Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm cà phê tại công ty cà phê buôn hồ

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN THỨ NHẤT MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt. các doanh nghiệp muốn tồn tại đứng vững trên thị trường, nuốn sản phẩm của mình có thể cạnh tranh được với các sản phẩm của doanh nghiệp khác thì không còn cách nào phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả. Do vậy, tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề đang được rất nhiều các doanh nghiệp quan tâm chú trọng. Khi sản xuất kinh doanh co hiệu quả cao, doanh thu cao thì doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường sản xuất hay tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mình, cũng như mua sắm trang thiết bị máy móc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất hay kinh doanh để thay thế máy móc thiết bị cũ, lạc hậu, nâng cao đời sống của anh chị em công nhân hay nhân viên của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thực hiện được các yếu tố trên thì mới có thể mạnh dạn và tự tin đứng ra cạnh tranh cùng với các doanh nghiệp khác ở trong nước hay nước ngoài về cùng sản phẩm, dịch vụ kinh doanh Nền kinh tế thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Là một doanh nghiệp sản xuất trực thuộc Tập đoàn Vina cà phê Việt Nam, Công ty cà phê Buôn Hồ cũng gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp cùng ngành trong và ngoài nước. Vì vậy, muốn đứng vững trên thị trường, đòi hỏi những nhà quản lý luôn phải thường xuyên cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Nắm được vấn đề này, Ban lãnh đạo Công ty đã có những biện pháp quản lý chặt chẽ các khâu thu mua, bảo quản, dự trữ và các chi phí khác để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Bởi vậy trong thời gian thực tập, tìm hiểu thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty cà phê Buôn Hồ, với những kiến thức đã tích luỹ được cùng với sự giúp đỡ tận tình của Thạc sỹ Lê Thanh Hà, ban lãnh đạo công ty cũng như các 1 cán bộ nhân viên. Chúng em lựa chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm cà phê tại Công ty cà phê Buôn Hồ” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng công tác sản xuất kinh doanh sản phẩm cà phê tại Công ty cà phê Buôn Hồ trong thời gian qua. - Xác định những nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm cà phê tại Công ty cà phê Buôn Hồ trong thời gian qua. - Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm cà phê tại Công ty cà phê Buôn Hồ trong thời gian tới. 1.3Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu tất cả các nhân tố, các mối quan hệ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm cà phê tại Công ty cà phê Buôn Hồ. 1.4 Phạm vi nghiên cứu 1.4.1 Không gian nghiên cứu Đề tài được triển khai thực hiên tại Công ty cà phê Buôn Hồ tại km2 đường Trần Hưng Đạo, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian nghiên cứu. 1.4.2 Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu 3 năm ( từ năm 2009 đến năm 2011) Thời gian triển khai thực tập: 5/10 đến ngày 5/11/2012 2 PHẦN THỨ HAI CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, nguyên vật liệu... nên oanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau. Đối với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải trú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu. Tuy nhiên để hiểu rõ bản chất của hiệu quả cũng cần phân biệt khái niệm hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh . - Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh sự khai thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp 2.1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế. Để đạt được mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp phải chú trọng và phát huy tối đa năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí. Tuy vậy, để hiểu rõ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phân biệt hai khái niệm Hiệu quả và Kết quả sản xuất kinh doanh. Kết quả là những cái thu được sau một khoảng thời gian sản xuất kinh doanh được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật ( tấn, tạ, kg..) và đơn vị giá trị 3 (đồng, triệu đồng…). Kết quả còn phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất hay phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh. Việc xác định hiệu quả kinh doanh và hao phí nguồn lực gắn với một thới kì cụ thể nào đó đều rất khó xác định một cách chính xác. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt được lợi nhuận tối đa và chi phí tối thiểu. 2.1.1.3 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh Tuỳ theo cách tiếp cận có thể nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh theo các cách phân loại khác nhau, cụ thể: - Hiệu quả tổng hợp: là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định. Hiệu quả tổng hợp bao gồm: + Hiệu quả kinh tế: mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích kinh tế đó theo mục tiêu đặt ra. + Hiệu quả kinh tế xã hội: là hiệu quả mà chủ thể nhận được trong quá trình thực hịên các mục tiêu xã hội như giải quyết việc làm, nộp ngân sách nhà nước, vấn đề môi trường… - Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp: + Hiệu quả trực tiếp: được xem xét trong phạm vi một dự án, một công ty. + Hiệu quả gián tiếp: là hiệu quả mà đối tượng nào đó tạo ra cho đối tượng khác. - Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: + Hiệu quả tuyệt đối: được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí + Hiệu quả tương đối: đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí. - Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài: + Hiệu trước mắt: là hiệu quả được xem xét trong giai đoạn ngắn, lợi ích trước mắt, mang tính tạm thời. + Hiệu quả lâu dài: mang tính chiến lược lâu dài. 4 Phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh. 2.1.1.4 Một số chỉ tiêu xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan tâm lớn nhất của tất cả các doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh - Hiệu quả kinh doanh tổng hợp. Để dánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của toàn doanh nghiệp người ta thường dung các chỉ tiêu sau: chỉ tiêu doanh thu trên một đồng chi phí cho biết với một đồng chi phí bỏ ra, doanh nghiệp tạo ra được mấy đồng doanh thu. Doanh thu trên Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong = một đồng chi phí kỳ Chỉ tiêu Doanh thu trên 1 đồng vốn kinh doanh phản ánh 1 đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng Doanh thu. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong Doanh thu trên một = kỳ đồng vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ Chỉ tiêun doanh lợi theo chi phí cho biết bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Doanh lợi theo Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong = Chi phí kỳ Chỉ tiêu doanh lợi theo vốn kinh doanh cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Doanh lợi theo vốn kinh doanh Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Vốn kinh doanh bình quân trong = kỳ Chỉ tiêu doanh lợi doanh thu thuần phản ánh một đồng doanh thu đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận 5 Doanh lợi Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế trong = kỳ Doanh thu tiêu thụ thuần Kỳ thu tiền trung bình: Thời gian thu tiền bán hang kể từ khi giao hang đến khi thu tiền là bao nhiêu ngày. Số dư bình quân các khoản Kỳ thu tiền trung bình = phải thu Doanh thu thuần bình quân một ngày trong kỳ Chỉ tiêu về khả năng thanh toán: - Hệ số về khả năng thanh toán tổng quát. Hệ số thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả ( bao gồm: Nợ ngắn hạn, nợ dài hạn...) Tổng tài sản Hệ số thanh toán tổng = Tổng nợ quát(Htq) Hệ số khả năng thanh toán hiện thời. Là quan hệ giữa tổng tài sản lưu động và đầu tư ngăn hạn so với các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán hiện thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản ngăn hạn (TSNH) với các khoản nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán hiện thời( Hht) = Tổng TSNH Nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nhanh. Các TSNH trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành tiền. Trong TSNH hiện có thì vật tư hàng hóa tồn kho(các loại vật tư, công cụ dụng cụ, thành phần tồn kho) chưa thể chuyển đổi ngay thành tiền, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất. Vì vậy, hệ số này cho biết khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp và được tính toán dựa trên các TSNH có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để có thể đáp ứng yêu cầu thanh toán cần thiết. 