NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 35 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15341 tài liệu

Mô tả:

BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP. ĐỀ TÀI: " NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP." PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Tầm quan trọng và ý nghĩa của đề tài: Tầm Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học công nghệ, giáo dục và nhân văn. Thế kỷ cần có những con người hoàn thiện về mọi mặt, biết làm chủ xã hội, thích ứng được với mọi hoàn cảnh trong xã hội. Để có được những con người đủ phẩm chất, năng lực vững bước trong thế kỷ XXI thì đòi hỏi người giáo viên Tiểu học, người " xây" " Bậc học nền tảng" của giáo dục phải biết nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, một trong những công tác không thể thiếu của người giáo viên trong giảng dạy, giáo dục là làm công tác chủ nhiệm giỏi. Trong mỗi giờ học, học sinh muốn lĩnh hội được tri thức tốt thì việc giữ nề nếp là yếu tố ảnh hưởng tích cực nhất. Cũng từ yếu tố này học sinh mới say mê, hứng thú tiếp thu bài một cách chủ động, sáng tạo. Phải dạy đủ các môn học nên giáo viên tiểu học luôn gắn liền với công tác chủ nhiệm lớp theo quy định của Điều lệ trường tiểu học. Làm công tác chủ nhiệm lớp không phải là một công việc dễ. Bởi công tác chủ nhiệm hội tụ đủ cả kĩ năng sư phạm, khả năng nắm bắt tâm lý học sinh và phương pháp giảng dạy học sinh tiểu học. có khi giáo viên đóng vai trò như người mẹ, có khi như người chị, có khi chỉ như người bạn của các em. Làm công tác chủ nhiệm làm thế nào để tạo cho các em có hứng thú khi đến trường, các em ham học và học đạt hiệu quả cao. Điều đó luôn thôi thúc tôi cố gắng bằng mọi nỗ lực nắm bắt ở các em và đưa hết khả năng của bản thân để đạt được mong muốn. Qua nhiều năm tôi được phân công làm chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5 tại trường Tiểu học Lê Văn Thọ, lúc đầu tôi thấy việc rèn nề nếp cho học sinh của các giáo viên 1 nói chung là chưa được tốt, nhất là vào dự giờ thăm lớp, việc quản lý học sinh từ lời nói đến cách đối xử của giáo viên...chưa thực sự chuẩn mực khiến "Tâm" của người giáo viên trong tôi trăn trở, suy nghĩ. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, việc quản lý, giảng dạy học sinh của giáo viên là vấn đề "nhạy cảm". Chỉ cần một sơ suất nhỏ của giáo viên sẽ dẫn đến hậu quả khó lường. Trải qua 19 năm giảng dạy, nhất là 3 năm gần đây, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài này trao đổi với các đồng nghiệp để cùng nhau tham khảo về công tác chủ nhiệm lớp trong buổi thuyết trình . PHẦN II. NỘI DUNG 1. Một số vấn đề về công tác chủ nhiệm lớp ở tiểu học: 1.1. Mỗi lớp ở tiểu học có một giáo viên vừa làm công tác, vừa làm công tác chủ nhiệm lớp ( Theo điều lệ trường tiểu học). Giáo viên chủ nhiệm phải chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng, trước phụ huynh học sinh về mọi mặt của lớp mình phụ trách. 1.2. Những công việc cần và đủ trong công tác chủ nhiệm lớp. a. Xây dựng và thực hiện công tác chủ nhiệm gắn với kế hoạch dạy học; có các biện pháp giáo dục; quản lý học sinh một cách cụ thể, phù hợp với đặc điểm học sinh của lớp; Tổ chức dạy học theo nhóm đối tượng đúng thực chất, không mang tính hình thức; đưa ra được những biện pháp cụ thể để phát triển năng lực học tập của học sinh và thực hiện giáo dục học sinh cá biệt, học sinh khuyết tật; Phối hợp với gia đình và các đoàn thể ở địa phương để theo dõi làm công tác giáo dục học sinh; Tổ chức các buổi ngoại khóa, phối hợp với Tổng phụ trách đội, tạo điều kiện để Đội