Nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng tmcp dầu khí toàn cầu – chi nhánh thăng long

  • Số trang: 104 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1380 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Sau khi Việt nam mở cửa nền kinh tế và gia nhập WTO, nền kinh tế Việt nam đang chuyển mình mạnh mẽ, GDP luôn đạt ở mức trung bình 7.0% và dự báo tiếp tục tăng trưởng. Các ngành kinh tế của đất nước đang phát triển thuận lợi, cơ hội được tiếp cận những quan điểm, mô hình kinh doanh mới từ các nước phát triển, từ các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt nam. Đi tiên phong trong đó là ngành ngân hàng tài chính. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng đang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Trong thời gian qua, ngành ngân hàng đã làm rất tốt trong quá trình lưu thông tiền tệ đối với nền kinh tế, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy mọi thành phần của nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngành ngân hàng của chúng ta vẫn tập trung tới hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp, chiểm tỷ lệ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chưa chú trọng nhiều tới nhu cầu của cá nhân. Một nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp tập trung huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán hay phát hành trái phiếu, cổ phiếu…hạn chế vay vốn từ các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ phi tín dụng cho doanh nghiệp và chú trọng tới cung cấp các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của cá nhân, doanh thu từ hoạt động này là từ 35-60% tổng doanh thu. Chính vì lẽ đó, trong xu hướng phát triển tất yếu của ngành ngân hàng Việt nam trong thời gian tới sẽ phát triển theo mô hình ngân hàng bán lẻ. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngân hàng bán lẻ trong xu thế hiện nay, các ngân hàng trong nước đã đưa ra các chính sách, sản phẩm và định hướng lâu dài. Thể hiện rõ nhất là các ngân hàng ACB, ngân hàng Đông Á, Sacombank, Techcombank,... các ngân hàng nước ngoài như ANZ, HSBC, CitiBank,… sau khi thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài cũng muốn tham gia thị trường còn sơ khai này. Các ngân hàng quốc doanh, hay chuyển đổi cổ phần hoá cũng đã có nhứng chiến lược lâu dài, thời kỳ cho phát triển ngân hàng bán lẻ. 1 Hoạt động cho vay cá nhân là một phần trong hoạt động của ngân hàng bán lẻ, nó tạo ra khoản thu nhập lớn và ổn định dựa trên số đông người sử dụng, đồng thời tăng hình ảnh của ngân hàng trong con mắt người dân, góp phần vào sự phát triển bền vững, lâu dài của ngân hàng. Hoạt động cho vay đối với KHCN tại Việt nam vẫn còn khá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và chưa được các NHTM khai thác triệt để, chỉ tính con số 86 triệu dân, trong đó 2/3 là dân số trong độ tuổi lao động và chỉ mới khoảng 17% dân số có tài khoản và sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Trước đây, hoạt động cho vay KHCN còn hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như công nghệ kém không đáp ứng các yêu cầu của sản phẩm; nhận thức của ngân hàng đối với các khoản vay cá nhân còn hạn chế được nhìn dưới góc độ rủi ro,…dẫn đến các sản phẩm chưa đa dạng. Các ngân hàng vẫn chỉ tập trung tới cho vay các doanh nghiệp, thị phần cho vay cá nhân rất thấp. Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của hoạt động tín dụng cá nhân trong toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu đặc biệt tại chi nhánh Thăng Long nhằm mục tiêu đưa ra các giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân, xây dựng một hệ thống khách hàng ổn định tại chi nhánh, đề tài “Nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu – Chi nhánh Thăng Long (Hà Nội)” đã được em lựa chọn làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình. Hy vọng rằng những giải pháp mà em đưa ra sẽ mang lại hiệu quả thiết thực đáp ứng được yêu cầu phát triển, đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới của hệ thống ngân hàng thương mại, chiến lược của Ngân hàng Dầu Khí nói chung và tại chi nhánh Thăng Long nói riêng. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng, phân tích thực trạng và đánh giá kết quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại GP.Bank trong những năm gần đây để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu 2 quả cho vay khách hàng cá nhân tại GP.Bank. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng của đề tài: hiệu quả cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Thăng Long Phạm vi thực hiện của đề tài: thực trạng hiệu quả cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Thăng Long trên cơ sở số liệu báo cáo từ năm 2010 đến năm 2012 và định hướng cho các giai đoạn tiếp theo. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh để làm sáng tỏ vấn đề 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày theo 3 chương, cụ thể như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại . Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Thăng Long (Hà Nội). Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Thăng Long (Hà Nội). 3 CHƯƠNG 1 .NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1.1 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Trong bất kỳ một nền kinh tế nào thì vai trò và các chức năng của ngân hàng luôn là một trong những kênh tài chính quan trọng bậc nhất đóng góp vào sự phát triển chung của cả nền kinh tế đó. Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010 có nêu: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” 1.1.1.2. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng, có thể tổng hợp những hoạt động đó theo 3 nhóm hoạt động cơ bản, đó là: Hoạt động huy động vốn, Hoạt động cho vay và đầu tư, Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính khác. - Hoạt động huy động vốn Nguồn vốn chủ sở hữu: để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải 4 có một lượng vốn nhất định và còn được bổ sung trong quá trình hoạt động. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành tài sản cố định cho ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời và an toàn. Tiền gửi không kì hạn: đây là nguồn vốn hình thành dựa trên nhu cầu giao dịch, khi khách hàng muốn sử dụng các dịch vụ tài chính của ngân hàng. Nguồn vốn này có quy mô rất lớn chiếm tỉ trọng cao trong số nguồn vốn song sự vận động lại phức tạp nên việc sử dụng rất mạo hiểm, cần có phương pháp sử dụng hiệu quả. Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian nhất định sẽ được gửi vào ngân hàng sau một thời gian xác định để hưởng lãi suất tương ứng với kì hạn đó (lãi suất tiền gửi có kì hạn cao hơn so với lãi suất tiền gửi không kì hạn). Các nguồn vốn khác: đây thường là các nguồn không phải trả lãi tuy nhiên chi phi để có và duy trì chúng là rất đáng kể, ví dụ như nguồn vốn uỷ thác... - Hoạt động cho vay và đầu tư Các hoạt động về ngân quỹ: Dự trữ bắt buộc là khoản dự trữ mà ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại nộp vào tài khoản tại ngân hàng nhà nước nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng thương mại, vận hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý hoạt động ngân hàng thương mại. Dự trữ vượt quá là các khoản dự trữ tồn tại dưới dạng tiền mặt tại quỹ, các khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, tiền mặt trong quá trình thu. Nhìn chung, ngân quỹ của ngân hàng thương mại là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại ngân hàng nhà nước và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên. Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể được. 5 Hoạt động cho vay là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian, sau đó được quyền thu cả gốc và lãi. Cho vay là khoản mục có tỷ lệ cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng. Có rất nhiều loại hình cho vay khác nhau đáp ứng nhu cầu của cả dân cư và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hoạt động đầu tư là việc ngân hàng nhường quyền sở hữu vốn cho người khác dưới hình thức góp vốn, thu nhập căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận và tỷ lệ vốn góp. Có nhiều hình thức đầu tư: đầu tư vào chứng khoán; đầu tư vào các dự án ... Hoạt động sử dụng vốn khác như là các hoạt động về quảng cáo, quảng bá, tài trợ cho sự phát triển nguồn nhân lực, các chương trình phát triển. - Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính khác Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: dịch vụ này cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Thanh toán qua các ngân hàng thúc đẩy cho phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức cho vay khác... Dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý tài chính hộ. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Quản lý ngân quỹ là dịch vụ ngân hàng quản lý thu chi cho một doanh nghiệp và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn đến khi khách hàng cần tiền để thanh toán. Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới. Cung cấp dịch vụ đại lý: nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động 6 không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Dịch vụ ngân hàng đại lý đáp ứng nhu cầu thanh toán, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối đồng tài trợ ... Mua bán ngoại tệ là việc ngân hàng mua hoặc bán một loại ngoại tệ đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thu phí dịch vụ. Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế và có rất nhiều hoạt động khác nhau. Các hoạt động của ngân hàng thương mại luôn có ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trong các hoạt động nêu trên của ngân hàng thương mại thì hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận, luôn chiếm khoảng 70% tổng tài sản của Ngân hàng và là hoạt động mang tính chất sống còn đối với hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay. 1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được hiểu như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng với mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng. Hoạt động chính của nó là huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, các doanh nghiệp và sử dụng nguồn vốn đó cho vay để lấy chênh lệch lãi suất. Hoạt động cho vay phản ánh mối quan hệ giữa một bên là người cho vay còn bên kia là người đi vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, nghĩa là sau một thời gian nhất định người vay phải hoàn trả khoản tiền đi vay cho người cho vay (kèm theo một khoản lãi nhất định – nếu có). Quan hệ giữa các bên vay mượn đều bị ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau: 7 Thứ nhất, hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Lãi suất thu được từ cho vay sẽ bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Đây không chỉ là khoản sử dụng vốn lớn nhất của Ngân hàng mà còn là nguồn tạo ra thu nhập lớn nhất trong tất cả các tài sản có sinh lợi. Thứ hai, hoạt động cho vay chứa đựng nhiều rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, khoản mục tiền cho vay kém thanh khoản nhất so với các tài sản khác, bởi vì chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản vay đó đáo hạn. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng và những rủi ro này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đến sự tồn, phát triển của ngân hàng. Chính vì vậy các ngân hàng thương mại rất coi trọng công tác quản lý tín dụng nhằm đảm bảo lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho ngân hàng 1.1.2.2. Phân loại hoạt động cho vay Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Việc áp dụng loại cho vay nào phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn nhằm sử dụng và quản lý hoạt động cho vay một cách có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế của đối tượng vay vốn đó. Để có thể quản lý và sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, cần thiết phải có sự phân loại cho vay. Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Nếu việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ làm tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị tín dụng. Có rất nhiều cách phân loại cho vay, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu tôi xin đưa ra cách phân loại cho vay theo đối tượng khách hàng. Theo cách phân loại này thì cho vay bao gồm cho vay tổ chức tài chính, cho vay khách hàng doanh nghiệp và cho vay khách hàng cá nhân. 8 Khách hàng tổ chức tài chính bao gồm: Ngân hàng khác, Hợp tác xã tín dụng, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính,… Hình thức cho vay đối với khách hàng là các tổ chức tài chính cũng hết sức đa dạng. Thường cho vay đối với các ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn của các ngân hàng này và các giao dịch thường diễn ra trên thị trường liên ngân hàng. Khách hàng doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, Hợp tác xã, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Công ty hợp danh. Hình thức cho vay đối với khách hàng là doanh nghiệp cũng rất đa dạng như cho vay theo dự án đầu tư, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay ngắn hạn theo món … Khách hàng cá nhân ở đây là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật. Đối tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu về vốn để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, vốn để mua nhà, xây dựng nhà, sửa chữa nhà, mua ô tô, mua các thiết bị gia dụng, và đáp ứng một số yêu cầu khác. Các phương thức vay vốn đa dạng như: cho vay theo hạn mức, cho vay trả góp, cho vay từng lần, cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm … Thời hạn cho vay linh hoạt tuỳ vào mục đích vay của khách hàng và kết quả thẩm định. Lãi suất cho vay được xác định dựa trên biểu lãi suất cho vay của ngân hàng tùy vào từng thời điểm khác nhau, hoặc cũng có thể phụ thuộc vào sự thoả thuận của khách hàng và ngân hàng. Về tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể bao gồm bất động sản (nhà, đất …), động sản (hàng hoá, máy móc thiết bị …), các chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, tài sản có giá trị khác hay số dư tài khoản tiền gửi 1.2 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Cho vay cá nhân là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho đối tượng khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi 9 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân: Đối tượng cho vay là cá nhân và các hộ gia đình. Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn. Cho vay khách hàng cá nhân đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của các khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng. Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và các hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, khách hàng cá nhân sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng. Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải trả. Mức thu nhập và trình độ của người vay vốn là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng. Rủi ro đối với cho vay khách hàng cá nhân: cho vay khách hàng cá nhân có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có được khoản vay theo nhu cầu của mình có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các 10 ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay. Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay khách hàng cá nhân thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của ngân hàng thương mại. Từ trước đến nay, cho vay khách hàng cá nhân vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản cho vay khác hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay khách hàng cá nhân ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản cho vay khách hàng cá nhân mới không mang lại lợi nhuận. Nguồn thu nhập càng ổn định, ngân hàng có khả năng kiểm soát thì lãi suất áp dụng cho khách hàng sẽ giảm đi, do rủi ro từ việc cho vay đã được hạn chế. Hạn mức cho vay khách hàng cá nhân: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng vay. hạn mức cho vay khách hàng cá nhân được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo. Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn mức khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý. Thông thường, cho vay cầm cố có hạn mức cao nhất, chẳng hạn như nếu khách hàng cầm cố sổ tiết kiệm, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi có thể được cấp một hạn mức bằng 90% giá trị tài sản cầm cố. Để có thể xác định được hạn mức tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng, các ngân hàng cần phải định giá chính xác tài sản đó. 11 Nếu định giá quá thấp sẽ làm giảm số tiền vay của khách hàng, nếu định giá quá cao sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý (Nhu cầu vay hợp lý của khách hàng bằng nhu cầu vốn hợp lý trừ vốn tự có của khách hàng trừ vốn khách hàng vay mượn từ nguồn khác) và hạn mức tín dụng, từ đó xác định số tiền cho vay. Nếu nhu cầu vay hợp lý lớn hơn hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theo hạn mức tín dụng, nếu nhu cầu vay hợp lý nhỏ hơn hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay số tiền theo nhu cầu vay hợp lý của khách hàng. Như vậy, sẽ vừa thoả mãn nhu cầu vay của khách hàng vừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng. 1.2.2 Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản cho vay khách hàng cá nhân bao gồm hai hình thức: cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây dựng sửa chữa nhà, mua xe cơ giới, du học, mua sắm vật dụng gia đình, chữa bệnh … Cho vay sản xuất kinh doanh: Là các khoản cho vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình: mua sắm máy móc thiết bị, bổ sung vốn lưu động, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán … Đối với hai hình thức cho vay trên, thời gian cho vay có thể là ngắn hạn (thời hạn cho vay dưới 12 tháng), trung hạn (thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn (thời gian cho vay từ 60 tháng trở lên); - Căn cứ vào phương thức cho vay thì cho vay khách hàng cá nhân có các loại sau: cho vay từng lần, cho vay trả góp, thấu chi. Riêng đối với các nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên cho các hộ gia đình trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng được sử dụng khá phổ biến. 12 Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức này có thể là cả kì hoặc cuối kì. Khách hàng có thể vay tới hạn mức tối đa và hoàn trả tất cả hoặc một phần số tiền đã vay sau đó lại vay tiếp, có thể lên đến mức tối đa cho tới khi hết thời hạn rút vốn quy định trong hợp đồng áp dụng với các hộ kinh doanh cá thể vay vốn lưu động phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh. Cho vay từng lần: Là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân hay hộ kinh doanh cá thể nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Các khoản vay này thường có quy mô nhỏ, phần lớn dùng để chi trả cho những mục đích thiếu vốn tạm thời của các cá nhân trong các trường hợp như mua sắm các đồ dùng giá trị lớn, xây nhà mới… Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng cho phép khách hàng vay được chi vượt quá số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi. Đặc điểm của hình thức cho vay này là cho vay ngắn hạn, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có bảo đảm và thường được áp dụng đối với khách hàng có độ tín nhiệm cao, kì thu nhập ngắn, đều đặn. Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc theo nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận thường theo tháng hoặc theo quý. Những khoản vay này thường dùng để mua sắm các tài sản như: nhà cửa, máy móc thiết bị, các đồ dùng có giá trị trong sinh hoạt gia đình. Cho vay trả góp hiện nay ngày càng trở nên phổ biến trong các sản phẩm cho vay đối với khách hàng cá nhân do nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng tăng cao, họ có nhu cầu mua sắm và sử dụng các tiện ích ngay ở hiện tại khi chưa tích lũy đủ tiền, họ sẽ sử dụng hình thức vay trả góp của một Ngân hàng để hoàn trả dần bằng các dòng thu nhập trong tương lai. - Căn cứ vào các biện pháp đảm bảo an toàn cho khoản vay. Đây là yếu tố quan trọng trong việc xét duyệt cho vay của Ngân hàng đối với khách hàng cá 13 nhân, hiện tại các Ngân hàng xem xét cho vay với khách hàng dựa trên hai hình thức: Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thuộc sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của người thứ ba. Tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể là số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, hàng hóa, máy móc thiết bị, bất động sản,… Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay không cần đảm bảo tài sản mà dựa trên uy tín khách hàng. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này. Hiện nay các sản phẩm vay tín chấp giành cho khách hàng cá nhân của các ngân hàng thương mại đang ngày một đa dạng và hấp dẫn: cho vay thấu chi, cho vay lương, thẻ tín dụng… 1.2.3 Quy trình cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại Để đánh giá một khoản cho vay khách hàng cá nhân là không hề đơn giản, điều này xuất phát từ một số nguyên nhân sau: thông tin về khách hàng là không đầy đủ, khách hàng thường có hiện tượng che giấu tình trạng tài chính, sức khỏe của họ, các cá nhân và hộ gia đình không dễ dàng vượt qua các khó khăn về tài chính. Thực tế cho thấy, tỷ lệ các khoản cho vay khách hàng cá nhân không được thanh toán thường gấp nhiều lần so với tỷ lệ các khoản cho vay đối với doanh nghiệp hay tổ chức tài chính khác không được thanh toán. Một đặc điểm chính giúp ngân hàng giảm bớt thua lỗ từ các khoản cho vay này là giá trị của chúng thường nhỏ và được đảm bảo bằng các tài sản thế chấp dễ bán trên thị trường. Các cán bộ tín dụng đã tổng kết rằng trong hầu hết các loại cho vay, cho vay khách hàng cá nhân có số lượng không được thanh toán lớn nhất, điều này làm tăng các khoản nợ có vấn đề của các ngân hàng thương mại do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Quy trình cho vay được các cán bộ tín dụng áp dụng giúp cho quá trình cho vay diễn ra một cách khoa học, chặt chẽ nhằm hạn chế và ngăn ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. 14 Khái quát quy trình cho vay khách hàng cá nhân gồm 6 bước sau theo trình tự sau: Sơ đồ 1.1. Quy trình cho vay khách hàng cá nhân Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ xin vay của khách hàng cá nhân. Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, họ đến gặp nhân viên của ngân hàng và ghi những thông tin cần thiết vào hồ sơ xin vay. Cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ cho vay đầy đủ và đúng quy định theo mẫu của ngân hàng bao gồm: đơn xin vay vốn, phương án vay vốn và kế hoạch trả nợ, danh mục các tài sản cầm cố, thế chấp và giấy tờ liên quan, các giấy tờ chứng minh nguồn thu nhập (nếu có), hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân và các giấy tờ liên quan khác. Bước 2: Thẩm định tín dụng Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình cho vay khách hàng cá nhân, quyết định chất lượng của món vay, thường bao gồm các nội dung sau: Thẩm định tư cách đạo đức và mục đích vay của khách hàng: Cán bộ tín dụng phải đảm bảo khách hàng vay vốn có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đủ tư cách pháp lý vay vốn ngân hàng. Nếu một khách hàng muốn vay 15 từ ngân hàng, họ phải trả lời đầy đủ những câu hỏi của cán bộ tín dụng về lý do xin vay hay nhu cầu tín dụng xuất phát từ đâu. Cuộc trò chuyện giữa cán bộ tín dụng và khách hàng là rất quan trọng bởi vì qua đó cán bộ tín dụng có điều kiện để nhận biết tính cách cũng như mục đích xin vay của khách hàng. Nếu cán bộ tín dụng phát hiện ra sự không trung thực