6 Khả năng thanh toán nhanh = (Hnh) TSNH- HHTồn kho Tổng nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán lãi vay. Lãi vay phải trả là một khoản chi phí tương đối ổn định và có thể tính toán trước. Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận kinh doanh (lợi nhuận trước thuế và lãi vay). So sánh với nguồn để trả lãi vay với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanh nghiệp sẵn sàng trả tiền đi vay tới mức độ nào hay nói cách khác là nó cho biết mức độ lợi nhuận đả bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Lãi vay phải trả - Chỉ tiêu cơ cấu vốn và tài sản; Hệ số nợ: Hệ số nợ Nợ phải trả Tổng nguồn = vốn = 1- Hệ số vốn chủ sở hữu Hệ số vốn chủ sở hữu: Vốn CSH Hệ số vốn CSH = =1 – Hệ số nợ Tổng nguồn vốn - Chỉ tiêu cơ cấu tài sản: Đây là một dạng tỷ suất phản ánh khi doanh nghiệp sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh thì dành ra bao nhiêu đồng để hình thành TSNH, còn bao nhiêu để đầu tư vào tài sản dài hạn( TSDH). Để đánh giá cơ câu tài sản ta sử dụng hai chỉ tiêu sau: Tỉ suất đầu tư vào TSDH TSDH = Tổng sản 7 tài = 1 – tỉ suất đầu tư vào TSNH - Các chỉ số về hoạt động Số vòng quay hàng tồn kho: Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kì.Nó được xác định theo công thức sau: Số vòng quay hàng tồn kho Giá vốn hàng bán (DTT) = Số ngay một vòng quay hàng tồn kho (kì luân chuyển hàng tồn kho): Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Kì luân chuyển hàng tồn Số ngày trong kì = kho Số vòng quay hàng tồn kho Vòng quay các khoản phải thu: Đó là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu với số dư bình quân các khoản phải thu của khách hàng trong kì. Doanh thu Vòng quay các khoản phải = thu Số dư bình quân các khoản phải thu - Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng nhân lực: Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân: Cứ một lao động thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. NSLĐ bình quân Doanh thu thuần Tổng số lao động = bình quân trong ngày Chỉ tiêu tỷ suất tiền lương tính theo doanh thu thuần: Để có một đồng doanh thu, doanh nghiệp phải trả bao nhiêu đồng tiền lương. Tỷ suất lương/DTT tiền Tổng quỹ lương Doanh thu thuần trong kỳ = Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động: Cứ một lao động tham gia thì tạo bao nhiêu đồng lợi nhuận. = Lợi nhuận sau thuế 8 Mức sinh lời Bình Tổng số lao động trong kỳ quân của lao động - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định (TSCĐ) Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như: sức sản xuất của TSCĐ (hiệu suất sử dụng TSCĐ trong 1 kỳ ), sức sinh lợi của tài sản cố định và suất hao phí từ TSCĐ. Chỉ tiêu sức sản xuất của TSCĐ: phản ánh 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại mấy đồng doanh thu thuần. Sức sản xuất của TSCĐ Tổng số doanh thu thuần Nguyên giá bình quân = TSCĐ Chỉ tiêu sức sinh lợi TSCĐ cho biết 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần ( hay lãi gộp ). Sức sinh lợi của = TSCĐ Lợi nhuận trong kỳ Nguyên giá bình quân TSCĐ Chỉ tiêu suất hao phí từ tài sản cố định cho thấy để có 1 đồng doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần phải hao phí bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định Suất hao phí từ TSCĐ - = Nguyên giá bình quân TSCĐ Doanh thu thuần ( hay lợi nhuận thuần) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động (TSLĐ) Nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu : vòng quay TSLĐ trong kỳ, hiệu quả sử dụng TSLĐ trong kỳ và mức đảm nhiệm TSLĐ. Vòng quay TSLĐ trong kỳ (hay hiệu suất sử dụng TSLĐ): cho biết mỗi đơn vị TSLĐ sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSLĐ càng cao. 9 Doanh thu thuần trong Vòng quay TSLĐ = Trong kì kỳ TSLĐ bình quânn trong kỳ Hiệu quả sử dụng TSLĐ phản ánh khả năng sinh lợi của TSLĐ. Nó cho biết mỗi đơn vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Hiệu quả sử dụng TSLĐ trong kỳ Lợi nhuận sau thuế TSLĐ sử dụng bình quân trong = kỳ Mức đảm nhiệm TSLĐ cho biết để đạt được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ. Chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao. Mức đảm nhiệm TSLĐ - = TSLĐ bình quân trong kỳ Doanh thu thuần Chỉ tiêu sử dụng hiệu quả chi phí: cứ một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Tỷ suất DT/CP = Doanh thu thuần Tổng chi phí trong kỳ 2.1.