thiếu niên, Sao nhi đồng thực hiện các hoạt động tự quản. b. Thực hiện thông tin hai chiều trong quản lý chất lượng học sinh: Thường xuyên trao đổi góp ý với học sinh về tình hình học tập, tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các giải pháp cải tiến chất lượng học tập sau từng kỳ; Dự giờ 2 đồng nghiệp theo quy định. Tham gia thao giảng, chuyên đề, sinh hoạt tổ chuyên môn đầy đủ và góp ý xây dựng để tổ, khối chuyên môn đoàn kết vững mạnh; Họp phụ huynh học sinh đúng quy định, có sổ liên lạc thông báo kết quả học tập của học sinh, tuyệt đối không phê bình học sinh trước lớp hoặc toàn bộ phụ huynh; lắng nghe và cùng phụ huynh điều chỉnh biện pháp giúp đỡ học sinh tiến bộ; Biết cách xử lý tình huống cụ thể để giáo dục học sinh vận dụng và tổng kết sáng kiến kinh nghiệm giáo dục; ứng xử với đồng nghiệp, cộng đồng luôn giữ đúng phong cách nhà giáo. c. Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy: Lập đủ hồ sơ để quản lý quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; bảo quản tốt các bài kiểm tra của học sinh; Lưu trữ tốt hồ sơ giảng dạy bao gồm giáo án, các tư liệu, tài liệu tham khảo thiết thực liên quan đến giảng dạy các môn học được phân công dạy; Sắp xếp hồ sơ một cách khoa học, đúng thực tế và có giá trị sử dụng cao; Lưu trữ tất cả các bài làm của học sinh chậm phát triển và học sinh khuyết tật để báo cáo kết quả giáo dục về sự tiến bộ của học sinh. 2. Thực trạng của vấn đề: a. Ưu điểm: - Giáo viên tiểu học hiện nay đã được đào tạo chuẩn và trên chuẩn. Một giáo viên vừa dạy kiến thức vừa chủ nhiệm nên nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh, cá tính, học lực ... của học sinh . Đó là những điều kiện học sinh thuận lợi. - Giáo viên hầu hết đã nhiều năm trong nghề làm công tác chủ nhiệm nên ít nhiều có kinh nghiệm trong cách quản lý, giáo dục học sinh. - Công tác chủ nhiệm hiện nay đã nhận được sự hỗ trợ về giáo dục tay ba " Nhà trường- gia đình- xã hội". Đó là thuận lợi lớn cho giáo viên trong suốt năm học chủ nhiệm các em. 3 - Là học sinh tiểu học nên các em luôn tin tưởng vào giáo viên chủ nhiệm, các em xem giáo viên chủ nhiệm như tấm gương sáng, như một "Luật sư" trong môi trường học tập, sinh hoạt của mình. b. Tồn tại: - Sĩ số lớp quá đông (50 hs) nên việc quan tâm, quản lí, nắm bắt hoàn cảnh của tất cả hs gặp nhiều khó khăn. - Một số giáo viên chưa coi trọng công tác chủ nhiệm, vì vậy xảy ra tình trạng, có giáo viên ở đó thì học sinh mới ngoan, không có giáo viên ở đó, lớp học ồn ào, mất trật tự. - Công tác chủ nhiệm gắn với các hoạt động khác nên ít nhiều giáo viên còn lúng túng, chưa có các biện pháp rõ ràng, cụ thể dễ dẫn đến "việc nọ xọ việc kia", ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy, giáo dục của lớp. 3. Nguyên nhân của thực trạng: * Về phía học sinh: + Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi: Các em còn nhỏ tuổi, nhận thức còn hạn chế. Tư duy chưa mang tính lô gíc, chưa bền vững. Các em hiếu động, tò mò, thích khám phá nhưng ham chơi, chóng quên. Nếu không có sự nhắc nhở của người lớn ở nhà và của thầy cô giáo ở trường thì những em học tốt cũng sẽ không chăm học chứ chưa nói đến những em học còn non. Nhiều em bố mẹ quan tâm chưa đúng mức. Năm nay con học với cô giáo, thầy giáo nào không hề biết. Đồ dùng sách vở mua sắm cho con không đầy đủ, ở nhà con học bài, bố mẹ không kèm, quản. Thậm chí, cô giáo, thầy giáo viết giấy về nhà thông báo con không học bài, không làm bài đầy đủ khi đến lớp, nhưng bố mẹ không phản hồi gì. Coi như đó là việc của cô, thầy. * Về phía giáo viên: 4 Do điều tra thăm dò chưa cụ thể. Vì thế chưa nắm rõ hoàn cảnh của từng học sinh. Chưa thống kê đầy đủ các số liệu cần thết để phân loại đối tượng học sinh. Học sinh xếp hạnh kiểm thế nào? Số học sinh có học lực xếp loại giỏi, khá, trung bình, yếu? Số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh khó khăn ? Số học sinh cá biệt ? Số học sinh có năng lực về hoạt động khác ? Số học sinh chữ viết đẹp ?... Vì thế dẫn đến việc giáo viên quan tâm chưa đúng mức tới từng đối tượng học sinh. Chưa nắm chắc đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học. Có lúc chưa mẫu mực trước các em. Chưa dùng phối hợp nhiều biện pháp để giáo dục học sinh. 4. Mục đích nghiên cứu: - Tìm các biện pháp thực hiện nhằm giúp giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm. - Một số kiến nghị đề xuất về công tác chủ nhiệm giỏi đối với học sinh tiểu học. 5. Đối tượng nghiên cứu: - Học sinh lớp 5/14 trường Tiểu học Lê Văn Thọ - Tâm sinh lý học sinh tiểu học - Các thực trạng- biện pháp để làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh tiểu học. 6. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu tài liệu về tâm lý- giáo dục học (giáo trình dành cho cấp tiểu học). - Nghiên cứu chủ đề năm học và các cuộc vận động của các cấp phát động. - Nghiên cứu nội dung, phương pháp thực hiện công tác chủ nhiệm. - Nghiên cứu các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. 7. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp lý luận sư phạm. - Phương pháp thực nghiệmn sư phạm. - Phương pháp quan sát. 5 8. Một số biện pháp thực hiện * Biện pháp 1: Điều tra phân loại Quá trình điều tra khảo sát: Từ đầu năm học trước được phân công chủ nhiệm lớp nào tôi cũng tìm hiểu tình hình chung của lớp qua giáo viên chủ nhiệm lớp dưới, qua lời phê trong học bạ, qua cán bộ lớp cũ,... Vì thế tôi đề ra được nhiều biện pháp hạn chế tối đa những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến quá trình phấn đấu của các em. Tôi tìm các giải pháp nhằm động viên khích lệ những em học tốt kèm cặp các em học non hơn. Kết quả mà tôi thu được từ công tác chủ nhiệm hằng năm khá thuyết phục. Năm học 2013- 2014, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5/14. Với kinh nghiệm của những năm trước, đầu năm tôi tiến hành điều tra khảo sát để nắm rõ đặc điểm, ưu, nhược của từng học sinh và tổng thể của lớp. Tôi cho các em tự khai vào mẫu in sẵn những thông tin mà tôi cần nắm: năm học 2012- 2013 đạt danh hiệu gì, hạnh kiểm xếp loại nào, học lực xếp loại nào trong bốn loại, chữ viết xếp loại gì, gia đình thuộc diện chính sách nào không, bản thân có bệnh tật gì qua lời dặn dò của bố mẹ, … Qua phiếu điều tra tôi nắm được cụ thể như sau: HSTT 15 ( chiếm 30 %) HSG 25 ( chiếm 50 %) HS học lực TB 9 ( chiếm 18 %) HS học lực yếu 1 ( chiếm 2 %) HS sức khỏe yếu, bệnh tật 2 (1 em bị bệnh về tim, 1 em bị bệnh về mắt) HS có vở xếp A 7 ( Trong đó có 3 A+ ) HS có HK tốt 49 ( chiếm 98 %) HS cá biệt 1 ( chiếm 2 %) HS nghèo 4 HSG giải toán qua mạng Internet không 6 Qua điều tra khảo sát, tôi khái quát được thực trạng của lớp. Thực trạng của lớp ( như trên) để đạt được chỉ tiêu: HSG theo TT 32: 34 em, HSTT theo TT 32 là 8 em. HS đạt Giải toán qua mạng là 2 em. HS đạt Viết chữ đẹp: 4 em. Học sinh có hạnh kiểm tốt: 50 em. Chất lượng đại trà 100%. Công tác đội: Đạt giải các phong trào, nếu giáo viên không có sự đầu tư tìm hiểu cụ thể từ đầu, không có những biện pháp phù hợp thì e rằng khó có thể hạn chế được những ảnh hưởng từ thực trạng chứ chưa nói đến đạt được chỉ tiêu đề ra. Sau khi điều tra phân loại học sinh, tôi đặc biệt chú ý đến những em có đạo đức