Nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương hải phòng

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng Trong nền kinh tế toàn cầu hóa ngày càng cao độ hiện nay, Việt Nam đang hòa nhập, phát triển kinh tế gắn liền với kinh tế khu vực và trên thế giới. Xu thế toàn cầu hóa và tự do thương mại diễn ra nhanh chóng đã giúp cho quan hệ thương mại và hợp tác quốc tế của Việt Nam với thế giới ngày càng phát triển, điều này đòi hỏi các hoạt động thanh toán quốc tế cũng phải được hoàn thiện và phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam thời gian qua phát triển với tốc độ cao, với mức tăng trưởng bình quân trên 7%/năm, quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, số lượng các doanh nghiệp ngày càng nhiều, quy mô sản xuất kinh doanh và trao đổi hàng hóa dịch vụ với thế giới ngày càng cao. Cùng với đó là việc hiệp định thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực, Mỹ đã áp dụng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam và Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Đây là cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại Việt Nam phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. Với hơn 30 năm phát triển và trưởng thành trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính, việc nâng cao và phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế của Chi nhánh ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng càng có ý nghĩa quan trọng. Chi nhánh đã khẳng định được vai trò chủ đạo và ưu thế lớn của mình trong hoạt động thanh toán quốc tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Hiện nay trên địa bàn thành phố Hải Phòng với sự có mặt của hầu hết các ngân hàng thương mại quốc doanh, các ngân hàng thương mại cổ phần lớn và các chi nhánh, văn phòng đại diện của các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài… tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giữ gìn thị phần đang có và mở rộng thêm khách hàng… dẫn đến hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng cũng chịu những tác động không nhỏ. Do đó nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ nói riêng là yêu cầu khách quan, cần thiết Xuất phát từ thực tiễn trên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng” Chuyên đề trình bày theo 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀN G THƯƠNG MẠI 1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại 1.1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là một trong những nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do thương mại đang diễn ra nhanh chóng và là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy các ngân hàng thương mại cũng như các bên tham gia phải hiểu rõ bản chất của thanh toán quốc tế, đồng thời tuân thủ một cách nghiêm túc trên nguyên tắc “bình đảng – cùng có lợi” Như vậy: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với các tổ chức quốc tế, thông qua hệ thống ngân hàng ở các nước khác nhau để thúc đẩy một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại ” 1.1.1.2 Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế quốc dân Hoạt động thanh toán quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển ngoại thương, là công cụ thúc đẩy quá trình hợp tác kinh tế giữa các nước với nhau. Khi hoạt động thanh toán giữa hai quốc gia được thực hiện nhanh chóng, chính xác, sẽ giảm được thời gian chu chuyển vốn, đồng thời đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa. Như vậy, có thể nói thanh toán quốc tế đã góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, giúp cho hoạt động ngoại thương thực hiện tốt chức năng của mình là mở rộng lưu thông hàng hoá trong và ngoài nước. Ở một khía cạnh khác, những lợi thế do hoạt động ngoại thương mang lại không chỉ còn đơn giản là gắn liền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới mà cao hơn nữa là sự thắt chặt quan hệ ngoại giao đưa các quốc gia tới một tiếng nói chung trên nhiều lĩnh vực như: chính trị, ngoại giao, văn hóa …Khẳng định uy tín và vị trí của đất nước trên trường quốc tế. Trong phạm vi của một quốc gia, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu còn