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 2.1.2.1 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có môi quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện tồn tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Để hiểu rõ về vai trò nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ta cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm kết quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Kết 10 quả hoạt động kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Trong đó trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực sự. Các tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, mặt hàng sản xuất có hiệu quả cao hơn. 2.1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn sử dụng để dánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là sự biểu hiện của việc lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với trình độ của 11 doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải sử dụng nguồn lực tối ưu nguồn lực sẵn có. Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó bằng cách nào để có hiệu quả nhất lại là một bài toán mà nhà quản trị phải lựa chọn cách giải. Chính vì vậy, ta có thể nói việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của mình mà còn là thước đo trình độ của nhà quản trị. Ngoài những chức năng trên của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nó còn là vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường. Thứ nhất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại đó, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thứ hai, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo ra tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Song thị trường ngay càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là sự cạnh tranh về mặt hang mà cạnh tranh về chất lượng, giá cả mà còn phải cạnh tranh nhiều yếu tố khác nữa. Mục tiêu của doanh nghiệp là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể làm cho doanh nghiệp không tồn 12 tại được trên thị tường. Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Do đó doanh nghiệp cần phải có hang hoá, dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả lao động là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hang hoá, chất lượng, mẫu mã không ngừng cải thiện và nâng cao… Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nhân tố cơ bản tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường. Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp 2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 2.1.3.1. Các nhân tố bên ngoài Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra đê đạt được kết quả đó, nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Các đại lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra chịu tác động rất nhiều nhân tố khác nhau với các mức độ khác nhau. Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu qủa kinh doanh của các doanh nghiệp. Các nhân tố bên ngoài bao gồm: Môi trường khu vực và quốc tế: Môi trường kinh tế cũng như chính trị trong khu vực và trên thế giới ổn định là cơ sở tiền đề thuận lợi giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đạt hiệu quả cao. Môi trường kinh tế quốc dân: bao gồm môi trường kinh chính trị, pháp luật, môi trường kinh tế và môi trường văn hoá xã hội, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, trình độ khoa học công nghệ. Đây là các nhân tố vô cùng quan trọng tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chính sách đầu tư, chính sách cơ cấu, lạm phát biến động tiền tệ, hoạt động của đối thủ cạnh tranh, là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu của từng doanh nghiệp và từ đó tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Sự lành mạnh trong các 13 cơ chế kinh tế đã tạo điều kiện cho công ty có thể mở rộng thị trường ra các tỉnh lân cận. Đồng thời, sự phát triển của nền kinh tế cũng tạo đà chung cho sự phát triển của công ty, càng ngày các khu công nghiệp mới được thành lập và đi cùng nó là việc xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt là các công trình điện… từ đó tạo them các cơ hội làm ăn mới cho công ty, mở ra nhiều khách hang tiểm năng hứa hẹn sự phát triển. Môi trường