của khách hàng đối với nhu cầu vay vốn thì có nhiều khả năng hồ sơ xin vay của khách hàng sẽ bị từ chối. Thông thường thì những đặc điểm cơ bản của người đi vay được bộc lộ thông qua mục đích của việc vay vốn. Cán bộ tín dụng phải hỏi khách hàng dùng khoản tiền vay vào mục đích gì và liệu mục đích đó có phù hợp với chính sách cho vay của ngân hàng hay không. Những cán bộ có kinh nghiệm đặt câu hỏi cho khách hàng rồi tự tay điền vào trong đơn chứ không để khách hàng tự điền. Thẩm định tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng: Bao gồm các công việc: xác định mức thu nhập của khách hàng, việc làm, số dư các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Nhân viên tín dụng phải được đảm bảo rằng những khách hàng vay vốn ý thức rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ. Việc xác định nguồn thu nhập ổn định hàng tháng của khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho ngân hàng. Những khách hàng có thu nhập ổn định và thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản chi phí sinh hoạt cần thiết cao thì khả năng vay sẽ cao. Đối với những khách hàng có chất lượng tín dụng thấp thì ngân hàng yêu cầu phải có người đứng ra bảo lãnh về việc hoàn trả các khoản vay. Nếu người đi vay không thanh toán cho các khoản nợ được bảo lãnh thì người đứng ra bảo lãnh có trách nhiệm phải thanh toán. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng chỉ xem việc có người bảo lãnh là một đảm bảo về mặt tâm lý hơn là một nguồn đảm bảo thực sự. Người đi vay sẽ thấy có trách nhiệm hơn trong việc hoàn trả khoản vay vì uy tín của người bảo lãnh. Bước 3: Thẩm định tài sản đảm bảo. Cán bộ tín dụng cần kiểm tra quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các tài sản dùng làm vật đảm bảo của khách hàng. Khả năng chuyển tài sản thành tiền 16 trong những trường hợp cần thiết và sự ổn định về giá cả của tài sản. Định giá tài sản đảm bảo cũng là một công đoạn rất quan trọng trong khâu thẩm định. Cuối cùng, ngân hàng cần xem xét khả năng bảo quản tài sản của người đi vay. Lập báo cáo thẩm định. Sau khi thẩm định xong, cán bộ tín dụng sẽ lập báo cáo thẩm định trong đó ghi vắn tắt nhưng tổng quát về tình hình của khách hàng: tên, tuổi, mục đích vay, số tiền vay, phương án trả nợ, tài sản đảm bảo và đưa ra ý kiến cho vay hay không cho vay đối với khách hàng. Nếu cho vay thì phải ghi rõ số tiền, thời hạn, lãi suất, phương án trả nợ và các điều kiện kèm theo rồi trình lên trưởng phòng tín dụng xem xét. Nếu không cho vay thì phải ghi rõ lý do tại sao. Bước 4: Xét duyệt và ký kết hợp đồng tín dụng. Sau khi nhận báo cáo thẩm định kèm theo hồ sơ vay vốn liên quan, trưởng phòng tín dụng hoặc cấp phê duyệt xem xét lại và yêu cầu cán bộ tín dụng giải thích bổ sung hoặc chỉnh sửa nếu có thiếu sót. Sau đó báo cáo sẽ được trình lên Hội đồng tín dụng xét duyệt, quyết định cho vay hay không cho vay. Trong trường hợp cần thiết (ví dụ như đối với các khoản vay lớn), Hội đồng tín dụng có thể yêu cầu một bộ phận khác tái thẩm định hồ sơ vay. Sau khi hồ sơ vay vốn được chấp thuận, ngân hàng và khách hàng sẽ tiến hành kí kết hợp đồng tín dụng. Bước 5: Gíải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng. Hợp đồng tín dụng đã được ký kết và được giám đốc ký duyệt, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân cho khách hàng tương ứng với số tiền đã được ký kết trong hợp đồng. Trong quá trình giải ngân, ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích, đúng tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ hay không, tài sản thế chấp có được giữ đảm bảo hay không, … Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thông tin về khách hàng, nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo, ngược lại,thì chất lượng khoản cho vay bị đe dọa. Bước 6: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới. 17 Đây là bước cuối cùng của quy trình cho vay khách hàng cá nhân. Cán bộ tín dụng theo dõi, đôn đốc việc trả nợ của khách hàng. Quá trình này giúp ngân hàng thu hồi gốc và lãi đồng thời xác định các nhu cầu mới của khách hàng. Nói chung, các khoản tín dụng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Nhưng trong một số trường hợp, các khoản tín dụng đã không được hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ, đúng hạn. Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho thấy các trục trặc trong hoạt động của khách hàng. Việc xem xét tìm nguyên nhân là rất quan trọng giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới để đảm bảo thu hồi khoản cho vay. Khi phát hiện các khoản nợ có dấu hiệu xấu song khách hàng vẫn kiên quyết tìm cách khắc phục để trả nợ, cán bộ tín dụng xem xét việc gia hạn nợ, bổ sung các điều kiện như giảm lãi hoặc cho vay thêm. Trong trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi nợ, bao gồm phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi,… 1.3 Hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.3.