được ghi chép, phản ánh trên cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia đó. Thông qua đó tất cả các chỉ tiêu như tình hình ngoại thương đang nhập siêu hay xuất siêu, những mặt hàng được xuất khẩu chủ lực, giá trị xuất nhập khẩu,… sẽ được phản ánh một cách rõ nét. Qua đó nhà nước có những quyết định điều chỉnh hợp lý trong hệ thống pháp luật, đề ra các chính sách thích hợp cho người dân và các doanh nghiệp trong nước như khuyến khích đầu tư, sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu, ưu tiên tài trợ nhập khẩu các mặt hàng chiến lược, thiết yếu.. Thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế là đồng nghĩa với việc thúc đẩy hoạt đông xuất nhập khẩu tạo cầu nối kinh tế trong và ngoài nước, góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước như: sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả, sử dụng tài nguyên hợp lý, nâng cao năng lực sản xuất trong nước… đảm bảo sự phát triển nhanh chóng, ổn định của nền kinh tế quốc dân. 1.1.1.3 Các công cụ dùng trong thanh toán quốc tế Khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán quốc tế các bên tham gia phải lựa chọn và sử dụng một trong các phương tiện thanh toán như: Séc, Hối phiếu, Kỳ phiếu, … để đem lại sự thuận tiện và hiệu quả.  Hối phiếu: là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhận hối phiếu hoặc đến một ngày nhất định ghi trên hối phiếu phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác, hoặc trả cho người cầm hối phiếu.  Séc: là tờ lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản yêu cầu Ngân hang trích từ tài khoản của mình trả cho người được chỉ thị có tên ghi trên séc hoặc người cầm séc một số tiền nhất định.  Kỳ phiếu: Là một chúng từ cam kết trả tiền do người lập hối phiếu ký phát để trả tiền cho người hưởng lợi một số tiền nhất định vào một ngày nhất đinh. Với tính chất thụ động như vậy nên kỳ phiếu ít được sử dụng trong thanh toán quốc tế.  Thẻ thanh toán: là một công cụ thanh toán không dung tiền mặt hiện đại và tiên tiến nhất thế giới hiện nay. Ngân hang phát hành và cung cấp thẻ cho khách hang sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các quầy tự động.. 1.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu được áp dụng tại Ngân hàng thương mại Trong thanh toán quốc tế người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức khác nhau, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà các bên tham gia sẽ đàm phán, thỏa thuận sử dụng một phương thức thanh toán thích hợp trên nguyên tắc cùng có lợi. Sau đây là một số phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng chủ yếu tại các ngân hàng thương mại hiện nay: * Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance). Thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán qua đó người trả tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu. Các bên tham gia thanh toán gồm: - Người yêu cầu chuyển tiền - Người thụ hưởng - Ngân hàng nhận ủy nhiệm chuyển tiền - Ngân hàng trả tiền Các hình thức chuyển tiền bao gồm: - Chuyển tiền bằng điện: là hình thức chuyển tiền mà trong đó lệnh thanh toán của Ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện và được gửi cho Ngân hàng thanh toán thông qua truyền tin của mạng viễn thông như SWIFT. - Chuyển tiền bằng thư: là hình thức chuyển tiền mà trong đó lệnh thanh toán của Ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư và được gửi cho Ngân hàng thanh toán. Ưu điểm: Đây là phương thức thanh toán đơn giản, thủ tục nhanh gọn, phí thanh toán thấp, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian Nhược điểm: Việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào thiên chí của người bán do đó dễ bị người mua chiếm dụng vốn trong thanh toán. Tuy nhiên người mua cũng có thể gặp rủi ro trong trường hợp thanh toán trả tiền trước cho người bán mà không nhận được hàng như trong hợp đồng. * Phương thức nhờ thu (Collection of Payment) Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán, theo đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, sẽ ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền trên cớ sở hối phiếu lập ra. Các bên tham gia