tốt, vì đây là nhân tố ảnh hưởng đến nề nếp lớp học. Lớp có một số em có đạo đức tốt, mọi hoạt động tự giác, tích cực nổi trội hơn như: em Luyến, em Cương, em Bảo Ngọc, em Phùng Yến Nhi,... Những em này, vừa học giỏi vừa đạo đức tốt nên các em luôn là tấm gương về mọi hoạt động của lớp, có "uy tín" với những học sinh khác. Khi cho học sinh làm tờ khai gần giống như là sơ yếu lý lịch, tôi cho các em tự nhận loại hạnh kiểm, để các em tự thấy mình đang ở mức nào, cũng một lần tôi biết khả năng tự đánh giá của các em, một trong các tiêu chí trong đổi mới cách đánh giá học sinh tiểu học. Từ đó tôi phân chia tổ học tập, phân công quản lý, gắn rõ trách nhiệm cho từng em. Những em có đạo đức tốt ngồi cạnh những em cá biệt hoặc chưa thật chăm chỉ để các em giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động. Những em học khá, giỏi ngồi cạnh những em học còn non hơn để thực hiện đôi bạn cùng tiến. Tôi đặc biệt chú trọng đến em Hoàng Anh, em có hoàn cảnh gđ ba mẹ li dị sống với mẹ. Vì thiếu sự quan tâm của gđ nên em thường hay bỏ học đi chơi internet , không chịu học bài và làm bài . Tôi phân em Nguyễn Hữu Cương ngồi cạnh em Hoàng Anh, để Cương thường xuyên giúp đỡ bạn. Bởi tục ngữ đã đúc kết lại: "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" mà. Đúng như nhận định, Hoàng Anh ngày một tiến bộ. - Tôi cùng học sinh của lớp sắp xếp lại lớp học đảm bảo tính mỹ quan, trang trí lớp đẹp, hài hòa, sạch sẽ, bàn ghế ngay ngắn, thẳng hàng. Tranh ảnh, bảng biểu,...sắp 7 xếp theo môn để tiện sử dụng. Sắp xếp chỗ ngồi cho các em phù hợp chung cho toàn lớp: Nhỏ xếp ngồi trước, những em tai mắt kém phải có chỗ ngồi thích hợp; những học sinh chưa thật chăm chỉ hay nói chuyện riêng hoặc học sinh cá biệt tôi thường sắp xếp các em ngồi lên phía trên và ngồi hai đầu bàn phía giữa lớp để giáo viên dễ quan sát, dễ nhắc nhở, giúp các em tập trung học tập. Hàng tuần, đổi chỗ ngồi luân phiên để tránh các bệnh về mắt, cột sống. Tránh hiện tượng có em cả năm học chỉ ngồi đúng một vị trí trong lớp học. * Biện pháp 2: Đối xử công bằng - Là một người giáo viên thì phải thực sự đi sâu, đi sát học sinh. Phải có tình cảm gắn bó như “người mẹ đối với đàn con”. Người giáo viên chủ nhiệm phải thực sự công bằng, rõ ràng để chỉ cho học sinh thấy rõ những ưu điểm, nhược điểm và chí hướng phấn đấu quyết tâm sửa chữa. Đây là mẫu chốt để học sinh tôn trọng giáo viên. Không có ý thức bao che cho học sinh nào, đặc biệt là con em giáo viên trong trường, con em cán bộ phường, hội phụ huynh... Lớp tôi có hai em là cháu của hai giáo viên trong trường. Tôi không bao giờ xuề xòa đối với các em. Chỉ cần tôi bao che hoặc có hành động nào tương tự cho con giáo viên thì lập tức sự tin yêu của các em đối với tôi sẽ ra đi. Đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn thì giáo viên phải tìm cách giúp đỡ, động viên, an ủi về mặt tinh thần để các em có điểm tựa tự tin khắc phục khó khăn vươn lên trong học tập. Lớp tôi có 4 em trong diện học sinh nghèo . Tôi luôn tìm cách động viên các em và gia đình cho con đi học đều đặn. Tôi đã động viên các bạn trong lớp tham gia tốt phong trào “Nụ cười hồng”, “Nuôi heo đất”, để góp phần nào động viên các em trong học tập. - Trong giảng dạy phải chú trọng môn đạo đức. Phải biết liên hệ, kết hợp giáo dục trong những môn học khác. Giáo viên phải gần gũi với học sinh. Hỏi han các em khi các em có điều buồn, vui để các em yêu mến cô hơn. Phải xem học sinh như con của mình, thường xuyên nhắc nhở tắm rửa, cắt tóc, gội đầu, đánh răng, cắt móng tay, đánh giày dép sạch sẽ,... nhất là những học sinh cá