MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH

  • Số trang: 132 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 73 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Thùy Duyên MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Thùy Duyên MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHAN THỊ THU HIỀN Thành phố Hồ Chí Minh – 2013 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình từ thầy cô, gia đình và bạn bè. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:  Quý thầy cô trong khoa Ngữ văn và phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi thực hiện đề tài này.  Cô Phan Thị Thu Hiền, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài. Qua đây, tôi xin gửi tới cô lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất.  Gia đình, bạn bè, người thân luôn hỗ trợ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Với việc thực hiện một đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian và khả năng còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô và các bạn. Xin chân thành cảm ơn! Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2013 Trần Thị Thùy Duyên 3 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................................3 MỞ ĐẦU .................................................................................................................................6 1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................................6 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................7 3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................13 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................13 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu.................................................................13 6. Đóng góp mới của luận văn .........................................................................................14 7. Kết cấu luận văn ...........................................................................................................14 Chương 1. TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC KINH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MOTIF ........................................................................16 1.1. Truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh ...................................................16 1.1.1. Truyền thuyết .......................................................................................................16 1.1.2. Truyện cổ tích ......................................................................................................18 1.1.3. Khái quát truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh ...............................22 1.2. Motif và phương pháp nghiên cứu motif trong truyền thuyết và truyện cổ tích .........24 1.2.1. Khái niệm motif ...................................................................................................24 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu motif trong truyền thuyết và truyện cổ tích ................25 Tiểu kết ..............................................................................................................................30 Chương 2. PHÂN LOẠI MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH ..............................................................................31 2.1. Xét từ nhân vật thi tài ................................................................................................31 2.1.1. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyền thuyết ......................................................31 2.1.2. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyện cổ tích .....................................................38 2.2. Xét từ hình thức thi tài ..............................................................................................48 4 2.2.1. Các hình thức thi tài trong truyền thuyết ...........................................................49 2.2.2. Các hình thức thi tài trong truyện cổ tích ...........................................................55 2.3. Xét từ nguyên nhân thắng cuộc thi tài .....................................................................63 2.3.1. Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyền thuyết ...................................63 2.3.2 Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyện cổ tích ....................................68 Chương 3. KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA THỂ HIỆN CỦA MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC KINH .........................75 3.1. Chức năng của hoạt động thi tài ...............................................................................75 3.1.1. Các kết quả của hoạt động thi tài trong truyền thuyết ........................................76 3.1.2. Các kết quả của hoạt động thi tài trong truyện cổ tích .......................................80 3.2. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài ..............................................................................85 3.2.1. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong truyền thuyết .........................................85 3.2.2. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong truyện cổ tích ........................................95 3.3. So sánh motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích của tộc người Kinh với một vài tộc người khác ....................................................................................................102 3.3.1. So sánh với dân tộc Khmer ................................................................................102 3.3.2. So sánh với dân tộc Chăm ................................................................................104 3.3.3. So sánh với vài dân tộc ít người khác................................................................106 KẾT LUẬN .........................................................................................................................110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................113 PHỤ LỤC ............................................................................................................................119 Phụ lục 1: .............................................................................................................................119 Phụ lục 2: .............................................................................................................................126 5 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ngay từ buổi bình minh của loài người, văn học dân gian đã trở thành chiếc cầu kì diệu nối liền đời sống thực tế và đời sống tinh thần của con người. Truyện cổ dân gian có nhiều thể loại phong phú, đa dạng. Vì vậy, muôn mặt tâm hồn của nhân dân- chủ nhân của những câu chuyện cổ được thể hiện hết sức chân thật, sinh động. Nhờ đó, những thế hệ sau mới có thể tìm hiểu, cảm nhận về một thời kì không bao giờ quay trở lại của nhân loại. Những câu chuyện cổ, nhất là thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích chính là tấm gương thần kì thể hiện ước mơ, gìn giữ những nét đẹp đáng quý của con người bấy giờ với sự cần cù, khéo léo, tài hoa, thông minh, tài trí, khỏe mạnh, hào hiệp, trượng nghĩa,…mà muôn đời sau còn lưu truyền. Những lớp trầm tích này được vùi sâu rất kín đáo, trở nên bền chặt và vĩnh hằng. Truyền thuyết và truyện cổ tích là một trong những phương tiện tái hiện và phản ánh cuộc sống với những phức tạp, mâu thuẫn về tình yêu, hôn nhân, quyền lực, lãnh thổ,…Truyền thuyết và truyện cổ tích nói riêng, văn học dân gian nói chung không chỉ tái hiện mà còn đề xuất cách giải quyết hòa bình, hữu nghị và đầy tính nhân văn: thi tài để giải quyết vấn đề. Vì vậy, rõ ràng, vấn đề thi tài trong văn học dân gian nói chung và trong truyền thuyết, truyện cổ tích nói riêng là một vấn đề rất đáng quan tâm, tìm hiểu. Bởi nó không chỉ thể hiện tinh thần hữu hảo, nhân đạo mà còn ca ngợi tài năng và phẩm chất của con người. Do đó, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi quyết định chọn vấn đề nghiên cứu về motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích, hai trong trong số các thể loại phong phú của truyện kể dân gian. Về mặt chủ thể sáng tạo, chúng tôi chọn dân tộc Kinh dân tộc đông nhất và có khối lượng truyện kể đồ sộ nhất để làm rõ hơn những đặc điểm và ý nghĩa thể hiện của motif này. Chúng tôi tin rằng motif này sẽ là phương tiện đắc lực giúp chúng tôi tìm hiểu bước đầu về nội dung, ý nghĩa, giá trị của những câu chuyện dân gian trong các sáng tác của dân tộc Kinh. Qua đó, chúng tôi có thể tìm về với cuộc sống và tâm hồn của ông cha, để thêm yêu, thêm quý, thêm tự hào về truyền thống nghìn năm của dân tộc. 6 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích khá nhiều khía cạnh vấn đề liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến đề tài luận văn của chúng tôi. * Các tài liệu nghiên cứu về truyền thuyết và truyện cổ tích Nghiên cứu về các phương diện tiêu biểu, nổi bật của thể loại truyền thuyết Thể loại truyền thuyết được giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm nhiều nhất bắt đầu từ những năm 60, 70. Trong hai thập kỉ này, mối quan tâm của các nhà nghiên cứu chủ yếu xoay quanh truyền thuyết về thời đại của Hùng Vương, An Dương Vương. Trước hết là một loạt bài viết xoay quanh một văn bản cụ thể: truyền thuyết về An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy và truyền thuyết thời đại vua Hùng nói chung. Các tác giả Phan Nhân, Trần Nghĩa, Trần Quốc Vượng, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Từ Chi đã sử dụng các phương pháp đa dạng và phong phú khi xem xét các khía cạnh vấn đề có liên quan trong việc nghiên cứu nhóm truyền thuyết này. Phan Nhân mở đầu cho loạt bài nghiên cứu này vào 1961 bằng bài viết “ Mấy ý kiến về vấn đề khai thác truyện dân gian và cải biên truyền thuyết Mị Châu- Trọng Thủy”. Bằng phương pháp thi pháp học, tác giả đã nêu vấn đề đâu là chuẩn mực chung khi cải biên một tác phẩm văn học dân gian. Trong cuộc tranh luận này, các nhà nghiên cứu đòi hỏi phải xác minh được đâu là cốt truyện hợp lí của truyền thuyết Trọng Thủy- Mị Châu, xác định chủ đề tư tưởng, cải biên truyền thuyết này và phải sử dụng vốn cổ ra sao. Nếu Phan Nhân chọn giải