thanh toán gồm: - Người yêu cầu uỷ nhiệm thu - Ngân hàng nhận uỷ thác thu - Ngân hàng xuất trình - Người trả tiền Phân loại: - Nhờ thu trơn (Clean Collection): Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người mua không qua ngân hàng. - Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng. Điều kiện thanh toán của phương thức thanh toán nhờ thu: Khách hàng cần chỉ rõ với Ngân hàng về yêu cầu thanh toán của mình, củ thể trả tiền theo điều kiện D/P hay D/A. - Nếu theo điều kiện D/P thì người mua phải thanh toán tiền trên hối phiếu mới nhận được chứng từ để nhận hàng - Nếu theo điều kiện D/A thì người mua nhận được bộ chứng từ khi họ đã ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu kỳ hạn. - Ưu, nhược điểm của phương thức nhờ thu: Ưu điểm: So với phương thức nhờ thu phiếu trơn phương thức nhờ thu kèm chứng từ đảm bảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán không chế bộ chúng từ hàng hóa đối với người mua. Nhược điểm: Người bán thông qua ngân hàng giữ bộ hồ sơ hàng hóa mới chỉ đảm bảo quyền sở hữu hàng hóa chứ chưa khống chế việc trả tiền của người mua. Trong phương thức này ngân hàng chỉ đứng vị trí trung gian thu tiền hộ người bán, ngân hàng không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua * Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary of Credit) Phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết trong đó ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tin dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định trong thư tín dụng. Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, nó bảo vệ được quyền lợi của cả người mua lẫn người bán. Nội dung của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chúng từ - UCP”. 1.2 THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤN G CHỨNG TỪ CỦA NHTM 1.2.1 Khái niệm: Thư tín dụng ((Letter of Credit - L/C) là một cam kết thanh toán của Ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều kiện của L/C. Các bên tham gia hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ gồm có: - Người yêu cầu mở thư tín dụng (The Applicant for The Credit): là người mua, người nhập khẩu hàng hoá. - Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank): là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu. - Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định. - Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng nhận L/C và thông báo cho người hưởng. - Ngoài ra, trong từng trường hợp còn có thể có các ngân hàng khác tham gia vào phương thức này như ngân hàng xác nhận, ngân hàng chỉ định, ngân hàng chiết khấu, ngân hàng hoàn trả… 1.2.2 Các loại thư tín dụng o Theo công dụng của thư tín dụng người ta phân ra: L/C có thể huỷ ngang ( Revocable letter of Credit). Là loại L/C có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi nhưng việc sửa đổi hay hủy bỏ phải được tiến hàng trước khi người bán giao hàng hay xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo L/C không huỷ ngang (Irrevocable letter of Credit) Là loại L/C sau khi đã được mở và người xuất khẩu thừa nhận thì trong thời gian hiệu lực không được sửa đổi, bổ xung hay hủy bỏ nếu như không có sự đồng ý của nhà xuất khẩu và các bên tham gia. L/C xác nhận (Confirming L/C) Là loại L/C không huỷ ngang được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo thanh toán cho L/C trong trường hợp hợp ngân hàng mở L/C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các quy định của L/C. Thư tín dụng miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C) Là loại L/C không huỷ ngang mà sau khi người bán đã được ngân hàng trả tiền rồi, nếu về sau có sự tranh chấp về chứng từ thanh toán thì người bán không phải hoàn trả số tiền họ đã nhận được trong bất cứ trường hợp nào. Khi dùng loại L/C này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu và L/C: "Without recourse to drawers" o Theo thời hạn thanh toán của thư tín dụng,: L/c trả ngay (Draft at sight L/C) Là loại L/C không thể huỷ ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình. Rủi ro trong loại thư tín dụng này là thường phải thanh toán trước khi nhận hàng vì hối phiếu và bộ chứng từ thường đến trước khi hàng cập cảng. L/C trả chậm (Deferred Payment L/C). Là loại L/C không huỷ ngang, trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền của L/C sau một thời gian khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng. L/C chấp nhận (L/C Available by Acceptance) Là loại L/C, trong đó ngân hàng mở L/C thực hiện chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định bên thứ ba chấp nhận hối phiếu với điều kiện người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C. Ngân hàng mở L/C trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu đã chấp nhận khi các điều kiện của L/C được đáp ứng đầy đủ. o Theo quan hệ đối tác: L/C trực tiếp(Straight L/C) Là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành L/C chỉ giới hạn duy nhất đối với người thụ hưởng L/C. Loại L/C này thường yêu cầu người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng phát hành L/C. L/C cho phép chiết khấu (l/C Available by Negotiation) Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành L/C uỷ quyền cho một ngân hàng khác hoặc cho phép bất kỳ ngân hàng nào mua lại bộ chứng từ hoàn hảo do người thụ hưởng xuất trình. o Một số loại L/C đặc biệt: L/C có điều khoản đỏ (Red clause L/C) Là loại L/C trong đó có một điều khoản ghi rõ điều khoản đặc biệt ngân hàng phát hành sẽ chuyển tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng thông báo để thực hiện ứng trước cho người hưởng một số tiền nhất định trước khi giao hàng. Thông thường số tiền này được tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị L/C và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời hạn quy định. L/C chuyển nhượng (Transferable L/C). Là loại L/C không huỷ ngang trong đó người hưởng lợi đầu tiên có thể yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị L/C cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ hai Mỗi L/C chỉ được quyền chuyển nhượng một lần và chi phí phát sinh trong việc chuyển nhượng sẽ do người hưởng lợi đầu tiên L/C tuần hoàn (Revolving L/C). Là loại L/C không huỷ ngang mà sau khi sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại (tự động) có giá trị như cũxong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và thông tin được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiên. Có hai L/C tuần hoàn: - L/C tuần hoàn có tích lũy – Cummulative revolving L/C - L/C tuần hoàn không có tích lũy – Non Cummulative Revoling L/C L/C giáp lưng (Back to Back L/C). Là loại L/C được mở trên cơ sở L/C mà nhà nhập khẩu đã mở cho nhà xuất khẩu để hưởng số tiền thanh toán cho nhà cung cấp, nhà xuất khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình mở L/C cho nha cung cấp hưởng với nội dung gần giống nhau, L/C được mở sau gọi là L/C giáp lưng, L/C đầu gọi là L/C gốc. Giữa 2 L/C có sự khác nhau: - Số chứng từ xuất trình của L/C giáp lưng nhiều hơn L/C gốc - Giá trị L/C giáp lưng thường nhỏ hơn L/C gốc - Thời hạn giao hàng L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc L/C đối ứng (Reciprocal L/C). Loại L/C không huỷ ngang này chỉ có hiệu lực khi L/C đối ứng với nó được mở có nghĩa là khi nhận được L/C do nhà nhập khẩu mở thì nhà xuất khẩu phải mở L/C tương ứng với giá trị. L/C dự phòng (Standby L/C). Là loại L/C được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C do nhà nhập khẩu mở nhưng lại không có khả năng giao hàng. Ngân hàng mở L/C cam kết với nhà nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, đồng thời bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho nhà nhập khẩu, nếu như nhầ nhập khẩu úng trước tiền hàng, tốn chi phí mở L/C hoặc đặt cọc một số tiền nhất định… 1.2.3 Đặc điểm của thư tín dụng (L/C). - Ngân hàng và các bên liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, không dựa trên hàng hóa dịch vụ. - Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ không quy định trong L/C. - L/C phải chỉ rõ là huy ngang hay không hủy ngang, nếu không chỉ ra như vậy thì được coi là không hủy ngang - Nếu chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản trong L/C hay mâu thuẫn với nhau thì chứng từ đó được coi là không phù hợp với các điều khoản trong L/C - Ngân hàng