biệt. Chúng ta không được mắng 8 nhiếc các em, khinh thường các em, mà phải càng yêu thương, càng gần gũi các em hơn. Như thế mới có thể cảm hoá và giáo dục các em được tốt. * Biện pháp 3: Giáo viên phải gương mẫu - Giáo viên phải có thái độ đúng mức đối với những em vi phạm khuyết điểm. Bản thân giáo viên phải thực sự gương mẫu, khi đứng trước học sinh từ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng,... Phải đoàn kết và giáo dục các em tinh thần đoàn kết, nhân ái. Một việc làm tuy nhỏ nhưng xét đến cùng nó không nhỏ chút nào là việc đứng dậy chào cô giáo vào lớp. Tôi luôn nhắc nhở các em khi chào cô giáo, thầy giáo vào lớp cần đứng ngay ngắn để tỏ thái độ kính trọng. Giáo viên viết bảng phải ngay ngắn, đúng mẫu chữ để học sinh làm theo. - Rèn cho học sinh cách ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ phù hợp với thời tiết. Biết cách nói năng khiêm tốn, đối xử với người trên phải thể hiện sự kính trọng, lễ phép, biết ơn. Đối với bạn bè phải thể hiện ý thức đoàn kết, gắn bó, thân thiết, giúp đỡ nhau, vui vẻ, hoà nhã,... - Các giờ sinh hoạt ngoài trời giáo viên phải theo dõi sát sao, phải tỏ thái độ gần gũi nhưng rất nghiêm khắc. Yêu cầu và rèn cho học sinh có tác phong nhanh gọn và làm các động tác đúng kĩ thuật. Tránh hiện tượng coi đó là việc của Tổng đội, để bỏ mặc, làm chẳng ra làm vẫn không ai nhắc thế là nguyên nhân của hiện tượng vô ý thức tổ chức, kỷ luật. - Hằng ngày giáo viên luôn chú ý đến việc trực nhật của lớp, luôn rèn ý thức tự giác giữ sạch trường, lớp và kỉ luật lao động. Đây chính là một trong những nhiệm vụ của năm học “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Bởi thông qua hoạt động này nếu giáo viên xuề xoà, không khen, chê kịp thời thì cũng dễ gây ra cho học sinh ý thức vô tổ chức, kỉ luật. * Biện pháp 4: Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng học sinh 9 - Chấm, chữa bài cho học sinh phải chính xác, cho điểm rõ ràng, lời phê chuẩn mực. Bởi tâm lý học sinh tiểu học là thích khen vì vậy dù chỉ một tiến bộ nhỏ giáo viên cũng phải khen. Trong giờ học, học sinh phát biểu đúng phải cho điểm hoặc phải khen, nhất là học sinh cá biệt, học sinh yếu để tạo hứng thú trong giờ học, giúp các em mạnh dạn tự tin khi nói trước tập thể. Động cơ của các em trong học tập thật đơn giản là " được khen". Tại sao chúng ta lại không "khen" các em để các em mừng? Đằng sau những cái khen đó là những gì, mỗi giáo viên hiểu rõ hơn ai hết. Nói làm sao hết tâm trạng của người giáo viên khi dạy xong tiết học, chấm bài mà học sinh đạt được điểm khá giỏi nhiều. - Trong mỗi giờ sinh hoạt giáo viên phải lắng nghe và tôn trọng ý kiến phát biểu của các em, không làm qua loa, đại khái mà phải dành đúng thời gian, tiến hành sinh hoạt nghiêm túc. Qua các tiết sinh hoạt tập thể, các em còn tiến hành các hoạt động khác xen vào như: vui chơi, văn nghệ. Bởi tiết sinh hoạt tập thể chiếm vị trí hết sức quan trọng trong việc biến các yêu cầu của nhà trường thành nhiệm vụ mà lớp phải thực hiện. Nhờ vậy, tập thể học sinh ngày càng được củng cố, hình thành và phát triển, đặc biệt là công tác tự quản của lớp, các em biết và thực hiện nghiêm túc về nội quy tập thể. Tiết sinh hoạt tập thể góp phần giáo dục các em hiểu biết về nội quy của tập thể, giáo dục ý thức xây dựng tập thể, ý thức tham gia các công việc tập thể về mối quan hệ giữa các em với người xung quanh. Bên cạnh đó tiết sinh hoạt tập thể còn giáo dục các em có thái độ tôn trọng bạn bè, tích cực tham gia các hoạt động tập thể, có thái độ đúng đắn trong đánh giá công việc tập thể. Thông qua tiết sinh hoạt tập thể giáo dục hành vi, kĩ năng sống cho học sinh như: nói to rõ ràng, rành mạch ý kiến của mình, biết lắng nghe người khác, biết phân biệt đúng - sai, tốt- chưa tốt...