quyết vấn đề thứ ba thì Trần Nghĩa với “ Truyền thuyết Mị Châu- Trọng Thủy phát triển qua các thời đại” vào 1965 chọn giải quyết vấn đề đầu tiên dựa vào các tài liệu cổ, từ góc nhìn dân tộc học. Từ các bài viết của các nhà nghiên cứu đi trước, Đinh Gia Khánh đã có cái nhìn khái quát hơn, rộng lớn hơn khi đặt ra vấn đề “ Xác định giá trị của truyền thuyết đối với việc tìm hiểu lịch sử thời đại Hùng Vương” vào 1969. Ông nhận định “ truyền thuyết biến đổi dần theo không gian và thời gian, nhưng dầu cho cơ cấu bên trong và diện mạo bên ngoài của truyền thuyết có ít nhiều bị thay đổi thì nội dung chính lúc đầu vẫn không bị mai một mà trái lại vẫn giữ nguyên tính chất hạt nhân trung tâm”. Vì thế, ông khẳng định giá trị của truyền thuyết trong việc tìm hiểu lịch sử dân tộc là rất to lớn. Đây là một bài viết có tầm khái quát lớn, bao trùm những vấn đề lớn của truyền thuyết như vấn đề nhân vật, cốt truyện, vấn đề thái độ và tình cảm của nhân dân,…Thi pháp học được tác giả sử dụng như kim chỉ 7 nam trong việc nghiên cứu những vấn đề mang tính chất vĩ mô trong văn học dân gian.[ Đinh Gia Khánh, 2003, tr. 656,660]. Ngoài ra, vào 1969, Trần Quốc Vượng tiếp tục đóng góp cho chủ đề này bài viết nghiên cứu về tên riêng của các nhân vật ở các truyền thuyết trong thời đại Hùng Vương: “ Từ việc nghiên cứu tên riêng trong các truyền thuyết nói về thời kì dựng nước”. Với phương pháp nghiên cứu ngữ âm lịch sử, tiếp thu tinh thần nghiên cứu của Đinh Gia Khánh trong “ Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số truyện cổ tích” và Hoàng Thị Châu trong “ Tìm hiểu từ “ phụ đạo” trong truyền thuyết về Hùng Vương”, tác giả đã bước đầu tìm hiểu về các tên riêng của các nhân vật chính trong Lí Ông Trọng, Trầu Cau, Thánh Gióng, An Dương Vương. Đến 1971, chuyên luận của Trần Quốc Vượng và Nguyễn Từ Chi kết thúc loạt bài viết xoay quanh truyền thuyết An Dương Vương: “ Vua Chủ”. Các tác giả đã đi tìm xuất thân của Vua Chủ, tên gọi dân gian của An Dương Vương Thục Phán. Đồng thời, các tác giả cũng đi vào tìm hiểu con đường mà tác giả dân gian sáng tạo nên truyền thuyết về thành Cổ Loa. Đi theo hướng nghiên cứu văn học dân gian bằng nhân học văn hóa, các tác giả đã nghiên cứu về sự tái tạo, bồi đắp, khử dần,…để tạo nên diện mạo của truyền thuyết này hôm nay. Các nhà nghiên cứu tìm hiểu về truyền thuyết thời đại Hùng Vương tiêu biểu là nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh trong công trình “ Người anh hùng làng Dóng” (1969). Tác giả đã tiến hành nghiên cứu truyền thuyết Thánh Gióng trên diện rộng từ điền dã, diễn xướng, truyện kể,…đến các thư tịch cổ ghi chép sử ca, sách sử…để thấy được đặc trưng điển hình của loại truyện cổ- anh hùng ca của tác phẩm Ông Dóng. Hướng tiếp cận theo nhân học văn hóa được tác giả vận dụng thuần thục ở chuyên luận này. Gần đây, văn học so sánh ngày một phát triển mạnh mẽ. Đó là biểu hiện của sự phát triển văn học Việt Nam trong việc vươn xa ra thế giới, giao lưu và hội nhập mạnh mẽ. Các tác giả bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu nhiều văn bản truyền thuyết có mối liên quan với nhau trong thế so sánh chúng. Hồ Quốc Hùng (2000) trong bài viết: “Về sự tái sinh của nhóm truyền thuyết anh hùng bộ lạc ở vùng Thuận Hóa” đã đặt vấn đề về sự tái sinh của nhóm truyền thuyết về những người anh hùng thời bộ lạc, hậu thân của anh hùng làng Gióng ở vùng đất Thuận Hóa xưa. Bằng thao tác so sánh các bản kể, tác giả đã phác họa nên diện mạo của nhóm truyện mang đậm tính địa phương này. 8 Trên con đường này, chúng ta bắt gặp được những tương đồng giữa các tác phẩm của văn học Việt Nam và nước ngoài. Nguyên nhân là sự tương thích về mặt văn hóa, lịch sử, địa lí, tâm lí nhân loại,…Phan Thị Thu Hiền với “Truyền thuyết Man Nương của Việt Nam và vu ca Tanggeum Aegi của Korea (Nghiên cứu so sánh)” (2012) đã cho thấy điều đó. Bài viết đi vào so sánh hai tác phẩm của Việt Nam và Korea, tìm ra những nét tương đồng cũng như khác biệt giữa hai tác phẩm, hạt nhân cơ bản làm nên bản sắc văn hóa của hai dân tộc. Bên cạnh đó, phương pháp phê bình cổ mẫu cũng được áp dụng rộng rãi trong văn học dân gian tiêu biểu là Trần Thị An với “ Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền thuyết dân gian người Việt”(2001). Tác giả đã tiến hành “khảo sát thái độ tinh thần đặc thù đối với không gian của tác giả dân gian trong mối liên hệ với những trầm tích văn hóa của những thời đại sản sinh ra truyền thuyết”. Tác giả đã đề cập đến những biểu tượng trong truyền thuyết dân gian người Việt và lí giải chúng dựa trên cơ sở là Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. [Trần Thị An, 2003, tr.725, 726 ] Ngoài ra, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với bộ “ Tổng tập Văn học dân gian người Việt”, tập 4: Truyền thuyết dân gian người Việt ( 2004) trong phần Khải Luận đã nêu lên quá trình hình thành khái niệm truyền thuyết, vấn đề phân loại, đặc điểm nghệ thuật, tư tưởng- thẩm mĩ của thể loại truyền thuyết. Nghiên cứu về các phương diện tiêu biểu, nổi bật trong thể loại truyện cổ tích Công trình đầu tiên mang tính chất tiên phong dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu truyện cổ tích là công trình “ Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám” của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh vào năm 1968. Trong công trình này, ông đã bước đầu sử dụng phương pháp nghiên cứu theo type và motif của trường phái địa lí – lịch sử để giới thiệu một cách chi tiết các bản kể của type truyện Tấm Cám trên thế giới. Sau Đinh Gia Khánh, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi vào nghiên cứu các motif nổi bật trong một nhóm truyện. Đây cũng là một hướng vận dụng phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của trường phái địa lí – lịch sử. Trước hết, Nguyễn Thị Huế viết “Người mang lốtmotip đặc trưng của kiểu truyện cổ tích về nhân vật xấu xí mà tài ba” (1997). Đến 1998, Nguyễn Bích Hà với công trình “ Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á” (1998). Đến năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc viết “ Từ truyện Kajong và Halêk của người Chăm đến type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á” trong quyển “Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF”. Bài viết đã đi vào so sánh các bản kể khác nhau thuộc nhiều dân tộc của type truyện Tấm Cám phổ biến. 9 Hưởng ứng khuynh hướng nghiên cứu mới: nghiên cứu văn học dân gian theo hướng nghiên cứu kết cấu truyện, Tăng Kim Ngân đã vận dụng lí thuyết về 31 chức năng của Propp trong “ Cổ tích thần kì người Việt- đặc điểm cốt truyện” ( 1994). Tiếp đó, đến 2006, cũng vận dụng phương pháp hình thái học của V.Ia. Propp, Đỗ Bình Trị cũng đi vào nghiên cứu một số truyện cổ tích thần kì và truyền thuyết Việt trong chuyên luận “Truyện cổ tích thần kì Việt đọc theo Hình thái học của truyện cổ tích của V.Ia.Propp”. Đây được xem là một công trình có dạng tương tự như công trình “Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF” của Nguyễn Tấn Đắc, cái khác biệt là lí thuyết về phương pháp mà tác giả sử dụng. Loại phương pháp thứ ba được các nhà văn học dân gian áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu là thi pháp học trên cơ sở so sánh văn học viết và văn học dân gian. Trước hết, Hoàng Tiến Tựu với công trình “ Bình giảng truyện dân gian”(1998) đã tiến hành bình một số truyền thuyết, truyện cổ tích tiêu biểu. Năm 2010, Nguyễn Định với “Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ” đã tiến hành thống kê và lí giải về yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ tích của người Việt ở khu vực này. Đến năm 2011, Nguyễn Xuân Đức đã đóng góp cho làng nghiên cứu khoa học về truyện cổ tích công trình “ Thi pháp truyện cổ tích thần kì người Việt”. Công trình này chủ yếu đề cập đến những đặc điểm thi pháp của truyện cổ tích thần kì người Việt trong quan hệ đối sánh với văn học viết là chủ yếu. Công trình “Những vấn đề thi pháp văn học dân gian” của Nguyễn Xuân Đức vào năm 2011 cũng có nhiều đóng góp về mặt thi pháp văn học dân gian nói chung và thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích nói riêng. Công trình đã đề cập nhiều vấn đề như tiêu chí phân loại thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích dựa theo chức năng, đặc trưng thi pháp của chúng. Đặc biệt, nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên với chuyên luận “ Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học” ( 1989) đã từng bước khái quát các trào lưu nghiên cứu truyện cổ tích của các nhà folklore thế giới và Việt Nam nhằm tiến tới khẳng định một cách nhìn toàn diện về lịch sử nghiên cứu và phân loại truyện cổ tích. Trong chuyên luận này, tác giả đi vào các vấn đề cơ bản của thể loại này như khái niệm, vấn đề nguồn gốc và nghiên cứu lịch sử truyện cổ tích, mối quan hệ của truyện cổ tích với hiện thực và việc nghiên cứu thi pháp truyện cổ tích. Phương pháp cấu trúc- chức năng là phương pháp chủ yếu trong chuyên luận này. Thể nghiệm phương pháp nghiên cứu cấu trúc- chức năng, Chu Xuân Diên viết “ Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám” vào 1999. Tác giả đã lí giải một cách lí thú về vấn đề nguồn gốc và sự biến đổi ý nghĩa của một số motif tạo thành đoạn kết 10 truyện cổ tích Tấm Cám. Thông qua đó, nhà nghiên cứu đưa ra một hướng tiếp cận mới đối với truyện cổ dân gian, tránh đi cái nhìn xã hội học đang là khuynh hướng tranh luận chủ yếu đối với đoạn kết của type truyện phổ biến này. Hướng tiếp cận này sẽ là hướng tiếp cận chính của người nghiên cứu trong công trình luận văn này trong việc thử lí giải nguồn gốc và sự biến đổi về các phương diện như nội dung, hình thức, chức năng,…của motif thi tài. Tiếp theo là “Những nhận định khái quát về truyện cổ tích Việt Nam” (1982) …trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi. Trong công trình này, tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu theo type và motif của trường phái địa lí – lịch sử đi vào đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam và nguồn gốc của truyện cổ tích Việt Nam. Tuy ngay từ đầu, tác giả đã thu hút cả thể loại truyền thuyết với tên gọi cổ tích lịch sử vào thể loại truyện cổ tích nhưng nhờ vào nguồn tài liệu khảo dị phong phú thuộc nhiều dân tộc khác nhau, từ Á đến Âu nên tác giả vẫn đưa ra được những nhận định sắc sảo, lí thú trong các luận điểm của mình. Ngoài ra, ở tập 