Một vài biện pháp khắc phục tình trạng sao chép văn mẫu cho học sinh lớp 4, lớp 5 trường tiểu học ngô quyền (tp. cần thơ)

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN Đề tài: MỘT VÀI BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG SAO CHÉP VĂN MẪU CHO HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÔ QUYỀN (TP. CẦN THƠ) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC Cán bộ hướng dẫn: Ths. Trịnh Thị Hương Sinh viên thực hiện: Lê Kim Hồng MSSV: 1080366 Lớp: Sư phạm Tiểu học K34 Cần Thơ, 4/2012 LỜI CẢM ƠN  Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình của quý thầy cô và bạn bè. Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô khoa Sư phạm trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt 4 năm qua. Đặc biệt, tôi muốn gửi thật nhiều lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Trịnh Thị Hương, Cô vừa là Cố vấn học tập cho tôi trong 4 năm đại học, đồng thời Cô còn là người trực tiếp hướng dẫn và hết lòng giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này. Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám Hiệu và thầy cô trường Tiểu học Ngô Quyền đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tổ chức thực nghiệm để hỗ trợ cho đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn đến các bạn sinh viên lớp Sư phạm Tiểu học K34 và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ và ủng hộ tôi trong thời gian qua. Mặc dù bản thân tôi đã nỗ lực rất nhiều nhưng do kiến thức và tài liệu tham khảo còn hạn chế, thời gian thực tập không nhiều nên khi thực hiện luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến, chỉ bảo của quý thầy cô nhằm giúp tôi hoàn thành tốt luận văn và nâng cao sự hiểu biết, kinh nghiệm cho bản thân trong công tác sư phạm sau này. Xin chân thành cảm ơn! Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2012 Sinh viên thực hiện Lê Kim Hồng 1 QUY ƯỚC VIẾT TẮT Thứ tự Nguyên văn Chữ viết tắt 1 Tập làm văn TLV 2 Giáo viên GV 3 Học sinh HS 4 Sách giáo khoa SGK 5 Số lượng SL 6 Tỉ lệ TL 2 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................... 1 2. Lịch sử nghiên cứu .................................................................................. 1 3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 6 6. Cấu trúc luận văn .................................................................................... 6 CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN MẪU VÀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN LỚP 4, LỚP 5.................................................................. 7 1. Văn mẫu và một số vấn đề về văn mẫu ................................................. 7 1.1. Văn mẫu và các dạng văn mẫu............................................................. 7 1.2. Sao chép văn mẫu và ảnh hưởng của văn mẫu đối với hoạt động làm văn của học sinh Tiểu học .................................................................................. 9 2. Khái quát về chương trình Tập làm văn lớp 4, 5 ................................. 12 2.1. Chương trình Tập làm văn lớp 4 .......................................................... 12 2.1.1. Nội dung chương trình ........................................................................ 12 2.1.2. Các yêu cầu kiến thức và kĩ năng cần đạt........................................... 13 2.1.2.1. Kiến thức .......................................................................................... 13 2.1.2.2. Kĩ năng ............................................................................................. 14 2.2. Chương trình Tập làm văn lớp 5 .......................................................... 15 2.2.1. Nội dung chương trình ........................................................................ 15 2.2.2. Các yêu cầu kiến thức và kĩ năng cần đạt........................................... 16 2.2.2.1. Kiến thức .......................................................................................... 16 2.2.2.2. Kĩ năng ............................................................................................. 17 2.3. Vị trí của phân môn Tập làm văn......................................................... 18 CHƯƠNG II KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÔ QUYỀN (TP. CẦN THƠ) 20 1. Khảo sát thực trạng học Tập làm văn của học sinh............................. 20 3 1.1. Mục đích khảo sát.................................................................................. 20 1.2. Cách tiến hành....................................................................................... 20 1.3. Quá trình khảo sát................................................................................. 20 1.4. Nội dung khảo sát.................................................................................. 20 1.5. Kết quả khảo sát .................................................................................... 20 1.6. Nhận xét kết quả khảo sát..................................................................... 25 2. Nhận định chung về tình hình học Tập làm văn của học sinh ............ 