được chỉ định nếu có hoặc ngân hàng phát hành có tối đa 5 ngày làm việc sau xuất trình chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác định chứng từ phù hợp hay không phù hợp. - Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin. 1.2.4 Quy trình nghiệp vụ của phương thức tín dụng chứng từ. NGÂN HÀNG MỞ L/C (7) (6) (5) (2) NGÂN HÀNG THÔNG BÁO L/C / NGÂN HÀNG TRẢ TIỀN (8) (7) (1) (3) NGƯỜI NHẬP KHẨU (5) (6) NGƯỜI XUẤT KHẨU (4) (1) Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương, người nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ mình. (2) Căn cứ vào nội dung và yêu cầu của đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ mở thư tín dụng và gửi thông báo kèm bản gốc L/C cho ngân hàng thông báo. (3) Sau nhận được L/C, ngân hàng thông báo sẽ thông báo và chuyển bản gốc L/C cho người xuất khẩu. (4) Người xuất khẩu nhận được L/C, nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không chấp nhận một số điều khoản nào đó trong L/C thì đề nghị sửa đổi, bổ xung L/C cho phù hợp hợp đồng. (5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C, xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C để xin thanh toán. (6) Sau khi nhận được bộ chứng từ hoàn chỉnh do người xuất khẩu lập, ngân hàng mở L/C sẽ kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ phù hợp thì tiến hành trả tiền người xuất khẩu, nếu không phù hợp ngân hàng có quyền từ chối thanh toán và trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu. (7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán. (8) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ và tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. 1.3 CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG TH ƯƠNG MẠI. 1.3.1 Khái niệm chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của Ngân hàng thương mại “Chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ nói riêng cũng như các hoạt động khác của ngân hàng thương mại là đặc tính làm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng”. Người ta chỉ có thể đánh giá được mức độ thỏa mãn nhu cầu mà sản phẩm dịch vụ đem lại khi đã tiêu dùng, sử dụng dịch vụ đó. Điều này hết sức khó khăn vì việc đánh giá này hoàn toàn phụ thuộc vào cảm nhận riêng của mỗi người. 1.3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của NHTM 1.3.2.1 Tính an toàn và chính xác Bất kỳ trong hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng đều cần sự chính xác và an toàn, và hoạt động thanh toán quốc tế cũng không nằm ngoài yêu cầu đó. Điều này càng đặc biệt quan trọng và cần thiết trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ, bởi trong phương thức thanh toán này hầu như các bên liên quan chỉ căn cứ vào bộ chứng từ và L/C mà không phụ thuộc vào thực tế của hàng hóa. Thông thường một nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng có liên quan đến nhiều bên, nhiều loại mặt hàng, với quy mô và giá trị lớn do đó trong nghiệp vụ này không cho phép ngân hàng có những sai sót dẫn đến rủi ro, nó đòi hỏi cán bộ ngân hàng nắm chắc quy trình nghiệp vụ, phát hiện và xử lý một cách kịp thời các tình huống gây ra tổn thất cho các bên. Ngoài ra tính chính xác của nghiệp vụ còn thể hiện ở nhiều mặt về số lượng, chất lượng, về mặt thời gian, quá trình thực hiện thanh toán… Thực hiện tốt điều này không những sẽ giúp ngân hàng tạo được uy tín với khách hàng mà còn khẳng định chất lượng dịch vụ của mình với các đối tác nước ngoài. Trong hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ, khách hàng đến với ngân hàng nhằm mong muốn hạn chế thấp nhất các rủi ro, nâng cao mức độ an toàn trong thanh toán vì vậy ngân hàng phải đảm bảo mức độ an toàn cho khách hàng, đây chính là điều kiện cho khách hàng thấy được tính hữu ích của ngân hàng mang lại. Như vậy, tính chính xác an toàn là một yếu tố quyết định tới chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. Đồng thời đây cũng là điều kiện để đánh giá hiệu quả hoạt động của dịch vụ. 1.3.2.2 Tính nhanh chóng và kịp thời Nhanh chóng và kịp thời là một khái niệm để chỉ khả năng đáp ứng nhu cầu của một sản phẩm, dịch vụ nào đó so với yêu cầu thời gian đặt