6 của bộ “Tổng tập Văn Học Dân Gian người Việt”( 2004): Truyện cổ tích thần kì, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam trong phần Khải luận đã bước đầu khái quát lịch sử sưu tầm nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam. Tương tự như phần Khải luận của tập 4, các tác giả cũng tiến hành tổng kết các cách phân loại truyện cổ tích và đưa ra quan điểm chung nhất về cách phân truyện cổ tích thành ba loại được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận nhất. Các tài liệu nghiên cứu này đóng vai trò hỗ trợ người viết về mặt phương pháp nghiên cứu chuyên luận này. Tùy theo đặc điểm riêng cũng như những mặt khả thủ và bất cập của từng phương pháp mà người viết vận dụng từng phương pháp hoặc vận dụng kết hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu. Mặt khác, các tài liệu này cũng cung cấp nhiều tri thức về dân tộc học, xã hội học, văn hóa,…hỗ trợ người viết trong việc ứng dụng phương pháp liên ngành để giải thích các hiện tượng, quy luật xuất hiện trong chuyên luận. * Các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến motif thi tài Có thể xem Nguyễn Tấn Đắc là người đầu tiên đề cập đến motif thi tài trong nghiên cứu văn học dân gian. Công trình đầu tiên của tác giả mang tên “Những truyện kể của Vêta- la” (1986), những câu chuyện cổ Ấn Độ. Ở phần cuối của sách, tác giả tiến hành thống kê các motif chính trong các truyện được chọn in. Theo đó, motif thi tài xuất hiện với tư cách là một trong các motif chính trong các truyện. Tác giả không đi vào phân tích, lí giải 11 chúng. Đây là một trong những thể nghiệm của tác giả trong việc cố gắng hệ thống các chuyện kể thành các motif và type. Đến năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc cho ra đời “Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF”. Trong bài viết “Đọc lại Truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh” của công trình này, motif thi tài giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh (dựa vào bản kể trong Lĩnh Nam chích quái) được tác giả xác định là một trong những motif chính của truyện. Nó được sử dụng để làm tiền đề giải thích motif đánh nhau mà theo tác giả đó là “những cuộc chiến tranh cướp đoạt đàn bà”[ Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr.122] . Bên cạnh đó, Nguyễn Tấn Đắc cũng nói đến cuốn Motif – Index of Folk- Literature của Stith Thompson. Ở đó, các chương chia theo thứ tự A, B, C, D,…X ,trong đó có motif A85 là cuộc thi sáng tạo giữa thần nam chồng và thần nữ vợ. Như vậy, ở đây, motif thi tài được tác giả nhắc đến khi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu một tác phẩm văn học dân gian cụ thể. Thông qua việc nghiên cứu motif thi tài, tác giả lí giải, làm sáng rõ nội dung cũng như thể loại của tác phẩm. Đây là tài liệu quan trọng hàng đầu đối với người viết trong luận văn này. Ngoài ra, motif thi tài chủ yếu được đề cập đến trong các luận án, luận văn nghiên cứu về truyện cổ Chăm. Đầu tiên là công trình của Nguyễn Thị Thu Vân: “Khảo sát đặc điểm truyện cổ dân tộc Chăm” (Luận án tiến sĩ 2005). Trong chương 2, tác giả đã có một mục dành riêng để khảo sát các motif chính ( 9 motif ). Tác giả đã xác định motif thi tài mà cụ thể là motif thi xây tháp là một motif khá đặc trưng của tộc người Chăm. Thứ hai, Kiều Thị Sopri: “Truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm tại vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận” (Luận văn thạc sĩ 2011) đã đề cập đến motif thi tài trong mục các motif trong truyền thuyết Chăm. Tác giả luận văn khẳng định motif thi tài có hai dạng là thi xây tháp và thi đào mương. Tác giả đã đi vào khái quát các dạng thức cơ bản của hai dạng này và đưa ra nhận định về ý nghĩa của hai dạng này. Theo đó, theo tác giả dạng thi tài xây tháp là một cách để tôn vinh người anh hùng dân tộc Po Klong Garai. Còn motif thi đào mương chủ yếu lí giải tục ở rễ . Đặc biệt, motif thi đào mương được xác định là motif sáng tạo riêng của dân tộc Chăm thể hiện tinh thần thi đua lao động. Nhìn chung, motif thi tài không phải là motif mới. Nó xuất hiện rất nhiều trong các thể loại thần thoại, truyền thuyết,…Các tác giả chỉ nêu tên, thống kê, lí giải motif này đồng thời với các motif khác hoặc phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở truyền thuyết của các tộc người khác cụ thể là tộc người Chăm. Việc khảo sát motif này trong một hệ thống cụ thể, thống kê, 12 phân loại một cách khái quát theo tiêu chí thể loại của tộc người Kinh đến giờ vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được đặt thành một vấn đề nghiên cứu riêng biệt. 3. Mục đích nghiên cứu Trước hết, người viết tìm ra những tương đồng và dị biệt của hai thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích. Từ đó, người viết nêu ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong cốt truyện truyền thuyết và truyện cổ tích. Thông qua đó, chúng tôi tiến hành nhận diện quan niệm, ước mơ, đặc điểm tư duy,…của con người thời xưa nói chung và người Kinh nói riêng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích Phạm vi: chủ yếu là truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh ở các vùng miền Việt Nam. Truyền thuyết và truyện cổ tích của các dân tộc khác được đối chiếu, so sánh nhằm làm nổi bật đặc trưng của truyền thuyết và truyện cổ tích tộc Kinh. 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu * Phương pháp nghiên cứu Phương pháp loại hình: nghiên cứu theo đặc trưng loại hình của truyền thuyết và truyện cổ tích. Phương pháp nghiên cứu type và motif: nghiên cứu các kiểu truyện có xuất hiện motif thi tài, lí giải những ý nghĩa mà motif thi tài thể hiện. Phương pháp thực chứng: từ các số liệu đã thu được trong quá trình thống kê tài liệu, chúng tôi đưa ra những nhận định về các đặc điểm, ý nghĩa,…của vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp so sánh: nghiên cứu những tương đồng và dị biệt của motif thi tài ở từng thể loại, cụ thể là truyền thuyết và truyện cổ tích. Bước đầu lí giải chúng dựa vào lí thuyết loại hình, đặc trưng thi pháp của từng thể loại. Phương pháp hệ thống: nghiên cứu motif thi tài từ nhiều góc độ khác nhau, trong mối tương quan với hệ thống thể loại truyện cổ dân gian. Phương pháp liên ngành: sử dụng các phương pháp bổ trợ từ các ngành khoa học khác như ngành tâm lí học (Phương pháp tâm lí học tiếp nhận, phương pháp phê bình cổ mẫu) trong việc tiếp cận motif thi tài qua những đặc trưng về mặt biểu tượng, tư duy, tình cảm,…của chủ thể trong quá trình tiếp nhận, lưu truyền và biến đổi hay ngành dân tộc học (Phương pháp dân tộc học) để lí giải những vấn đề có liên quan đến motif thi tài dựa vào 13 những đặc điểm dân tộc học của tộc người, chỉ ra được những đặc trưng của motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích của tộc người Kinh. * Nguồn tư liệu Trước hết, chúng tôi sử dụng tư liệu sưu tầm và biên soạn riêng biệt cho từng thể loại là bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (2004), tập 4, 5 ( thể loại truyền thuyết) và tập 6, 7 ( thể loại truyện cổ tích). Ngoài ra, các tư liệu khác có sự pha trộn của nhiều thể loại cũng được chúng tôi sử dụng ở đây. Các tư liệu như Văn nghệ dân gian Quảng Nam –Đà Nẵng ( 1984). Những truyện kể của Vua Vêtala (1986), Truyện kể dân gian Nam Bộ (1987), Văn học Đồng bằng sông Cửu Long (1997), Văn học dân gian Tây Sơn (1999), Chuyện kể địa danh Việt Nam (2000), Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF (2001), Lĩnh Nam chích quái: truyện cổ dân gian sưu tập biên soạn ở thế kỷ XV (2001), Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung ( 2001), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam ( 5 tập)(2008) , , Đặc khảo Văn học dân gian Thừa Thiên Huế (2010),Văn học dân gian Châu Đốc (2010), Văn nghệ dân gian Bạc Liêu (2011). 6. Đóng góp mới của luận văn Nghiên cứu về motif thi tài theo một hệ thống hoàn chỉnh ở thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh. Qua đó, người viết khám phá về ý nghĩa thể hiện về nhiều phương diện của motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích trong văn hóa dân gian người Kinh. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương với những nội dung như sau: Ở chương một “Truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh và phương pháp nghiên cứu motif ”, chúng tôi đi vào trình bày khái quát lí thuyết loại hình về thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích, việc nghiên cứu hai thể loại này từ phương pháp nghiên cứu motif. Đây sẽ cơ sở lí luận làm nền tảng cho hai chương sau. Trong chương hai “Phân loại motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh”, người viết tiến hành thống kê, phân loại motif thi tài trong hai thể loại này. Từ đó, người viết có thể tìm hiểu được ý nghĩa cũng như chức năng của motif này ở chương cuối. Ở Chương ba “Chức năng và ý nghĩa thể hiện của motif thi tài qua thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh”, chúng tôi đi vào phân tích, lí giải về chức năng 14 và ý nghĩa thể hiện của motif này trong mối quan hệ với văn hóa đời sống tinh thần của chủ thể sáng tạo cũng như tiếp nhận. 15 Chương 1. TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC KINH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MOTIF 1.1. Truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh 1.1.1. Truyền thuyết 1.1.1.1. Khái niệm Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời. Nó là thể loại có sự giao thoa với thần thoại, cổ tích. Vì vậy, việc đưa ra định nghĩa về truyền thuyết vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Kiều Thu Hoạch cho rằng: “ Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân; biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại…”[Kiều Thu Hoạch, Bùi Mạnh Nhị ( chủ biên), 1999, tr.141] Theo Bùi Mạnh Nhị: “Truyền thuyết là truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử, thể hiện cách đánh giá của nhân dân về những nhân vật và sự kiện đó. Truyền thuyết thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo”. [ Bùi Mạnh Nhị, 2012, tr.5]. Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết là một thể loại dân gian có những đặc điểm khái quát sau: truyền thuyết là những sáng tác tự sự dân gian; có sự hiện diện của yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, hoang đường; truyện kể về nhân vật và sự kiện lịch sử đã xảy ra trong quá khứ; truyện gắn liền với nhiều chứng tích văn hóa còn lưu cho đến nay. 1.1.1.2. Đặc trưng thi pháp thể loại * Về yếu tố kì diệu Truyền thuyết thường có cốt lõi là sự thật lịch sử được bao bọc thêm bên ngoài bằng các yếu tố kì diệu, hoang đường. Tuy nhiên, yếu tố kì diệu ở đây chủ yếu chỉ mang tính chất thi vị, làm tăng vẻ đẹp, sự oai hùng của nhân vật mà nhân dân kính trọng, tạo nên sự linh thiêng của các chứng tích vật chất, văn hóa.[Lê Chí Quế, 2001, tr.64] *Về thời gian Thời gian trong truyền thuyết là thời gian quá khứ- xác định. Truyền thuyết nào cũng kể về chuyện đã xảy ra và vào một thời kì lịch sử nhất định nào đó.Tuy nhiên, khoảng cách 16 thời gian sự kiện và thời gian sáng tạo tác phẩm là một khoảng cách có thể rất gần nhưng cũng có thể rất xa, rất khó xác định .[Lê Chí Quế, 2001, tr.64] * Về không gian Cũng như thời gian, không gian trong truyền thuyết thường mang tính cụ thể, xác định. Đó là những di tích vật chất như gò, đồi, sông, suối,…hay các di tích văn hóa như đền, đình, tháp,… Chúng thường được gán cho những tính chất mang tính thiêng gắn liền với nhân vật lịch sử hoặc với chứng tích lịch sử, địa danh,… .[Lê Chí Quế, 2001, tr. 64-65] Bên cạnh đó, Trần Thị An khi tìm hiểu riêng về tính thiêng trong không gian cho rằng không gian thiêng trong truyền thuyết vốn có tiền thân từ sự sùng bái tự nhiên, gán cho không gian những giá trị tinh thần đượm màu sắc huyền thoại của con người cổ đại. Thế giới của truyền thuyết vốn là thế giới của thần thiêng nên không gian tồn tại trong truyền thuyết tất yếu cũng là không gian mang tính linh thiêng. [Trần Thị An, 2001, tr.725]. Không gian trong truyền thuyết còn gắn liền với phạm vi hoạt động của các nhân vật trong truyện. Đó cũng là nơi lưu truyền và gìn giữ những câu chuyện truyền thuyết thông qua các phong tục và lễ hội, tạo nên tính địa phương và tính dân tộc sâu sắc của thể loại truyền thuyết. * Về nhân vật Nhân vật trong truyền thuyết thường được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau như phân chia theo tuyến thành nhân vật chính và nhân vật phụ. Các nhân vật chính trong truyền thuyết thường là bán thần và người. Về nhân vật là thần ( hoặc bán thần), các nhân vật này thường là nhân vật khởi nguyên tạo nên nguồn gốc các thị tộc, bộ lạc, gia tộc. Họ thường là nhân vật có nét nhân cách thì người nhưng hành động, hình dáng thì lại là thần. Đây là nhân vật mang ảnh hưởng kiểu nhân vật thần thoại. Ngoài ra, loại nhân vật này còn xuất hiện với tư cách là trợ thủ thần kì cho nhân vật chính. Về nhân vật là người trong truyền thuyết lịch sử, theo Lê Chí Quế, chủ yếu họ là những anh hùng lịch sử. Một số người được chính sử ghi nhận như Bùi Thị Xuân, Nguyễn Hiền,… một số người tuy không xuất hiện trong chính sử nhưng lại được nhân dân tin yêu, kính trọng và “ thiêng hóa” họ thành nhân vật truyền thuyết như các nhân vật anh hùng nông dân. Có điều, kết cuộc của nhân vật trong truyền thuyết luôn mang tính chất “mở”. Nhân vật phần nhiều phải chịu tuẫn tiết, hy sinh, “ ngài hóa” vào hồn thiêng sông núi .[Lê Chí Quế, 2001, tr. 60] 17 Các nhân vật trong các loại truyền thuyết khác, thường là những con người vô danh nhưng nhờ vào tài năng, sự khéo léo, chăm chỉ, trung thực và nhất là sự thông minh đã tạo nên những kì tích, những chiến công, gặt hái được thành công nên cũng được vinh danh, ca ngợi. Đó là các danh nhân văn hóa, các nhân vật tôn giáo,… [Lê Chí Quế, 2001, tr. 62- 63] Ngoài ra, các nhân vật trong truyền thuyết còn xuất hiện theo nhóm truyện, hệ thống truyện. Ví dụ, nhóm truyền thuyết về anh hùng áo vải Quang Trung, nhóm truyền thuyết về việc xây thành giành đất... Chính sự hiện diện của nhân vật trong tác phẩm đã giúp các truyền thuyết rời rạc kết dính với nhau thành từng mảng, nhóm truyện. Nhờ đó, truyền thuyết luôn có số lượng phong phú và tồn tại theo hệ thống. * Về kết cấu văn bản Ở truyền thuyết, kết cấu văn bản theo Lê Chí Quế thường là kết cấu trực tuyến, không có đồng hiện và sự quay trở lại. Sự việc trong truyền thuyết không đầy đủ như chính sử. Đặc biệt, phần giới thiệu lai lịch nhân vật và kết thúc câu chuyện thường được hư cấu theo nguyên tắc kì diệu và thiêng hóa. [Lê Chí Quế, 2001, tr.64] * Thái độ tiếp nhận truyền thuyết Đối với truyền thuyết, niềm tin, đức tin trở thành cốt lõi của tác phẩm. Truyền thuyết là sự đánh giá của tác giả dân gian về các nhân vật và sự kiện lịch sử trên quan điểm của nhân dân. Nguyễn Xuân Đức đã khẳng định rằng người nghe (đọc) truyền thuyết đều muốn tin câu chuyện là thật. Còn người kể thì chủ yếu muốn tạo niềm tin nơi người nghe ( đọc) còn bản thân anh ta không hẳn đã tin hoặc nếu có tin thì niềm tin ấy cũng không mang tính tuyệt đối như thần thoại. [Nguyễn Xuân Đức, 2011, tr.46-47]. Chính điều đó đã tạo nên chức năng giáo dục ý thức cộng đồng thiên về nhận thức lí tính. Sự gắn kết nhân vật truyền thuyết với địa phương, với phong vật đã dần dần trở thành một tâm thức phổ biến, để dẫn đến hình thành một quy luật tâm lý phổ biến trong đời sống nhân dân: thấy vật nhớ đến người, nghĩ đến người nhớ vật. Điều này dẫn đến hệ quả là truyền thuyết luôn gắn liền với nghi lễ và lễ hội. 1.1.2. Truyện cổ tích 1.1.2.1. Khái niệm Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Lê Chí Quế trình bày khái niệm “truyện cổ tích” thông qua việc xác định bản chất thể loại của nó. Theo Lê Chí Quế: “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính của nó là xây dựng trên những cốt truyện; truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật được xây dựng thông 18 qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ; truyện cổ tích là một thể loại hoàn chỉnh của văn học dân gian, được hình thành một cách lịch sử...”