáng tạo và khả năng khai thác của người lao động. Nguồn nhân lực không phải là cái sẽ có mà là cái đã có sẵn tại doanh nghiệp, thuộc sự quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Do đó, để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải hết sức lưu tâm với nhân tố này. Vì nó làm chất xám, là yếu tố trực tiếp tác động lên đối tượng lao động và tạo ra sản phẩm và kết quả kinh doanh, mang tính ảnh hưởng quyết định đối với sự tồn tại và hưng thịnh của doanh nghiệp. Trong đó, trình độ tay nghề của người lao động trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, do đó trình độ tay nghề của người lao động và ý thức trách nhiệm trong công việc sẽ nâng cao được năng suất lao động, đồng thời tiết kiệm và giảm được định mức tiêu hao nguyên vật liệu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Bên cạnh lực lượng lao động, trình độ tổ chức quản lý của cán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ cũng tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp yêu cầu phải có kiến thức, có năng lực và nhạy cảm đối với thị trường. Cần tổ chức phân công lao động hợp lý giữa các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng đúng người, đúng việc sao cho tận dụng được năng lực, sở trường, tính sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên, nhằm tạp ra sự thống nhất hợp lý trong tiến trình thực hiện nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần áp dụng các hình thức trách nhiệm vật chất, sử dụng các đòn bẩy kinh tế thưởng phạt nghiêm minh để tạo động lực thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn trong phạm vi trách nhiệm của mình, tạo ra được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra, từ đó đóng góp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 1.3.1.2 Công tác tổ chức quản lý Đây là nhân tố liên quan tới việc tổ chức, sắp xếp các bộ phận, đơn vị thành viên trong doanh nghiệp. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh thì nhất thiết yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với chức năng cũng như quy mô của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Qua đó nhằm phát huy tính năng động, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và nâng cao chế độ trách 13 nhiệm đối với nhiệm vụ được giao của từng bộ phận, từng đơn vị thành viên trong doanh nghiệp. Công tác quản lý phải đi sát với thực tế sản xuất kinh doanh, nhằm tránh tình trạng khập khiễng, thiếu nhất quán giữa kế hoạch và thực hiện. Hơn nữa, sự gọn nhẹ và tinh giảm của cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. 1.3.1.3.Quản lý và sử dụng nguyên vật liệu Dự trữ nguyên vật liệu, hàng hóa quá nhiều hay quá ít đều có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh.Vấn đề đăt ra là phải dự trữ một lượng nguyên liệu hợp lý sao cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Do khi thu mua hay dự trữ quá nhiều nguyên liệu, hàng hóa sẽ gây ứ đọng vốn và thủ tiêu tính năng động của vốn lưu động trong kinh doanh. Trong khi dự trữ quá ít thì không đảm bảo sự liên tục của quá trình sản xuất và thích ứng với nhu cầu của thị trường.Điều này dĩ nhiên ảnh hưởng không tốt đến quá trình sản xuất cũng như công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Hơn nữa, về mặt bản chất thì nguyên vật liệu là một bộ phận của tài sản lưu động, vậy nên tính năng động và linh hoạt trong sản xuất kinh doanh là rất cao. Do vậy tính gợp lý khi sử dụng nguyên vật liệu ở đây thể hiện qua: khối lượng dự trữ phải nằm trong mức dự trữ cao nhất và thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất cũng như lưu thông hàng hóa được thông suốt; cơ cấu dự trữ hàng hóa phải phù hợp với cơ cấu lưu chuyển hàng hóa, tốc độ tăng của sản xuất phải gắn liền với tốc độ tăng của mức lưu chuyển hàng hóa. Ngoài ra, yêu cầu về tiết kiệm chi phí nguyên liệu trong sản xuất kinh doanh cũng cần được đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, qua đó nhằm giảm bớt chi phí trong giá thành sản phẩm.Như vậy, việc tiết kiệm nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 1.3.1.4. Nguồn vốn và trình độ quản lý, sử dụng vốn Nguồn vốn là một nhân tố biểu thị tiềm năng, khả năng tài chính hiện có của doanh nghiệp. Do đó, việc huy động vốn, sử dụng và bảo toàn vốn có một vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải chú trọng ngay từ việc hoạch định nhu cầu về vốn làm cơ sở cho việc lựa chọn phương án kinh doanh, huy động các nguồn vốn hợp lý trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn lực sẵn có. Từ đó, tổ chức chu chuyển, tái tạo nguồn vốn ban đầu, bảo toàn và phát triển nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì việc bảo toàn và phát triển vốn của các doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Đây là yêu cầu thiết yếu của mỗi doanh nghiệp, vì đó là điều kiện cần thiết cho việc duy trì, phát 14 Thang Long University Library triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh.Muốn đạt hiệu quả kinh tế và phát triển nguồn vốn hiện có thì trước hết, các doanh nghiệp phải bảo toàn được vốn của mình. Xét về mặt tài chính thì bảo toàn vốn của doanh nghiệp là bảo toàn sức mua của vốn vào thời điểm đánh giá, mức độ bảo toàn vốn so với thời điểm cơ sở (thời điểm gốc) được chọn. Còn khi xét đến mặt kinh tế, tức là bảo đảm khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với thời điểm cơ sở, về khía cạnh pháp lý thì chính là bảo đảm tư cách kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc huy động, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn có hiệu quả sẽ góp phần làm tăng sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. 1.3.1.5. Nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật Trên thực tế, cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện quy mô và là yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự hoạt động của doanh nghiệp. Đó là toàn bộ nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị… nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Nhân tố này cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, vì nó là yếu tố vật chất ban đầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Tại đây, yêu cầu đặt ra là ngoài việc khai thác triệu để cơ sở vật chất đã có, còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu bổ, sửa chữa và tiến tới hiện đại hóa, đổi mới công nghệ của máy móc thiết bị. Từ đó nâng cao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả kinh tế ngày càng được nâng cao. 1.3.1.6. Thị trường Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hàng hóa của mình thông qua thị trường.Thị trường thừa nhận hàng hóa đó có cũng chính là người mua chấp nhận nó phù hợp với nhu cầu của xã hội. Ngược lại, người mua không chấp nhận tức là sản phẩm của doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu của người mua về chất lượng, thị hiếu, giá cả… và như vậy, doanh nghiệp sẽ bị lỗ. Bởi vậy, để hoạt động tốt hơn, tiêu thụ được nhiều hàng hóa, lợi nhuận tăng thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hóa bắt buộc phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu khả năng cung ứng, nhu cầu của thị trường, làm cơ sở để dự đoán, cho phép doanh nghiệp tự đề ra phương hướng phát triển, cạnh tranh đối với các đối thủ, sử dụng tốt các nguồn lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu và biết được thế đứng của mình trong xã hội, đồng thời tìm và khắc phục những nhược điểm tồn tại, nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. 1.3.1.7.Chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng Việc nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng là yêu cầu khách quan của môi trường cạnh tranh, cũng như sự phát triển của kinh tế thị trường.Nhưng chính 15 nhu cầu khách quan này thể hiện quan điểm và văn hóa riêng của mỗi doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, cũng như nét đặc trưng của nền kinh tế. Dịch vụ chăm sóc khách hàng được biểu hiện thông qua việc thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng với những phương tiện phục vụ hiện đại, thái độ nhiệt tình, lịch sự. Từ đó góp phần thu hút khách hàng, tăng nhanh doanh số tiêu thụ và nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh. 1.3.1.8.Khoa học, kỹ thuật công nghệ Ngày nay, mọi người, mọi ngành, mọi cấp đều có thể nhận thấy sự ảnh hưởng của khoa học kỹ thuạt đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Trước thực trạng đó, để tránh tụt hậu, một trong những mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhằm đạt hiệu quả cao. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốn thắng thế trong cạnh tranh thì một yếu tố cơ bản là phải có trình độ khoa học công nghệ cao, thỏa mãn nhu cầu thị trường cả về số lượng, chất lượng và thời gian. Để đạt được mục tiêu này, yêu cầu cần đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để cơ sở vật chất đã có (nhà xưởng, nhà kho, phương tiện vật chất, kỹ thuật, máy móc thiết bị), còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu sửa, sửa chữa và tiến tới hiện đại hóa công nghệ máy móc, thiết bị, từ đó nâng cao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả ngày càng cao. 1.3.2. Nhân tố khách quan 1.3.2.1.Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, của ngành Đây là một nhân tố có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tế.Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, do vậy doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất thì nhất thiết phải có một môi trường kinh doanh lành mạnh. Tuy nhiên, trong một nền sản xuất công nghiệp có trình độ phân công và hợp tác lao động cao thì mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp chỉ là một mắt xích trong một hệ thống thống nhất. Nên khi chỉ có sự thay đổi về lượng và chất ở bất kỳ mắt xích nào trong hệ thống cũng đòi hỏi và kéo theo sự thay đổi của các mắt xích khác, đó là sự ảnh hưởng giữa các ngành, các doanh nghiệp có liên quan đến hiệu quả kinh tế chung. Thực chất, một doanh nghiệp, một ngành muốn phát triển và đạt hiệu quả kinh tế đơn lẻ một mình là điều không tưởng. Bởi vì quá trình sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư – sản xuất – tiêu thụ là liên tục và có mối quan hệ tương ứng giữa các ngành cung cấp tư liệu lao động, đối tượng lao động và các ngành tiêu thụ sản phẩm. Do vậy để đạt hiệu quả cao cần gắn với sự phát triển của nền kinh tế, của các ngành và các ngành có liên quan. 1.3.2.2.Mức sống và thu nhập của dân cư, khách hang Thực chất, xét trên một khía cạnh nào đó thì nhân tố này cũng thể hiện sự phát triển và tăng trường của nền kinh tế. Tuy nhiên, do mức độ quan trọng và tính đặc thù 16 Thang Long University Library của nhân tố này nên ta có thể tách ra và xem xét kỹ hơn. Đó là, sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra phải được tiêu thụ, từ đó doanh nghiệp mới có thu nhập và tích lũy. Nếu như thu nhập tình hình tài chính của khách hàng cao thì có thể tốc độ tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp là cao và ngược lại. Đây là một mối quan hệ tỉ lệ thuận, tuy nhiên, mối quan hệ này lại phụ thuộc vào ý muốn của tự thân khách hàng, hay giá cả cũng như chính sách tiêu thụ cụ thể của doanh nghiệp. Hơn nữa, việc tiêu thụ sản phẩm và thực hiện dịch vụ là công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, nó mang lại thu nhập cho các doanh nghiệp và trực tiếp tác động lên hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do vậy, khi phân tích và quản lý kinh tế, các doanh nghiệp phải hết sức lưu ý đến nhân tố này. 1.3.2.3.Cơ chế quản lý và các chính sách của Nhà nước Tại mỗi quốc gia đều có một cơ chế chính trị nhất định, gắn với nó là cơ chế quản lý và các chính sách của bộ máy Nhà nước áp đặt lên quốc gia đó. Sự ảnh hưởng của nhân tố này rất rộng, mang tính bao quát, không những tác động đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân mà nó còn ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp thông qua sự quản lý gián tiếp của Nhà nước. Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp được tự chủ trong sản xuất kinh doanh dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì hiệu quả kinh tế được đánh giá thông qua mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, với mục tiêu là cực đại các khoản thu nhập và giảm thiểu tối đa mức chi phí đầu tư, chứ không chỉ đơn thuần là hoàn thành hay vượt mức kế hoạch đã đề ra. Gắn với từng cơ chế quản lý thì có từng chính sách kinh tế vĩ mô nhất định. Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó nó cũng có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, Nhà nước còn tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua một loạt các công cụ quản lý kinh tế. 1.3.2.4. Nguồn cung ứng và giá cả của nguyên vật liệu Nguyên vật liệu có vai trò tham gia cấu thành nên thực thể của sản phẩm, do đó nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh thường chiếm tỉ trọng lớn mà hầu hết nguyên liệu chính đều có nguồn gốc do mua ngoài. Trong khi tính sẵn có của nguồn cung ứng nguyên vật liệu thường ảnh hưởng phần nào đến kế hoạch và tiến độ sản xuất của doanh nghiệp, giá cả nguyên liệu chính có tác động rất lớn đến giá thành sản phẩm. Vì vậy, sự quan tâm tới giá cả và nguồn cung ứng nguyên vật liệu có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá và phân tích hậu quả kinh tế. Đây là một nhân tố khách quan và nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp. 1.3.2.5.Môi trường cạnh tranh, quan hệ cung – cầu 17 Ngày nay, trong cơ chế thị trường thì sự cạnh tranh là rất gay gắt và quyết liệt. Nó mang tính chắt lọc và đào thải cao. Do vậy nó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, qua đó nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình và đứng vững trên thương trường. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi phương án nhằm giảm bớt chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm nếu không muốn đi đến bờ vực của sự phá sản và giải thể. Dù muốn hay không, mỗi doanh nghiệp đều bị cuốn vào sự vận động của môi trường kinh doanh. Do vậy, để không bị cuốn trôi thì nhất định các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, mối quan hệ cung – cầu trên thị trường cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với cả đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, mà cụ thể là giá cả trên thị trường. Nếu sự lên xuống của giá cả nguyên liệu đầu vào không đồng nhất với sản phẩm bán sẽ gây lên nhiều bất lợi cho doanh nghiệp. Khi đó thu nhập của doanh nghiệp sẽ không được đảm bảo, tương ứng với đó là giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh. Dù đây là những nhân tố khách quan nhưng doanh nghiệp cần phải theo dõi và nghiên cứu kỹ lưỡng để có những sách lược phù hợp. 18 Thang Long University Library CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY KINH DOANH THAN TÂY BẮC 2.1. Khái quát về Công ty kinh doanh than Tây Bắc 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển  Tên công ty: Công ty kinh doanh than Tây Bắc  Tên viết tắt: Vinacomin  Địa chỉ trụ sở chính: Số 1 - Đường Trần nguyên Hãn - Phường Hồng Hà Thành phố Yên Bái.  Mã số thuế : 0100100689-009  Số điện thoại: (029) 3862437  Fax: (029)3863098 Giới thiệu qua ngành nghề kinh doanh của công ty kinh doanh than Tây Bắc: Công ty kinh doanh than Tây Bắc được Công ty CP kinh doanh than Miền Bắc Vinacomin – Tập đoàn CN Than Khoáng sản Việt Nam giao nhiệm vụ kinh doanh than mỏ trên địa bàn một số tỉnh phía bắc như: Yên Bái; Lào cai; Tuyên quang - Hà Giang. Công ty được sự chỉ đạo, tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt của Công ty Cổ phần kinh doanh than Miền bắc, đặc biệt là sự tạo điều kiện về thị trường và vốn kinh doanh. Là công ty chế biến và kinh doanh than khoáng sản. Hình thức sở hữu vốn: Là công ty cổ phần với 67,44% vốn của Nhà nước. Theo quyết định số 165 QĐTC của UBND tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày 03 tháng 11 năm 1979 quyết định thành lập “Công ty quản lý cung ứng và khai thác than tỉnh Hoàng Liên Sơn”. Trong thời kỳ bao cấp này, công ty có nhiệm vụ cung ứng than theo chỉ tiêu của tỉnh chủ yếu thị trường tỉnh Yên Bái và khai thác mỏ than Hoàng Thắng. Do công ty được tách ra từ công ty than Vĩnh Phú cho nên nguồn vốn một phần được ngân sách của tỉnh cấp và một phần công ty than Vĩnh Phú bàn giao sang. Năm 1991 công ty được đổi tên thành “Công ty quản lý, cung ứng và kinh doanh than Yên Bái” do tỉnh Hoàng Liên Sơn được tách thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Lúc này công ty vẫn có nhiệm vụ cung ứng than theo chỉ tiêu của nhà nước với tinh thần tự chủ nhà nước không bù lỗ. Công ty đã thành lập được 3 trạm cung ứng là: trạm Phố Lu (tỉnh Lào Cai), trạm Yên Bái, trạm than Lào Cai và hai trạm chung chuyển than là trạm Đoan Hùng (tỉnh Vĩnh Phú) và trạm Cổ Loa. Do tình hình chung của ngành than và công ty than Yên Bái nói riêng nhất là tình hình thay đổi của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ này. Để đáp ứng và bắt kịp với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường đang phát triển ở nước ta, ngày 9 tháng 7 năm 1992 bộ năng lượng 19 đã ra quyết định số 332 NL/TCCB-LD “Về việc tiếp nhận công ty quản lý cung ứng và kinh than Yên Bái do tỉnh Yên Bái quản lý giao cho tổng công ty cung ứng than trực tiếp quản lý” và đổi tên thành “Công ty cung ứng than Tây Bắc” kể từ ngày 16 tháng 7 năm 1992. Công ty kinh doanh than Tây Bắc hoạt động với tư cách pháp nhân không đầy đủ, có con dấu riêng, hạch toán kinh tế phụ thuộc và chịu trách nhiệm bảo toàn, phát triển vốn do Công ty Chế biến và Kinh doanh than Miền Bắc giao. Ngày 12 tháng 2 nam 2007 công ty cung ứng than Tây Bắc được đổi tên thành Công ty Kinh doanh than Tây Bắc trực thuộc Công ty cổ phần Kinh doanh than Miền Bắc - Vinacomin thuộc Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Bộ máy tổ chức của đơn vị trực thuộc khi chuyển đổi vẫn được giữ nguyên để hoạt động. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức Công ty kinh doanh than Tây Bắc 2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức công ty. Công ty kinh doanh than Tây Bắc sau những năm trải nghiệm để phù hợp và đáp ứng được nhu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh, công ty tổ chức bộ máy theo trực tuyến chức năng tham mưu gồm ban giám đốc, ba phòng ban, sáu cửa hàng và chạm chế biến kinh doanh than. Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức công ty Giám đốc Phó Giám đốc Phòng tổ chức hành chính Trạm CB và KD than Yên Lãng Phòng kế hoạch và thị trường Phòng kế toán thống kê Trạm Trạm Trạm Cửa hàng Cửa CB và KD than CB và KD than than Cam hàng than Phố Yên Bái Lào Cai CB và KD than Hà Tuyên Đuờng Lu Ghi chú: Mối quan hệ chỉ đạo, lãnh đạo (Nguồn: Phòng tổ chức hành chính) 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -