Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần tràng an

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Tràng An 1 LỜI MỞ ĐẦU Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường ngày nay, mọi doanh nghiệp đều gặp phải những khó khăn thuận lợi nhất định. Vì vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng đều phải xây dựng cho mình mục tiêu hoạt động kinh doanh. Đó là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và ngày càng nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để có thể đạt được mục tiêu này họ phải vận dụng, khai thác triệt để các cách thức, các phương pháp sản xuất kinh doanh, kể cả thủ đoạn để chiếm lĩnh thị trường, hạ chi phí sản xuất, quay vòng vốn nhanh… dĩ nhiên chỉ trong khuôn khổ pháp luật hiện hành cho phép. Có thể nói, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với cả xã hội. Tuy nhiên, với trình độ còn thấp, tiềm lực của các doanh nghiệp còn yếu hầu như trên tất cả các mặt. Làm thế nào để có đủ vốn, để sử dụng có hiệu quả về vốn và các nguồn lực khác, để đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng, để thoát khỏi nguy cơ phá sản và chiến thắng trên thị trường cạnh tranh đang là bài toán khó với tất cả các doanh nghiệp. Công ty cổ phần Tràng An đang ở trong hoàn cảnh đó và mục tiêu nóng bỏng nhất là làm sao để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hơn nữa, để công ty càng phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu. Trong thời gian tìm hiểu ở công ty, em nhận thấy đây là vấn đề thời sự đang được quan tâm của tất cả thành viên trong công ty. Vì vậy, em chọn đề tài: "Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Tràng An" cho chuyên đề thực tập của mình. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một khái niệm rộng, liên quan tới nhiều yếu tố trong quá trình sản xuất. Do thời gian tìm hiểu có hạn nên em chỉ tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề chính dựa trên phân tích kết quả sản xuất kinh doanh và những tồn tại của công ty trong những năm qua để đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 2 Chuyên đề thực tập gồm có 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chương II: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Tràng An Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Tràng An. 3 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH I. KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ - Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. - Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động1. II. HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và việc hội nhập vào các tổ chức tự do hoá mậu dịch đã đưa hoạt động sản xuất kinh doanh của nước ta sang một giai đoạn phát triển mới có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít những khó khăn thử thách. Do đó các doanh nghiệp cần phải đưa ra những chiến thuật kinh doanh hợp lý nhằm mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề đặt ra cho mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Từ trước tới nay, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra tức là giá trị sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh). Khái niệm này lộn giữa hiệu quả với kết quả sản xuất kinh doanh, giữa hiệu quả với mục tiêu kinh doanh2. - Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh doanh, được phản ánh qua nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này là phiến diện chỉ đứng trên giác độ biến động theo thời gian2. 1 2 [1,5] [4,189] 4 Bởi vậy, từ các khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh trên ta có thể đưa ra một khái niệm bao quát hơn. - Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực như lao động, vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… để đạt được các mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã xác định2. 2. Bản chất Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh ta cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu cần thiết của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ kinh doanh. Kết quả được phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh nghiệp, lợi nhuận… và cũng có thể phản ánh bằng chỉ tiêu định lượng như uy tín, chất lượng sản phẩm3. Cần chú ý rằng chỉ tiêu định ra và chỉ tiêu định lượng của một thời kỳ kinh doanh nào đó thường là rất khó xác định bởi nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…Hơn nữa hầu như quá trình sản xuất lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản xuất xong ở một thời kỳ nào đó cũng chưa thể khẳng định được liệu sản phẩm đó có tiêu thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ được và thu được tiền về. Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý rằng trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối. Cần chú ý rằng trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối: tỉ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực. Nếu kết 2 3 [6,58] [5,39[ 5 quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả là phương tiện để có thể đạt được các mục tiêu đó4. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực sự. Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương hướng kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn1. 3. Các quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau song có thể khẳng định trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay mọi doanh nghiệp kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận và khi đề cập đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ta có thể đứng trên các góc độ khác nhau để xem xét. 4 1 [2,595] [4,191] 6 - Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động của từng nhân tố2. - Hiệu quả sản xuất là hiệu quả đạt được trực tiếp sau một quá trình sản xuất tức với một lượng chi phí đầu vào để trực tiếp sản xuất sẽ tạo ra được giá trị đầu ra như thế nào. Sau một chu kỳ sản xuất được thể hiện thông qua doanh thu, giá trị tổng sản lượng hay lợi nhuận3. Tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất, đồng thời là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá có phát triển hay không là nhờ hiệu quả đạt được cao hay thấp. Tuỳ theo phạm vi kết qủa đạt được và chi phí bỏ ra mà có các phạm trù hiệu quả khác nhau hiệu quả kinh doanh, hiệu quả kinh tế -xã hội, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất trong quá trình kinh doanh… Trong nền kinh tế hàng hoá, hiệu quả trực tiếp của các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế quốc dân, còn hiệu quả của ngành hoặc hiệu quả của nền kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế xã hội. Như vậy việc đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế hay xã hội mang tính chất tương đối vì ngay trong một chỉ tiêu cũng phản ánh cả hai mặt hiệu quả kinh tế -xã hội. Hiệu quả kinh tế tăng lên sẽ kéo theo mức tăng của hiệu quả xã hội và ngược lại1. III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong xu thế nền kinh tế các nước hiện nay là mở cửa và hội nhập, các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều và mục đích kinh doanh của các 2 [2,594] [6,62] 1 [6,63] 3 7 doanh nghiệp luôn là tìm kiếm lợi nhuận để bù đắp chi phí sản xuất, tránh những rủi ro gặp phải và để tồn tại và phát triển. Bởi vậy, các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vì những lý do sau đây: - Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể làm tăng khả năng cạnh tranh, đứng vững của doanh nghiệp trên thị trường. Ngoài ra, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình1. - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần giải quyết mối quan hệ giữa tập thể Nhà nước và người lao động. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh làm quỹ phúc lợi tập thể được nâng lên, đời sống người lao động từng bước được cải thiện, nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách Nhà nước tăng2. 2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực như hiện nay có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và bản thân các doanh nghiệp nói riêng: - Đối với nền kinh tế quốc dân thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tận dụng và tiết kiệm được nguồn lực đất nước. Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, đi nhanh vào công nghiệp hoá, hiện đại hóa phát triển kinh tế với tốc độ nhanh. - Đối với bản thân doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp trong kinh tế thị trường. Khi đã xóa bỏ vật cản là chế độ bao cấp, mỗi doanh nghiệp được quyền lợi tự do kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh phải coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là nv trọng tâm hàng đầu. Vì suy cho cùng nó đưa doanh 1 2 [2,601] [6,65] 8 nghiệp đến thành công hay thất bại, có đạt được mục tiêu kinh doanh không, có bảo toàn được vốn không. Nói cách khác hiệu quả sản xuất kinh doanh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp2. IV. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đó chính là việc nâng cao hiệu quả tất cả các hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thấy được sự ảnh hưởng có tính tích cực hay tiêu cực của các nhân tố đó, xây dựng những chiến lược cho doanh nghiệp nhằm tận dụng những thuận lợi và có biện pháp khắc phục những khó khăn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 1. Nhân tố khách quan 1.1. Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là nhân tố khách quan tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trước hết phải kể đến các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu... của Nhà nước. Một thay đổi nhỏ trong chính sách của Nhà nước cũng có thể ánh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp thuộc các ngành vùng kinh tế nhất định. Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, không để các ngành, vùng kinh tế nào phát triển theo xu hướng cung vượt cầu, việc xử lý tốt các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ tỷ giá hối đoái, việc đưa ra các chính sách thuế phù hợp với trình độ kinh tế và đảm bảo tính công bằng,… đều là những vấn đề hết sức quan trọng, tác động rất lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có liên quan1. 1.2. Môi trường pháp lý 2 1 [4,187] [2,60] 9 Môi trường pháp lý gồm: Luật, văn bản dưới luật,… Mọi quy định pháp luật của quốc gia mà rõ ràng, đầy đủ, nhất quán và mở rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tính nghiêm minh của luật pháp thể hiện trong môi trường thực tế ở mức độ nào cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp2. 1.3.Môi trường công nghệ Công nghệ được định nghĩa là tập hợp của các yếu tố phần cứng (thiết bị máy móc) với tư cách là những yếu tố hữu hình và phần mềm (phương pháp, bí quyết, kỹ năng, quy trình…) với tư cách là những yếu tố vô hình. Hiện nay, cùng với nguồn nhân lực, xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ và tình hình ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ trên thế giới cũng như trong nước có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, tức là ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Sự thay đổi của công nghệ có ảnh hưởng tới chu kỳ sống của một sản phẩm hoặc dịch vụ, nó có thể kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, do đó hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao. Nhìn chung môi trường công nghệ có ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp3. 2. Nhân tố chủ quan Là nhóm nhân tố mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được cũng như có thể điều chỉnh ảnh hưởng của nó. 2.1. Lực lượng lao động 2 3 [2,609] [7,63] 10 Người ta thường nhắc đến luận điểm ngày nay khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp. Áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết định để tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế, máy móc thiết bị dù tối tân đến đâu mà không có con người sử dụng thì không thể phát huy hết tác dụng. Ngược lại nếu có máy móc thiết bị hiện đại mà con người không có trình độ sử dụng, trình độ kỹ thuật thì không những không tăng được hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn tốn kém chi phí bảo dưỡng, sửa chữa vì những sai lầm, hỏng hóc do không biết sử dụng gây ra. Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức, đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ kỹ thuật cao. Điều này chứng tỏ vai trò rất quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh4. 2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng cho khách hàng sản phẩm tốt, thoả mãn cả những nhóm khách hàng đòi hỏi sản phẩm có thuộc tính đặc biệt dẫn đến tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh5. 2.3. Nhân tố quản trị doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường, càng ngày nhân tố quản trị càng đóng vai trò quan trọng với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Các lợi thế về chất lượng và sự khác biệt hoá sản phẩm giá cả và tốc độ cung ứng đảm bảo cho doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào nhãn quan và khả năng quản trị của các nhà quản lý. Đến nay, người ta khẳng định ngay cả đối với việc đảm bảo và ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng nhiều của nhân tố quản trị chứ không 4 5 [2,602] [2,603] 11 phải của nhân tố kỹ thuật. Ngoài ra, việc lựa chọn bộ máy quản trị phù hợp với từng doanh nghiệp sẽ giúp cho quá trình sản xuất trôi chảy, có thể kết hợp các nguồn lực đầu vào tối ưu nhất để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh1. V. CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. 1. Các phương pháp xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh Phương pháp xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh gồm những nội dung lý luận và phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể mà áp dụng. Sau đây là một số phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh chủ yếu: 1.1. Phương pháp chi tiết Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướng khác nhau. Phương pháp chi tiết dùng để đánh giá chính xác kết quả đạt được. Người ta chi tiết số liệu để phân tích: chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu, chi tiết theo thời gian, chi tiết theo địa điểm. 1.2. Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh nhằm mục đích đánh giá hiệu quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Các chỉ tiêu phân tích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phân tích. Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích, người ta thường tiến hành so sánh bằng hai cách: so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối. Các chỉ tiêu đưa ra so sánh cần phải thống nhát với nhau: - Đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu - Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu 1 [2,605] 12 - Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính của các chỉ tiêu, cả về số lượng, thời gian và giá trị1. 1.3. Phương pháp loại trừ Phương pháp loại trừ là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác. Phương pháp này là sự kết hợp của hai phương pháp: phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch1. 