. [Lê Chí Quế, 2001, tr. 107] Đặc biệt, Chu Xuân Diên, trong chuyên luận “Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học”, đã phân tích khá sâu sắc nội hàm khái niệm “cổ tích”. Ông viết: “Cổ tích là một từ Hán Việt. “Cổ” có nghĩa là xưa, cũ. Ta có khái niệm “truyện cổ” (hoặc “truyện cổ dân gian”), “truyện đời xưa” dùng để chỉ nhiều loại truyện dân gian khác nhau, trong đó có truyện cổ tích… các loại truyện cổ khác nữa (cả thành văn lẫn dân gian)”.[Chu Xuân Diên, 2001, tr. 230] Sau khi diễn giải, Chu Xuân Diên nhấn mạnh, khái niệm “truyện cổ tích” bao hàm ba yếu tố nghĩa: “truyện cổ tích là truyện kể; truyện kể này có quan hệ với thời quá khứ xa xưa cả về nội dung lẫn nguồn gốc phát sinh; dấu tích của truyện kể này vẫn còn lại cho đến nay.”[Chu Xuân Diên, 2001, tr. 230- 231] Từ những phát biểu trên, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian có những đặc điểm khái quát sau: truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian, có cốt truyện hoàn chỉnh; chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, hoang đường; truyện kể về những sự tích đời xưa và dấu tích truyện kể còn lưu cho đến nay. 1.1.2.2. Đặc trưng thi pháp thể loại * Yếu tố kì diệu Yếu tố kì diệu, hoang đường đóng vai trò quan trọng trong truyện cổ tích. Nó là thủ pháp nghệ thuật để xây dựng cốt truyện. Yếu tố kì diệu có nguồn gốc từ tín ngưỡng, phong tục cổ như tín ngưỡng tổ tiên, vật linh luận, tục hiến tế,…Về sau này, yếu tố kì diệu còn có thêm sự xuất hiện của các yếu tố tôn giáo như sự xuất hiện của Bụt, Phật ( Phật giáo), Tiên ( Đạo giáo) nhưng đã được dân gian hóa. Yếu tố kì diệu thể hiện ở loài vật ( chim, cá,…), sự vật ( niêu cơm ăn không hết, cây đàn thần,…) và nhân vật (Tiên, Phật,…).[ Lê Chí Quế, 2001, tr. 132] Tuy nhiên, yếu tố kì diệu tuy là do trí tưởng tượng phong phú của nhân dân sáng tạo nên nhưng nó cũng phải phục tùng luận lí thông thường tức là nó không thể vượt quá phạm vi những điều kiện nhất định cho phép. * Về thời gian Lê Chí Quế khẳng định thời gian trong truyện cổ tích là thời gian quá khứ phiếm định. Truyện cổ tích luôn mở đầu bằng những câu “ ngày xửa ngày xưa”… [ Lê Chí Quế, 2001, tr. 132] 19 * Về không gian Theo Propp, không gian trong truyện cổ tích giữ vai trò hai mặt. Một mặt, nó là một thành phần cấu trúc quan trọng, mặt khác, dường như nó ít được quan tâm. Sự thay đổi về mặt không gian là cơ sở cho việc phát triển các tình tiết của cốt truyện. Bên cạnh đó, truyện cổ tích chối bỏ việc gia công tỉ mỉ khi xây dựng thủ pháp không gian truyện cổ tích. Cũng như thời gian, trong cổ tích, không gian mang tính phiếm định, ước lệ. Không gian thường là ở một làng nọ, vùng nọ, vương quốc nọ,…ít khi nói đến một địa danh cụ thể. Nhân vật cổ tích đến các không gian như thế nào không quan trọng mà cái quan trọng là cách thức họ vượt qua nó. Có thể họ xuất hiện tại một không gian mới bằng viên ngọc ước, bó củi thần,… Không gian chủ yếu chỉ được xây dựng như những điểm dừng, những khoảng cách xa như các giai đoạn của nghi lễ.[ Propp, 2003, tr. 235]. Không gian trong cổ tích, do không mang tính cụ thể, xác định nên không chịu sự gán ghép, đặt để, kết dính với bất cứ một địa phương nào. Tuy nhiên, nó lại là thể loại mang tầm quốc tế. Nói theo Chu Xuân Diên, “Tính chất quốc tế rõ ràng là một hiện tượng độc đáo nổi bật của truyện cổ tích. Truyện cổ tích có khả năng di chuyển từ dân tộc này sang dân tộc khác, vượt qua mọi ranh giới về ngôn ngữ, về lãnh thổ... của các quốc gia”.[Chu Xuân Diên, 2001, tr. 224] * Về nhân vật Theo Lê Chí Quế, nhân vật chính trong cổ tích, là con người của đời thường, trong một xã hội phân chia giai cấp. Đó là những nhân vật bất hạnh như đứa con mồ côi, đứa con riêng, người con út, người đi ở, nhân vật xấu xí..., nhân vật dũng sĩ và người có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh hay ngốc nghếch, nhân vật là động vật biết nói năng, hành động như con người. Mỗi nhân vật trong truyện cổ tích luôn thuộc về một kiểu nhân vật nào đó (người mồ côi, người em út, người xấu xí mà tài ba...). [ Lê Chí Quế, 2001, tr. 132] Cũng đồng ý kiến với Lê Chí Quế, Đinh Gia Khánh cho rằng nhân vật chính của cổ tích là người, “ lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người. Nếu có một số nhân vật một số là thần linh hoặc được xây dựng trên cơ sở nhân cách hóa các hiện tượng thiên nhiên thì đó cũng chỉ là nhân vật phụ” [ Đinh Gia Khánh, 1998, tr. 295]. Ngoài ra, theo Nguyễn Xuân Đức, các nhân vật trong truyện cổ tích là những nhân vật cực tuyến và phân cực rõ rệt về mặt nhân cách. Tuy nhiên, các nhân vật này vẫn chưa thể vừa mang tính khái quát vừa mang tính cá thể rõ nét. [ Nguyễn Xuân Đức, 2011, tr. 4554]. 20
- Xem thêm -