để lựa chọn ý kiến thích hợp nhất. Đồng thời hình thành kĩ năng thực hiện các hoạt động vui chơi, giải trí, lao động... Kỹ năng tổ chức tiến hành các tiết sinh hoạt tập thể, kĩ năng công tác tự quản. 10 Quy trình tổ chức tiết sinh hoạt tập thể gồm: Để tiến hành tiết sinh hoạt tập thể có chất lượng và hiệu quả, cần tuân thủ theo một quá trình chặt chẽ, có như vậy mới tránh được hiện tượng chủ quan tự phát. Theo tôi, có thể tiến hành theo ba bước sau: - Bước chuẩn bị: + Nội dung: Căn cứ vào kế hoạch chung của nhà trường, vào tình hình cụ thể của lớp, các công việc của lớp đã và đang thực hiện...để xác định nội dung cho tiết sinh hoạt tập thể. + Biện pháp thực hiện; thực hiện nội dung nào trước, nội dung nào sau, cách tổng hợp điểm thi đua, đưa ra vấn đề thảo luận... + Người thực hiện: dự kiến và giao công việc cụ thể cho từng cá nhân, tổ... - Bước tiến hành sinh hoạt: Đây là bước cơ bản, nó thể hiện tất cả những gì đã chuẩn bị, cụ thể: + Đánh giá các công việc thực hiện trong tuần qua một cách toàn diện, thực hiện nội quy, quy chế học tập, văn thể, vệ sinh, thể dục giữa giờ, ý thức tự giác, tự quản,... + Sơ kết các mặt thi đua: học tập, lao động cộng sản, vệ sinh hàng ngày,… + Phổ biến nhiệm vụ tuần tới: trực nhật, lao động, theo dõi tổ học tập, đôi bạn cùng tiến, tham gia văn nghệ, kể chuyện, rèn kỹ năng sống,... + Sinh hoạt văn nghệ, vui chơi. (Xen kẽ trong chương trình) + Đánh giá tiết sinh hoạt tập thể, đánh giá ý thức, thái độ học tập của học sinh trong quá trình sinh hoạt tập thể. - Hưởng ứng mạnh mẽ các phong trào thi đua do các tổ chức trong nhà trường phát động. Khích lệ các em tự các tổ thách thức thi đua với nhau và với lớp bạn. Tạo cho các em không khí thi đua lành mạnh. Tránh hiện tượng " Thi đua" thành "Ganh 11 đua" dẫn đến mất đoàn kết. Cuối tuần, cuối kì chi đội (lớp) và Liên đội có sơ kết, tổng kết rõ ràng. Rút ra những mặt đạt được và những mặt còn tồn tại sau mỗi đợt thi đua. * Biện pháp 5: Gần gũi với học sinh, xây dựng tình thương cho các em. - Giáo viên cần quan tâm đến những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Động viên các em có hoàn cảnh khá hơn giúp đỡ bạn bằng vật chất như: cái bút, quyển vở,...giúp bạn. Giáo viên thường xuyên hỏi han để năm bắt tình hình, động viên em đi học đều. Nhờ sự gần gũi với các em mà tôi đã giúp đỡ em Hoàng Anh, một em có hoàn cảnh đặc biệt, bố mẹ chia tay nhau, bố bỏ đi từ khi em mới lọt lòng. Thiếu hơi ấm, trụ cột của người cha, chỉ có tình cảm của người mẹ, mẹ một mình nuôi hai chị em ăn học. Hoàn cảnh hết sức khó khăn. Tôi trực tiếp động viên em, bởi em thường có những biểu hiện tiêu cực, hay bỏ học đi chơi mỗi khi không hoàn thành bài làm. Tôi cũng gặp mẹ em, động viên mẹ cho em đi học đều, bởi nếu em không được học hành tử tế sẽ có thể dẫn đến những hệ lụy trong tương lai. Nhờ sự gần gũi động viên của cô giáo và bạn bè mà em đã trở nên tự tin và phấn chấn hơn khi đến lớp. Em đi học đều và không bỏ học đi chơi nữa. Em học hành ngày càng tiến bộ và đã đạt hs khá. - Trong mỗi giờ học, dù là môn học gì cũng rất căng thẳng, giáo viên cần sưu tầm những câu chuyện vui để vào những thời điểm chuyển tiết có thể kể cho các em nghe một vài câu chuyện vui cho đầu óc bớt căng thẳng. Hay chơi một trò chơi nhẹ nhàng mà vui vẻ. - Xây dựng đôi bạn cùng tiến, giúp đỡ nhau trong quá trình học tập. Lớp tôi năm trước gồm 50 em, tôi chia làm 25 cặp, có địa bàn dân cư ở gần nhau. Các em