ra. Trong hoạt động kinh doanh, tính nhanh chóng kịp thời đảm bảo rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, tăng số vòng quay của vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Với một ngân hàng hoạt động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng luôn có những biện pháp hợp lý nhằm tiết kiệm thời gian một cách tối đa cho khách hàng mà không ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế một cách nhanh chóng và kịp thời không những giúp ngân hàng đẩy nhanh hoạt động của mình mà còn giúp khách hàng đáp ứng nhu cầu về mặt thời gian, giúp họ đảm bảo tiến độ thực hiện hợp đồng kinh doanh. Như vậy khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm và tin tưởng vào ngân hàng hơn khi họ thấy được rằng chính ngân hàng cũng đang giúp họ tiết kiệm từng giây quý báu. 1.3.2.3. Giữ được uy tín với khách hàng Khách hàng là đối tượng chủ yếu tạo nên doanh thu cho mọi hoạt động của ngân hàng, do vậy có thể nói khách hàng vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mọi ngân hàng. Trong thời gian gần đây khi mà cạnh tranh thương mại diễn ra gay gắt, các ngân hàng không ngừng thu hút những khách hàng mới, những khách hàng tiềm năng, và giữ được các khách hàng truyền thống bằng một loạt các hoạt động như: phục vụ khách hàng ngoài giờ hành chính, đến tận nơi để thu tiền… Để có thể cạnh tranh một cách lành mạnh, lâu dài các ngân hàng đã và đang không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ nói chung, hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng. 1.3.2.4 Các chỉ tiêu định lượng Bên cạnh các chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ người ta có thể căn cứ ào các chỉ tiêu định lượng sau. - Thị phần thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại đó trên địa bàn. - Doanh số thực hiện được bằng phương thức tín dụng chứng từ. - Sự đa dạng, phong phú của các sản phẩm thanh toán quốc tế. - Số lượng khách hàng thực hiện thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thượng mại đó. 1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ C ỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG M ẠI. 1.4.1 Các nhân tố chủ quan 1.4.1.1 Tiềm lực của ngân hàng thương mại. Thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ nói riêng phần lớn liên quan đến nguồn vốn ngoại tệ, đặc biệt luôn đòi hỏi ngân hàng phải có một lượng ngoại tệ lớn để đáp ứng khả năng thanh toán. Do vậy một ngân hàng thương mại có nguồn vốn lớn về ngoại tệ sẽ luôn chiếm được ưu thế trong hoạt động thanh toán quốc tế. Mặt khác quy mô, khả năng cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ quốc tế cũng tác động không nhỏ đến phạm vi hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức chứng từ của một ngân hàng. Như vậy tiềm lực của ngân hàng thương mại là một nhân tố quyết định sự phát triển và mở rộng hoạt động thanh toán của chính ngân hàng đó. 1.4.1.2 Uy tín của ngân hàng ở trong nước và quốc tế. Trên lĩnh vực tài chính - tiền tệ thì uy tín và thương hiệu của một ngân hàng thương mại trên thị trường trong nước cũng như trên thị trường quốc tế rất quan trọng, nó có thể quyết định sự tồn tại hay không của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động có hiệu quả khi mà ngân hàng đó nhận được sự tin tưởng, tín nhiệm của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ được cung cấp. Khi uy tín và thương hiệu đã được khẳng định và chiếm lĩnh trên thị trường sẽ giúp cho hoạt động nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng của ngân hàng được mở rộng một cách đáng kể. 1.4.1.3 Mạng lưới ngân hàng đại lý của ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ liên quan tới nhiều các quốc gia, vùng lãnh thổ và nhiều khu vực khác nhau, do đó hệ thống mạng lưới các ngân hàng đại lý của một NHTM luôn chiếm một vị trí quan trọng. Một ngân hàng có mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới sẽ là điều kiện thuận lợi để các thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế được tiến hành trôi chảy và có hiệu quả và ngược lại nếu bị hạn chế về mạng lưới ngân hàng đại lý thì nghiệp vụ thanh toán quốc tế chắc chăn sẽ không thể phát triển được. 1.4.1.4 Trình độ của cán bộ. Trong bất cứ hoạt động nào trên mọi lĩnh vực thì yếu tố con người luôn được đặt lên hàng đầu, đây là yếu tố quyết định đến kết quả hoạt động. Đặc biệt trong hoạt động của ngân hàng thương mại luôn cần có những cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình với công việc bởi họ là những người tham gia trực tiếp vào quá trình đưa sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến với khách hàng. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ là một nghiệp vụ phức tạp do đó những bấp cập về trình độ của cán bộ thanh toán sẽ tác động rất lớn đến chất lượng dịch vụ này. 1.4.1.5 Trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ thanh toán. Hiện nay tất cả các ngân hàng đều quan tâm đến đổi mới công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên sự phát triển không đồng đều về công nghệ giữa các ngân hàng có thể cản trở việc ứng dụng các nghiệp vụ mang tính chất toàn ngành, gây khó khăn cho việc liên kết nhằm hợp tác khai thác các dịch vụ. Hoạt động thanh toán quốc tế có là một trong những nghiệp vụ đòi hỏi có sự tham gia của các thiết bị truyền tin và hệ thống máy móc trợ giúp do đó một ngân hàng có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt và trình độ công nghệ trong thanh toán cao sẽ có điều kiện phát triển, mở rộng hoạt động. 1.4.1.6 Hoạt động marketing ngân hàng. Có thể khẳng định các ngân hàng thương mại hiện nay đang cố gắng xây dụng thương hiệu cho mình thông qua các dịch vụ truyền thông, tiếp thị… Hoạt động marketing ngân hàng nhằm quảng bá hình ảnh của ngân hàng, tạo cho khách hàng truyền thống lòng tin vào các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đã và đang cung cấp, thu hút khách hàng mới, mở rộng thị trường... Hiệu quả của marketing ngân hàng cũng sẽ góp phần không nhỏ đến hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại. 1.4.2 Các nhân tố khách quan 1.4.2.1 Môi trường kinh tế - tự nhiên - xã hội Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, sự ổn định hay mất ổn định của kinh tế - xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng. Các biến số vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng của nền kinh tế hay tình hình xã hội như chiến tranh, nổi loạn, đảo chính… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế. Một nền kinh tế phát triển ổn định và tạo được uy tín, niềm tin với các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ giúp cho hoạt động giao thương thương mại phát triển nhanh chóng, hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại từ đó được đẩy mạnh, nâng cao về chất lượng, quy mô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế làm cán cân thanh toán của quốc gia bị mất cân bằng dẫn đến đồng nội tệ bị mất giá mạnh so với đồng ngoại tệ, làm giảm khả năng chi trả của người mua. Hoạt động thanh toán quốc tế cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của môi trường tự nhiên, xã hội. Trong trường hợp xảy ra các biến động lớn như chiến tranh, nổi loạn, thiên tai thì thiệt hại rất dễ xảy ra cho người xuất khẩu, người nhập khẩu và cả ngân hàng. Không có một thương gia nào lại muốn lựa chọn đối tác của mình ở một nước có những biến động về chính trị, họ có thể không nhận được hàng (trong trường hợp là nhà nhập khẩu) hoặc không nhận được tiền (trong trường hợp là nhà xuất khẩu), đây là những rủi ro bất khả kháng và thông thường không có những bảo hiểm cho rủi ro dạng này. 1.4.2.2 Chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng việc hoạch định các chính sách vĩ mô, nó tác động lên toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng. Bất kỳ một sự thay đổi nào trong chính sách kinh tế đối ngoại như mở của nền kinh tế, khuyến khích tự do thương mại đã sẽ tạo ra những thuận lợi đặc biệt đối với các loại hình dịch vụ như thanh toán quốc tế. Môi trường pháp lý cũng là một yếu tố đảm bảo cho chất lượng thanh toán, sự không ổn định về mặt pháp lý cũng gây ra khó khăn cho các đối tác tham gia vào nghiêp vụ thanh toán quốc tế khi không phản ứng kịp với những thay đổi này. Mọi ngân hàng thương mại đều phải am hiểu tất cả các thông lệ và luật pháp riêng cảu mỗi