2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp - Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh: Công thức: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh = Error! Chỉ tiêu này cho ta thấy hiệu quả sử dụng một đồng vốn kinh doanh bỏ ra được bao nhiêu tỷ đồng lợi nhuận2. - Tỷ suất lợi nhuận so với doanh thu: Công thức: tỷ suất lợi nhuận với doanh thu = Error! Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng doanh thu đạt được thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt2. - Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí: Công thức: Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí = Error! Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận2. 2.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh lĩnh vực hoạt động: 1 [3,14-20] [3,14-20] 2 [2,614-623] 1 13 2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn - Số vòng quay toàn bộ vốn: Công thức: Số vòng quay vốn kinh doanh = Error! Chỉ tiêu này phản ánh: bình quân trong kỳ kinh doanh, vốn kinh doanh quay được bao nhiêu vòng. Số vòng quay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại1. - Hiệu quả sử dụng vốn cố định: có hai chỉ tiêu sau: + Sức sản xuất của vốn cố định = Error! Chỉ tiêu này cho thấy năng suất của vốn cố định, cứ một đồng vốn cố định bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu. + Sức sinh lời của vốn cố định = Error! Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn cố định bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận1. - Hiệu quả sử dụng vốn lưu động: có hai chỉ tiêu sau: + Sức sản xuất của vốn lưu động = Error! Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định một đồng vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu: + Sức sinh lời của vốn lưu động = Error! Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao1. 2.2.2. Hiệu quả sử dụng lao động: có các chỉ tiêu sau: - Năng suất lao động bình quân = Error! Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất kinh doanh của lao động trong kỳ. - Sức sinh lời của lao động bình quân = Error! 1 [2,614-623] 1 1 14 Chỉ tiêu này phản ánh cứ một lao động thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận1. 2.2.3. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán - Tỷ suất tài trợ = Error! Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. - Tỷ suất thanh toán hiện hành (ngắn hạn) = Error! Chỉ tiêu này cho biết khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp. Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ là 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính của doanh nghiệp là khả quan. - Tỷ suất thanh toán tức thời = Error! Chỉ tiêu này > 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, nếu < 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán công nợ. - Tỷ suất thanh toán của vốn lưu động = Error! Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động nếu chỉ tiêu này tính ra > 0,5 hoặc < 0,1 đều không tốt2. 1 2 [2,614-623] [3,268-271] 15 CHƯƠNG II TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY 1. Tên công ty, địa điểm, phạm vi hoạt động - Tên công ty: công ty cổ phần tràng an - Tên giao dịch quốc tế: Trangan joint-stock corporation - Địa điểm công ty: Số 30 - Phùng Chí Kiên - quận Cầu Giấy - Hà Nội - Tel: 04. 7564459 - 04. 7564184 - 04.7564976 - Fax: 8447564138 - Phạm vi hoạt động: Công ty cổ phần Tràng An hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam, có thể mở thêm nhà máy, chi nhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật 2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Công ty bánh kẹo Tràng An là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội, là một đơn vị kinh tế độc lập được thành lập theo thông báo số 1113 CP (21/11/1992) của Bộ Công nghiệp nhẹ và QĐ 2138/QĐUB (08/12/1992) của UBND Thành phố Hà Nội. Công ty được đặt tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy - Hà Nội và có nv chủ yếu là sản xuất các loại bánh kẹo nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhân dân thủ đô và cả nước sản phẩm của công ty từ lâu đã không còn xa lạ với người tiêu dùng trên toàn quốc và đến tháng 10 năm 2004 công ty đã chuyển thành Công ty cổ phần Tràng An theo quyết định số: 6238/QĐUB ngày 24/9/2004 của UBDN thành phố Hà Nội. Vốn điều lệ của công ty là: 22,2 tỷ đồng, trong đó vốn Nhà nước chiếm 51,7%. Công ty có giấy phép kinh doanh số 0103005601 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 01 tháng 10 năm 2004. Để có một chỗ đứng vững vàng trên thị trường như ngày hôm nay, công ty đã phải trải qua không ít những khó khăn thử thách. 16 - Công ty có nguồn gốc từ xí nghiệp kẹo Hà Nội hợp với xí nghiệp Mỳ Nghĩa Đô. Ngay từ buổi đầu tiên đó, công ty đã vấp phải nhiều khó khăn, trở ngại. Trong khi các đơn vị khác vẫn được hưởng sự trợ cấp thì công ty phải tự đi lo tìm kiếm nguồn hàng, tìm kiếm nơi tiêu thụ. Đầu vào không đủ, đầu ra lại chậm, vốn thiếu trầm trọng (lúc công ty chỉ có 200 triệu đồng tiền vốn) tưởng chừng công ty không thể vượt qua nổi. Trong điều kiện kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, siêu lạm phát xảy ra thường xuyên, công ty lại đứng trước những thử thách mới. - Nhưng với chiến lược phát triển đúng đắn, với đội ngũ cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao (80% có bằng đại học) và một lớp công nhân lành nghề, có trách nhiệm, công ty đã dần vượt qua được cơn khủng hoảng. Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty không chỉ còn bó gọn trong phạm vi toàn quốc mà công ty còn xuất khẩu sản phẩm của mình ra thị trường thế giới. Số lượng và chủng loại sản phẩm của công ty ngày càng tăng, nếu như ban đầu công ty chỉ sản xuất 5 mặt hàng đơn điệu thì đến nay chủng loại mặt hàng của công ty đã lên tới hàng chục loại, trong đó sản phẩm kẹo hương cốm và bánh kem quế là hai sản phẩm nổi tiếng rất được ưa chuộng và đã đem lại cho công ty một khoản lợi nhuận khá lớn. Có thể nói giai đoạn từ năm 1992 trở lại đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất của công ty. Sự chủ động hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh đã giúp công ty phát triển nhảy vọt về mọi mặt: + Về mặt hàng: 40 mặt hàng với chất lượng cao, chủng loại phong phú, mẫu mã đa dạng. Đặc biệt kẹo hương cốm, kẹo sôcôla, bánh kem quế của công ty rất được ưa chuộng. + Về trình độ sản xuất kinh doanh: Thay thế hai dây chuyền lạc hậu của những năm 60 là dây chuyền hiện đại của Đài Loan, Đức, Ba Lan. Đến năm 2000 công ty đầu tư thêm hai dây máy sản xuất Snack, bánh kem quế và bánh quy cao cấp. 17 + Về sản lượng: Do mở rộng quy mô và nâng cao sản xuất cho nên sản lượng của công ty ngày một tăng. Nếu như năm 1992, công ty sản xuất được 2700 tấn bánh kẹo các loại thì năm 2005 vừa qua, công ty đã sản xuất được 5200 tấn các loại. + Về doanh số: Từ một công ty hàng năm thu được không quá 12 tỷ đồng tiền vốn nay công ty đã đạt được doanh số hơn 56 tỷ đồng 1 năm trong đó lợi nhuận chiếm 10%. Vốn tự có của công ty theo đó cũng không ngừng tăng lên. Hiện nay công ty đang nắm trong tay khoảng 20 tỷ đồng vốn lưu động một con số đáng kể với một công ty thuộc loại hình vừa và nhỏ. Nhìn lại chặng đường tồn tại và phát triển đầy khó khăn gian khổ mới thấy hết được những nỗ lực phi thường của công ty để khẳng định mình. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, do thị trường có nhiều biến động nên việc tiêu thụ sản phẩm của công ty có phần chậm lại ngoài ra công ty còn phải đối đầu với những thách thức mới khó khăn hơn đó là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các đơn vị sản xuất trong nước, các doanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,… Tình hình này lại đòi hỏi công ty phải có những sách lược mới. Hiện nay công ty đang tăng cường công tác thị trường như: nắm vững bán hàng, nghiên cứu thị trường bánh kẹo cao cấp để không ngừng mở rộng quy mô sản xuất và đa dạng hoá mặt hàng. Chúng ta mong rằng với những sách lược mới công ty có thể đứng vững và trong tương lai tiếp tục cạnh tranh và phát triển mạnh hơn. 3. Chức năng và nhiệm vụ của công ty Qua phần trên chúng ta có thể thấy rằng Công ty cổ phần Tràng An có chức năng và nhiệm vụ chính là sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm bánh kẹo, đây là những mặt hàng chủ đạo trong sản xuất kinh doanh của công ty, đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống nhân dân. Công ty cổ phần Tràng An được phép kinh doanh trong các lĩnh vực sau: 18 - Sản xuất kinh doanh các loại sản phẩm bánh kẹo để cung cấp cho thị trường. - Xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài những mặt hàng mà công ty kinh doanh. - Sản xuất kinh doanh các sản phẩm công nghiệp thực phẩm vi sinh. - Dịch vụ đầu tư, tư vấn, tạo nguồn vốn đầu tư, nghiên cứu đào tạo, chuyển giao công nghệ, thiết kế, chế tạo, xây lắp đặt thiết bị và công trình chuyên ngành công nghiệp thực phẩm. - Kinh doanh khách sạn, chung cư, nhà hàng, đại lý cho thuê văn phòng, du lịch, hội chợ, triển lãm, thông tin, quảng cáo. - Tham gia mua, bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật Việt Nam về chứng khoán. Ngoài ra, Công ty còn có nhiệm vụ sau: - Bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao. - Thực hiện các nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với Nhà nước. - Thực hiện phân phối theo lao động: chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và cho cán bộ công nhân viên, nâng cao trình độ chuyên môn. Như vậy, mục tiêu chung của công ty là đảm bảo thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, đồng thời không ngừng phát triển quy mô doanh nghiệp, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty. 4. Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần Tràng An 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý Công ty cổ phần Tràng An 19 TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC Phòng Kế hoạch sản xuất Văn phòng Phòng Marketing Phòng Nghiên cứu và phát triển Phòng QC (KCS) Phòng Tài chính kế toán Phòng Kỹ thuật cơ điện - Kho NL, TP - Bốc xếp XN Kẹo 1 Sản xuất kẹo cứng XN Kẹo 2 Sản xuất kẹo mềm bánh Pháp XN Bánh 1 SX bánh kem quế SX bánh quy XN Bánh 2 Sản xuất Snack Phân xưởng cơ điện Cơ khí hơi 20 Lò
- Xem thêm -