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Khi mà chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, con người từ nhu cầu ăn no mặc ấm dần chuyển sang ăn ngon mặc đẹp. Các dịch vụ phục vụ cho đời sống của con người cũng ngày được cải thiện. Tuy nhiên, trong một thời điểm nào đó người dân chưa thể có ngay được một số tiền phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính của mình, thực hiện cho vay đối với những người có nhu cầu về tài chính. Ngân hàng thực hiện việc này mục đích chính cũng là để tìm kiếm lợi nhuận, vì thế đối với những khoản tín dụng này họ phải thấy được hiệu quả trong việc cho vay, hiệu quả từ phía người đi vay và hiệu quả mà khoản vay mang lại cho ngân hàng. Xuất phát từ khái niệm về hiệu quả: hiệu quả là mối tương quan so sánh giữa 18 kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Ta có khái niệm về hiệu quả hoạt động cho vay: hiệu quả cho vay là khả năng đáp ứng một cách phù hợpnhất nhu cầu về vốn của khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng. Hiệu quả cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Hiệu quả cho vay là kết quả của một quá trình kết hợp hoạt động giữa những con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì mục đích chung, do đó để cho vay có hiệu quả cần có sự quản lý đồng bộ trong ngân hàng từ việc theo dõi, tìm hiểu và loại trừ những nguyên nhân gây ra những cản trở trong việc cấp tín dụng. Hiệu quả cho vay KHCN được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của KHCN, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Do đó, đánh giá hiệu quả cho vay KHCN người ta cũng dùng các tiêu chí để đánh giá cho vay khách hàng nói chung, tuy nhiên do đặc điểm riêng của KHCN nên những nhân tố thuộc về tính cách, tâm lý, … của khách hàng thường được xem xét khi đánh giá về hiệu quả cho vay. 1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân 1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính Chỉ tiêu định tính là nguyên tắc tiên quyết để thực hiện tốt hiệu quả cho vay, và là chỉ tiêu khó xác định chuẩn mực hơn các chỉ tiêu định lượng nhưng góp phần quan trọng vào việc đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM, đặc biệt là cho vay KHCN. Tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay có hiệu quả luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay. Từ những đặc điểm riêng của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất. Cụ thể là các ngân hàng lập ra Sổ tay tín dụng, trong đó đưa ra các khái niệm, quy định, quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho cán bộ 19 ngân hàng. Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có hiệu quả. Do vậy, việc tuân thủ những quy trình là một điều kiện quan trọng, tiền đề của một khoản cho vay có hiệu quả. Thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng cho vay (HĐTD): khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân hàng và khách hàng sẽ lập nên một HĐTD. Trong HĐTD sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay, phương thức hoàn trả gốc, trả lãi,… và được thể hiện ở dạng những cam kết. Một khoản vay được coi là có hiệu quả khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã kí trong HĐTD. Ngoài ra, hiệu quả của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như sự hài lòng của KHCN khi sử dụng các sản phẩm của ngân hàng và tính tiện ích của các sản phẩm đem lại cho họ hay các chỉ tiêu tác động đến xã hội như: tạo công ăn việc làm cho người lao động trên địa bàn, ổn định và nâng cao đời sống các gia đình,… 1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng Hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN được xem là đảm bảo khi được tài trợ bởi nguồn vốn ổn định, thực hiện được các mục tiêu tín dụng, khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn. Để đánh giá hiệu quả cho vay dưới góc độ của ngân hàng thì chúng ta có thể xem xét các chỉ tiêu sau: - Chỉ tiêu lợi nhuận từ cho vay KHCN: là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá kết quả cho vay KHCN của NHTM, với mục tiêu lớn nhất là gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng trong xu thế cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Việc tăng doanh số cho vay KHCN phải có kết quả là tăng lợi nhuận trên tổng doanh số cho vay thì việc cho vay mới được coi là đạt hiệu quả. Lợi nhuận cho vay KHCN năm sau phải cao hơn năm trước. Lợi nhuận cho vay KHCN Doanh thu cho vay = = Doanh thu cho vay KHCN Dư nợ cho vay 20 x Chi phí cho vay KHCN Lãi suất cho vay
- Xem thêm -