quốc gia để tránh rủi ro cho khách hàng và chính ngân hàng. 1.4.2.3 Chính sách quản lý ngoại hối của quốc gia Chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng vận động của ngoại hối từ nước ngoài vào và từ trong nước ra, nó tác động tới mọi quan hệ kinh tế đối ngoại bằng ngoại tệ. Nó có vai trò quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền tệ trong thanh toán. Một chính sách quản lý ngoại hối của nhà nước nếu phù hợp với cung, cầu trên thị trường sẽ giúp cho các ngân hàng trong việc cân đối ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế và thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chúng từ. Bên cạnh đó, sự biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương của một nước, khi tỷ giá hối đoái tăng thì khối lượng hàng hóa nhập khẩu vào nước đó có xu hướng tăng lên, còn khối lượng hàng hóa xuất khẩu lại có xu hướng giảm xuống và ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm. Để thực hiện các giao dịch ngoại thương đòi hỏi nhiều thời gian để hoàn tất các thủ tục và nếu trong khoảng thời gian này có sự biến động đột ngột của tỷ giá tất yếu dẫn đến việc gây thiệt hại cho người mua hoặc người bán. Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng để hoàn tất một giao dịch thương mại quốc tế, đó là việc thanh toán, chi trả ngoại tệ giữa các bên liên quan. Giá trị ngoại tệ thu được chịu ảnh hưởng rất lớn bởi biến động về tỷ giá cho nên trong nhiều trường hợp biến động tỷ giá có thể khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu, dẫn đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại biến đổi theo. Với ngân hàng thì việc tỷ giá không ổn định sẽ ảnh hưởng đến thu nhập từ phí thanh toán và nguồn ngoại tệ để duy trì hoạt động thanh toán quốc tế bị xáo trộn. Có những trường hợp ngân hàng phải chịu thiệt để giữ uy tín. 1.4.2.4 Yếu tố khách hàng Trong thanh toán quốc tế việc thanh toán nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào thời gian xuất trình chứng từ cũng như sự hoàn hảo của bộ chứng từ đó. Vì vậy trình độ hiểu biết của khách hàng trong nghiệp vụ ngoại thương rất quan trọng. Với những khách hàng mới còn non yếu về chuyên môn, không nắm vững các thông lệ quốc tế, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp các nước đối tác sẽ không tránh khỏi những bỡ ngỡ, không am hiểu trong thanh toán quốc tế dẫn đến hợp đồng thiếu chặt chẽ, sai sót trong định giá…gây thiệt hại không những cho chính họ mà còn cho cả bản thân ngân hàng. Thực lực tài chính của khách hàng cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại. Khi năng lực về tài chính của khách hàng yếu kém thì chỉ cần một tác động nhỏ từ bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh tức là ảnh hưởng tới khả năng giao hàng hoặc thanh toán tiền. Bên cạnh đó đạo đức kinh doanh của khách hàng là một vấn đề mà mọi ngân hàng đều phải quan tâm, trong thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ thì việc việc thanh toán dựa trên bộ chứng từ nên có thể lập bộ chứng từ giả để đánh lừa ngân hàng. Với công nghệ ngày càng phát triển thì việc lập bộ chứng từ giả trong thanh toán ngày càng tinh vi, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có kinh nghiệm nghiệp vụ và kỹ thuật tốt mới có thể phát hiện những trường hợp cố tình lừa đảo của khách hàng. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI PHÒNG 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI PHÒNG 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng Ngân hàng ngoại thương Việt nam thành lập năm 1963, tên giao dịch tiếng Anh là VIETCOMBANK, trụ sở chính tại số 198 Trần Quang Khải - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Đến năm 1977 Tổng giám đốc (nay là Thống đốc) ngân hàng Nhà nước Việt nam đã ký quyết định thành lập Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hải phòng, trụ sở Chi nhánh tại số 11 Hoàng Diệu - Hồng Bàng - Hải Phòng. Trải qua 31 năm xây dựng và trưởng thành,chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hải phòng không ngừng được củng cố và phát triển. Cùng với sự đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước là phát triển kinh tế nhiều
- Xem thêm -