nghành: Trong cơ chế thị trường nước ta hiện nay, trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, môi trường ngành là nhân tố góp phần ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó bao gồm các doanh nghiệp trong ngành, khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp khác, các sản phẩm thay thế, người cung ứng và khách hang. Trong đó khách hang là vấn đê vô cùng quan trọng và ssược các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý. 2.1.3.2. Các nhân tố bên trong. Bao gồm cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, đặc tính về sản phẩm, công tác tiêu thụ sản phẩm, công tác đảm bảo nguyên vật liệu, cơ sở vật chất kĩ thuật, tình hình tài chính, lao động, tiền lương và môi trường làm việc. Đặc tính về sản phẩm: ngoài chất lượng của sản phẩm những đặc tính mang tính hình thức bên ngoài của sản phẩm như mẫu mã, bao bì, nhẵn hiệu… là những yếu tố cạnh tranh không thể thiếu được. Các đặc tính của sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần lớn vào việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ là khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định tới các khâu khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có tiêu thụ được hay không mới là quan trọng nhất. Tốc độ tiêu thụ sản phẩm quyết định tốc độ sản xuất và nhịp độ cung ứng nguyên vật liệu. Công tác đảm bảo nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp sản xuất. Số lượng, chủng loại, cơ cấu, chất lượng giá cả của nguyên vật liệu và tính đồng 14 bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kĩ thuật: Cơ sở vật chất kĩ thuật là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò thúc đẩy các hoạt động kinh doanh và thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tang, bến bãi… Để tiến hành sản xuất phải có hai yếu tố là công cụ lao động và lao động. Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động. Tình hình tài chính: Tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủ động khai thác sử dụng tối ưu hoá các nguồn lực đầu vào. Lao động và tiền lương: Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó tiên lương và thu nhập của người lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương là một bộ phận cấu thành lên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nó còn tác động tới tâm lý của người lao động trong doanh nghiệp. Môi trường làm việc: Bao gồm môi trường văn hoá và môi trường thông tin, hai yếu tố này cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. 2.2. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài 2.2.1. Tình hình thị trường cà phê trên thế giới thời gian qua 2.2.1.1. Các loại cà phê Cách đây hang nghìn năm, cây cà phê đã được người dân du mục Ethiopi ngẫu nhiên tìm thấy ở làng Cápfa, gần thủ đô Ethiopi. Đến thế kỉ thứ VI, cây cà phê lan dần sang các nước và châu lục khác. Nhưng không phải ngay từ đầu cà phê đã được thừa nhận là hấp dẫn và hữu ích mặc dù cho đến ngày nay không 15 ai phủ nhận công dụng và sự nổi tiếng của loại đồ uống này. Cà phê giúp con người tỉnh táo và minh mẫn hơn trong mọi hoạt động và được coi như là một món tráng miệng, một bữa an phụ của nhiều nước trên thế giới. Cà phê có nhiều loại khác nhau, theo thống kê trên thế giới hiện nay có 70 loại cà phê đang được trồng cà xuất khẩu. Trong đó phổ biến nhất về diện tích trồng cũng như vai trò quan trọng trên thi trường cà phê thế giới là hai loại cà phê: - Cà phê chè ( chủng Arabica) - Cà phê vối ( chủng Robusta) Cả hai loại cà phê này, cũng như tất cả các loại cà phê khác, đều thuộc giống Coffea nhưng về chất lượng và hương vị thì cà phê Arabica trội hơn cà phê Robusta. Do đó cà phê Arabica cũng thường cao hơn khá nhiều và được nhiều nơi ưa chuộng. Vì yêu cầu sinh thái khác nhau hai loại cà phê này được trồng tập chung ở những khu vực khác nhau trên thế giới. Cà phê Arabica được trồng chủ yếu ở Châu Mỹ, đặc biệt tại hai nước là Brazin và Colombia. Hai nước này sản xuất tới 80% sản lượng cà phê Arabica của thế giới, đồng thời cũng là hai nước sản xuất và xuất khẩu cà phê nhiều nhất, thống trị thị trường cà phê thế giới. Cà phê Robusta là giống cà phê ngon thứ hai sau cà phê Arabica. Loại cà phê này thường được tiêu dung ở các nước có truyền thống uống cà phê chế biến từ cà phê Robusta. Ví dụ như Anh và