thường giúp đỡ nhau học tập vào những buổi không học ở trường. * Biện pháp 6: Tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp, rèn kỹ năng sống cho học sinh 12 - Học sinh tiểu học: "Học mà chơi, chơi mà học". Việc tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ nhằm giúp các em hứng thú học tập hơn. Thay đổi hình thức bài lớp bằng hoạt động ngoài giờ lên lớp đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm cần có sự dày công học hỏi, tham khảo, để hoạt động diễn ra đúng hình thức và đạt mục đích đề ra. Trong các giờ học, tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết học: như các tiết khoa học, địa lý,... Dạy bằng bài giảng điện tử đã góp phần kích thích hứng thú học tập cho các em. Tôi nhận thấy các em phấn chấn hẳn lên. Kiến thức mới dễ đi vào trí nhớ của các em. Cho các em tự tổ chức hình thức vui chơi, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đó cũng là cách bồi dưỡng năng lực tự quản, sự năng động và nhạy bén trong các tình huống mà các em gặp phải. Cho các em chơi các trò chơi dân gian, vì các trò chơi dân gian mang tính giáo dục cao: trò chơi " Bịt mắt bắt dê; nu na nu nống,... Hay cho các em đóng các tiểu phẩm, mà các tiểu phẩm đó là các bài tập đọc trong sách giáo khoa. Chẳng hạn đóng tiểu phẩm, diễn lại một đoạn trích trong vở kịch " Lòng dân"; hay trong vở kịch " Thái sư Trần Thủ Độ"... Thông qua đó các em rèn luyện thêm kỹ năng đọc diễn cảm, ứng xử, diễn xuất,... Nhân các ngày lễ lớn Đội tổ chức thi “Rung chuông vàng”, cho các em tham gia đầy đủ. Trong các giờ học, giáo viên chú ý rèn kỹ năng sống cho các em. Kỹ năng sống không phải là những gì cao xa cả mà kỹ năng sống là những gì các em thể hiện thường ngày với mọi người xung quanh. Với người lớn chào hỏi thế nào, bạn bè, em nhỏ thì sao? Khách đến nhà, đầu tiên là làm gì, tiếp theo? Ở mọi lúc, mọi nơi, các em có sự ứng xử phù hợp, ấy là lúc các em đó có kỹ năng sống tốt. * Biện pháp 7: Làm tốt công tác phối hợp: Gia đình- Nhà trường- Xã hội. - Vào đầu năm học, bao giờ nhà trường cũng tổ chức hội nghị phụ huynh. Tôi xác định, vai trò của phụ huynh trong dạy học là rất quan trọng. Muốn học tốt, trước hết các em phải có đầy đủ sách vở, và các điều kiện khác liên quan đến học tập: thời gian học ở nhà, góc học tập, sự kèm cặp của phụ huynh. Đây là cơ hội tốt để giáo viên 13 gặp gỡ phụ huynh, để tìm hiểu và có định hướng kế hoạch phối hợp cho cả năm học. Vì vậy, giáo viên cần chuẩn bị tốt nội dung hội nghị phụ huynh. Nêu rõ qua nắm bắt tình hình, phụ huynh cần làm gì: Chẳng hạn mua sắm sách vở đầy đủ, sắp xếp góc học tập cho các em, kèm quản các em về thời gian. Không cho các em chỉ vì có giỗ mà nghỉ học, vì một buổi nghỉ học như thế các em mất đi bao nhiêu kiến thức không thể đo, đong hay đếm được. Trường hợp bắt buộc phải nghỉ học phụ huynh cần phải viết giấy xin phép hoặc gọi điện thoại báo cho giáo viên biết để biết lý do nghỉ học, tránh trường hợp các em bỏ học đi chơi mà cả giáo viên và phụ huynh đều không biết. Kèm quản các em về mặt thời gian học ở nhà. Thông qua ý kiến của các em phụ huynh có thông tin phản hồi cho giáo viên, để giáo viên kịp thời sửa chữa những sai sót. Còn về phần giáo viên sẽ giảng dạy các em thế nào, quan tâm ra sao, ... để phụ huynh yên tâm gửi gắm con em mình cho giáo viên. - Lập sổ liên lạc gia đình để tiện cho cung cấp thông tin 2 chiều: nhà trường và gia đình. Mỗi tuần tổng hợp số lỗi, số điểm tốt, số việc làm tốt... để phụ huynh biết và có ý kiến phản hồi cho giáo viên chủ nhiệm. Cuối học kỳ I, thông báo cụ thể về tình hình học tập, sự tiến bộ của từng em qua