các nước Nam Âu. Cây cà phê loại này thường được trồng chủ yếu ở Châu Phi và Châu Á. Hiện tại cà phê Robusta ở Châu Phi không tăng và có chiều hướng giảm sút do chính trị ở đây không ổn định, sự thay đổi về điều kiện tự nhiên cũng như chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đây là những nguyên nhân rất khó khắc phục trong thời gian ngắn. Do vậy trong thời gian tới trên đà tăng trưởng về sản lượng, vai trò cung cấp của các nước Châu Á- Thái Bình Dương sẽ còn tiếp tục tăng lên với loại cà phê này. 2.2.1.2. Sản phẩm cà phê Các sản phẩm của cà phê rất đa dạng, sản phẩm ban đầu của cây cà phê là cà phê quả tươi. Cà phê quả tươi quá trình sơ chế sẽ cho ta cà phê nhân. Từ cà phê nhân qua quá trình sơ chế biến công nghiệp sẽ cho ta các sản phẩm tinh chế 16 là cà phê hoà tan, cà phê bột, cà phê sữa, vv… Các sản phẩm tinh chế này được đem ra thị trường bán cho người tiêu dung, là người mua cuối cùng. Trong hoạt động thương mại trên thị trường thế giới, các nước chủ yếu xuất khẩu cà phê dưới dạng cà phê nhân, hay còn được gọi là cà phê nguyên liệu. Ở dạng này người xuất khẩu sẽ dễ dàng hơn trong việc bảo quản sản phẩm trong quá trình vận chuyển đến tay người nhập khẩu ở nước ngoài. Đồng thời tạo điều kiện tổ chức chế biến ở các nước tiêu thụ cho ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dung tại chỗ. Hiện nay ở Việt Nam do điều kiện công nghệ chế biến còn lạc hậu nên hầu hết cà phê xuất khẩu là cà phê nhân mới qua sơ chế. Ngoài ra có một số ít là cà phê hoà tan nhưng chưa cạnh tranh được với hàng ngoại cả nguyên chất lẫn tổng hợp. 2.2.1.3. Diện tích Diện tích trồng cà phê thế giới từ năm 1990 đến năm 2002 tăng trung bình từ 0,1%/năm đạt 14.593.940 ha năm 2002. Diện tích trồng cà phê ở các khu vực khác nhau trên thế giới tăng giảm không đồng đều. Trong khi diện tích trồng cà phê của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tăng trung bình là 2.8%/ năm thì diện tích trồng cà phê ở các nước khác lại giảm 0,3% (tính từ 1990 đến 2002) 2.2.1.4. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10 triệu hecta và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tấn. Năng suất bình quân chưa vượt quá 6 tạ nhân/ha. Trong đó ở châu Phi có 28 nước năng suất bình quân không vượt quá 4 tạ nhân/ha. Nam Mỹ đạt dưới 6 tạ nhân/ha. Bốn nước có diện tích cà phê lớn nhất đó là: Brazil trên 3 triệu hecta chiếm 25% sản lượng cà phê thế giới, Côte D'voire (Châu Phi), Indonesia (Châu Á) mỗi nước khoảng 1 triệu hecta và Côlômbia có gần 1 triệu hecta với sản lượng hàng năm đạt trên dưới 700 ngàn tấn. Do áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục nước đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tấn/ha. Điển hình có Costa Rica ở Trung Mỹ với diện tích cà phê chè là 85.000 ha nhưng đã đạt năng suất bình quân trên 1.400 kg/ha. 17 Do sự xuất hiện và gây tác hại của bệnh gỉ sắt cà phê tại nhiều nước Trung và Nam Mỹ từ năm 1970 trở lại đây đã gây thêm những khó khăn và tốn kém cho nghề trồng cà phê ở khu vực này. Cà phê chè hiện nay vẫn chiếm 70% sản lượng của thế giới. Diện tích cà phê chè được trồng tập trung chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ, một số nước ở Đông Phi như: Kenya, Cameroon, Ethiopie, Tanzania và một phần ở châu Á như: Indonesia, Ấn Độ, Philippines. 2.2.2. Tình hình sản xuất kinh doanh cà phê của Việt Nam. 2.2.2.1. Vị trí của cây cà phê ở Việt Nam Trong nhiều năm gần đây, cà phê là một hang hoá nông nghiệp xuất khẩu quan trọng của Việt Nam có kim ngạch hang năm từ 400 đến 600 triệu Đôla Mỹ, chỉ đứng sau gạo. Không chỉ đem về nhiều ngoại tệ cho đất nước, cây cà phê đang càng ngày giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. - Cà phê có thể trồng thay thế cây thuốc phiện ở những khu vực trước kia trồng cây thuốc phiện. - Sản xuất và xuất khẩu cà phê làm cho quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và các nước được củng cố và phát triển Hiện nay cà phê Việt Nam đã xuất hiện trên khắp các châu lục từ Bắc Mỹ, Tây Âu, Đông Âu đên Úc, Nam Á, Bắc Á v.v. Chất lượng cà phê Việt Nam cũng được thị trường quốc tế thừa nhận và ưa chuộng. Đảng và nhà nước ta luôn coi cà phê là một trong những mặt hang xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp nói riêng và của cả nước nói chung nên đã dành cho