học kỳ I, đồng thời nêu rõ, hoc kỳ II cần quan tâm con vấn đề gì để phụ huynh rõ. - Lắng nghe dư luận, tìm hiểu kỹ khi có dư luận không tốt về học sinh, kịp thời điều chỉnh hành vi của các em. PHẦN III. KẾT LUẬN: 1. Những kết quả đạt được: Năm nay với tình hình thực tế như đã khái quát ở trên, tôi đã áp dụng các biện pháp trên một cách nhuần nhuyễn, vì vậy qua các lần kiểm tra định kì, qua các phong trào thi đua, qua họp hội đồng thi đua cuối năm, lớp tôi phụ trách đạt được một số kết quả như sau: 14 + Lớp đạt giải các phong trào của Đội: Kế hoạch nhỏ đợt 1, đợt 2; Nụ cười hồng 1, 2; Văn Nghệ 20/11; Kể chuyện theo sách; Nghi thức Đội. Đầu năm Cuối năm Ghi chú HSTT 15 10 giảm 5 em HSG 25 35 tăng 10 em HS xếp bộ vở loại A 7 15( đạt 30%) Tăng 8 bộ HS tự quản tốt 42 50 HS cá biệt 1 0 HS TB 9 5 HS yếu 1 0 giảm 4 em Công tác chủ nhiệm giỏi đối với học sinh tiểu học đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp. Sử dụng nhiều phương pháp: điều tra, giảng giải, thuyết trình, nêu gương... để giảng dạy, giáo dục các em. Bởi trong giảng dạy và giáo dục không có phương pháp hay biện pháp nào là vạn năng, mà ta chỉ có thể khai thác sự biện chứng của các phương pháp, biện pháp đó trong quá trình giảng dạy, giáo dục thì hiệu quả mang lại sẽ cao hơn. 2. Rút ra kết luận về công tác chủ nhiệm giỏi Qua nhiều năm giảng dạy kết quả công tác chủ nhiệm của lớp tôi thường đạt cao. Qua việc trao đổi với đồng nghiệp ở trường Tiểu học Lê Văn Thọ , áp dụng trong những năm tôi đã giảng dạy thấy nề nếp lớp học được nâng lên rõ rệt. Phải chăng người giáo viên muốn dạy tốt phải làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Chính vì vậy phải xem trường học như nhà của mình, học sinh như con của mình, phải nắm bắt được tâm lý của các em, cư xử phải công bằng. Điều cốt yếu nhất là người giáo viên phải chuẩn mực, phải là tấm gương sáng về mọi mặt để học sinh noi theo. Dạy kiến thức văn hóa phải đi đôi với việc rèn đạo đức, tư cách cho học sinh như ông cha ta đã dạy: “Tiên học lễ, hậu học văn” và là người góp phần quan trọng tạo nên nhân cách của người học sinh, càng phải thấm nhuần lời dạycủa Bác Hồ: 15 ... “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” Giành tình cảm chân thành, yêu thương nhất cho học sinh, yêu học sinh bằng tình thương người mẹ. Đây chính là gốc rễ vững bền giúp học sinh ngày càng tiến bộ và là niềm động viên lớn lao cho học sinh thấy thực sự “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Trên đây là đề tài “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP” tuy không có gì mới mẻ nhưng nó đã đưa lại hiệu quả rõ rệt trong công tác chủ nhiệm của tôi trong những năm qua. Tôi mạnh dạn trao đổi với các đồng nghiệp, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để bài thuyết trình hoàn thiện hơn. 3. Kiến nghị, đề xuất: - Công tác chủ nhiệm của giáo viên đối với cấp tiểu học là công việc khá vất vả. Người giáo viên như một “ Nhạc trưởng” điều khiển những nhạc công không chuyên. Vì vậy, tôi kính đề nghị ngành giáo dục (nếu có điều kiện và thời gian) tổ chức hội thảo về kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm giỏi nhằm nhân rộng điển hình và có những phần thưởng xứng đáng đối với những giáo viên vừa làm tốt công tác chủ nhiệm, lại vừa dạy giỏi. Đó chắc chắn là sự khích lệ, động viên rất lớn đối với những giáo viên đang trực tiếp làm công tác chủ nhiệm, vừa làm công tác chuyên môn giảng dạy trong ngành giáo dục nói chung, đối với bậc tiểu học nói riêng. Xin chân thành cảm ơn! Ngày 12 tháng 03 năm 2015 Người viết 16 Lê Thị Kim Liên 17 18 19 20
- Xem thêm -