cây cà phê sự quan tâm đặc biệt. Từ sau giải phóng diện tích cà phê liên tục tăng từ vài chục nghìn hecta lên tới gần 300 nghìn hecta cho năng suất cao tạo chỗ vững chắc cho xuất khẩu cà phê tăng trưởng. Tiềm năng của cây cà phê Việt Nam rất lớn và phần lớn còn đang chờ sự khai thác có hiệu quả cao, do vậy trong thời gian tới ngành cà phê cần có những giải pháp cụ thể để phát huy tối đa tiềm năng này. 2.2.2.2. Sản xuất. Sản lượng cà phê niên vụ 2008/2009 Theo USDA, sản lượng cà phê nước ta niên vụ 2008/2009 đạt khoảng 18 triệu bao (tương đương 1,08 nghìn tấn). Sản lượng trung bình khoảng 2,16 mét tấn/ha. Chính phủ đang cố gắng hạn chế việc mở rộng diện tích canh tác từ 18 500.000 đến 525.000 ha. Thay vào đó là việc tập trung đầu tư nhằm cải thiện năng suất diện tích gieo trồng hiện có. Trong một vài năm gần đây, nhiều nông dân đã mở rộng diện tích trồng cà phê trung bình khoảng 2.000 ha/năm. Diện tích trồng cà phê Arabica hiện nay khoảng 35.000 ha chiếm khoảng 6% tổng diện tích cà phê của cả nước. Bảng2.1 Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam qua các giai đoạn: Thời gian bắt đầu niên vụ Sản lượng (hạt cà phê xanh, nghìn tấn) Sản lượng trung bình (tấn/ha) 2008/2009 2010/2011 2009/2010 (dự báo) 10/2008 10/2009 10/2010 1.080 1.050 1.124 2,16 2,09 2,10 Nguồn:Bộ nông nghiệp và PTNT Sản lượng cà phê niên vụ 2010/2011 Dự báo sản lượng cà phê nước ta niên vụ 2010/2011 khoảng 18,73 triệu bao (tương đương 1,12 nghìn tấn), tăng 7% so với niên vụ trước. Nông dân cho biết hầu hết các cây cà phê hiện đang ra quả và phát triển rất thuận lợi. Thời tiết khô hạn từ tháng 11 đến tháng 4 tại một số khu vực quan trọng cũng không ảnh hưởng tới sản lượng cà phê trong niên vụ này. Theo báo cáo mới nhất, tại tỉnh Đắk Lắk chỉ có khoảng 2.500 ha bị ảnh hưởng bởi hạn hán, do đó ảnh hưởng không đáng kể đến tình hình sản xuất cà phê tổng thể. 2.2.3. Tình hình sản xuất kinh doanh cà phê tại Đắc Lắc 2.2.3.1 Lịch sử cà phê Buôn Mê Thuật Cây cà phê du nhập vào việt nam khá sớm (từ năm 1857) thông qua một số linh mục thừa sai người pháp. đầu tiên là giống cà phê chè (coffee arabica) được trồng thử nghiệm tại các nhà thờ thiên chúa giáo ở một số tỉnh phía bắc sau đó mới phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ. nhưng cho đến nay, cả về quy mô và danh tiếng, không nơi nào ở việt nam có cà phê nổi tiếng trong và ngoài nước, đồng thời gắn với một vùng địa danh mang nhiều huyền thoại như cà phê Buôn Ma thu ột 19 Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà phê sinh trưởng tốt, mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế về tự nhiên, cũng cần điểm lại yếu tố lịch sử của ngành cà phê Đắk Lắk, bởi đây cũng là nhân tố góp phần làm nên danh tiếng của cà phê Buôn Ma Thuột. ngay từ lúc thăm dò để chuẩn bị xâm chiếm tây nguyên, các nhà thám hiểm và truyền giáo pháp đã sớm nhận ra vùng đất này không chỉ có vị trí địa lý chiến lược ở miền nam đông dương, mà còn có những tài nguyên hết sức quý giá có thể khai thác phục vụ chính quốc, trước hết là đất và rừng. đặc biệt nơi đây có loại đất mà các nhà thám hiểm như yersin, giám mục cassaigne, linh mục pierre dourisboure...đều nhận định là loại đất tốt nhất thế giới, rất thích hợp cho việc mở các đồn điền trồng cây công nghiệp 2.2.3.2 Tình hình sản xuất cà phê ở Đắc Lắc Hiện nay Đắk Lắk có trên 184.000 ha cà phê, (trong đó có trên 173.000 ha cà phê kinh doanh) với sản lượng đạt trên 400.000 tấn cà phê nhân xô, chiếm 36,4% sản lượng cà phê cả nước. Cùng với việc tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như: chọn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán...đã làm năng suất và sản lượng cà phê tăng mạnh. Những năm trước 1990, năng suất bình quân 1 ha cà phê kinh doanh chỉ đạt 8 - 9 tạ nhân, đến năm 1994 năng suất bình quân đạt 18,5 tạ/ha, hiện nay bình quân đạt 25 - 28 tạ/ha. Cá biệt ở một số vùng sản xuất đã cho năng suất bình quân đạt 35 - 40 tạ/ha, vườn cà phê một số hộ gia đình đạt trên 50 tạ/ha. Là tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi khá lớn về sản lượng, đa dạng về chủng loại, với nguồn nguyên liệu dồi dào và rất tốt cho ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đặc biệt là tỉnh được thiên phú cho thừa hưởng 311.000 ha đất đỏ bazan màu mỡ, rất thích hợp 20
- Xem thêm -