35 3. Nguyên nhân học sinh lớp 4, lớp 5 sao chép văn mẫu khi làm bài Tập làm văn ................................................................................................................. 36 4. Một vài biện pháp khắc phục tình trạng sao chép văn mẫu cho học sinh lớp 4, lớp 5 trường Tiểu học Ngô Quyền (TP. Cần Thơ)......................... 38 4.1. Về phía giáo viên – người giảng dạy .................................................... 38 4.2. Về phía học sinh .................................................................................... 46 4.3. Về chương trình Tập làm văn............................................................... 50 CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .......................................... 52 1. Mục đích thực nghiệm............................................................................. 52 2. Phương pháp thực nghiệm ..................................................................... 52 3. Nội dung thực nghiệm ............................................................................. 52 4. Tổ chức thực nghiệm............................................................................... 52 5. Quá trình và kết quả thực nghiệm......................................................... 53 5.1. Tường thuật tiết dạy lớp 4 ..................................................................... 53 5.2. Tường thuật tiết dạy lớp 5 ..................................................................... 65 KẾT LUẬN .................................................................................................. 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 84 PHỤ LỤC ..................................................................................................... 86 4 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Mỗi môn học ở Tiểu học đều có nhiệm vụ góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức, kĩ năng cần thiết. Phân môn TLV ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết cho HS. Do đó, các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm văn là rất quan trọng mà mỗi HS cần thiết phải nắm vững. Nhưng hiện nay, đa số các em HS lớp 4, 5 đều rất sợ học phân môn TLV vì không biết nói hay viết gì. Hơn nữa, một vài năm gần đây xuất hiện nhiều đầu sách in những bài văn hay, những bài văn mẫu…xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau. Đa số HS sau khi đọc tham khảo các bài văn mẫu, các bài văn hay…các em cũng thấy hay song khó có thể chỉ ra được cái hay để học tập và vận dụng. Hầu như HS khi làm văn đều phụ thuộc vào các bài văn mẫu của thầy cô, của sách hoặc dựa vào các đoạn, các ý trong cuốn: “Để học tốt Văn – Tiếng Việt”, “Để học tốt Tập làm văn” hoặc “Các bài văn hay, các bài văn chọn lọc”…Nhiều em sao chép nguyên bản bài của bạn, của GV hoặc văn mẫu. Thậm chí có em vừa sao chép vừa “lắp ghép” một cách gượng gạo, gò ép dẫn đến bài viết còn khô khan, rời rạc, lủng củng, vay mượn. Các em viết câu, dùng từ diễn đạt yếu, chưa biết sắp xếp ý, không biết lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh hay để rồi hiểu và sử dụng đúng, hợp lí, logic. Điều này tạo nên lổ hổng kiến thức, kĩ năng làm văn, khả năng tư duy, sáng tạo và cảm thụ văn của các em bị ức chế ngay từ bậc Tiểu học. Đây là vấn đề tạo nên nhiều bức xúc, lo ngại không chỉ từ phía các bậc phụ huynh mà cả các nhà giáo dục và toàn thể xã hội. Là một giáo viên Tiểu học tương lai, chúng tôi rất băn khoăn và mong muốn tìm ra cách giải quyết vấn đề này. Vì thế, người viết chọn đề tài: “ Một vài biện pháp khắc phục tình trạng sao chép văn mẫu cho học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Ngô Quyền (TP. Cần Thơ)” để nghiên cứu. 2. Lịch sử nghiên cứu Tập làm văn có thể nói là một phân môn khó nhưng rất quan trọng ở bậc Tiểu học và nhất là ở giai đoạn cuối cấp. Việc nghiên cứu để tìm ra những biện 5 pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học TLV đã được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm bằng nhiều cách, tìm hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau và chia sẻ dưới dạng là những sáng kiến kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy. Trước tiên, vấn đề nghiên cứu nhằm tìm và đổi mới các phương pháp dạy học sao cho phù hợp và có hiệu quả khi dạy TLV thể hiện trong các bài viết: “Sáng kiến kinh nghiệm - Dạy Tập làm văn tiết trả bài lớp 5” của một GV trường Tiểu học Hiệp Hòa, thành phố Hải Phòng. Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng học văn của HS lớp 5, tìm ra nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng bài văn của HS còn kém trong đó có tình trạng HS hiện nay quá phụ thuộc vào văn mẫu. Bên cạnh đó, người viết nhấn mạnh vai trò quan trọng của tiết trả bài TLV và đưa ra phương pháp nâng cao chất lượng làm văn cho HS ở 3 nội dung: chấm bài (chỉ ra lỗi sai, nêu lên ưu, nhược điểm của mỗi bài viết), thiết kế bài dạy (các bước tiến hành dạy), lên lớp (sửa lỗi sai cần thiết). Cũng hướng đến HS lớp 5, bài viết “Sáng kiến kinh nghiệm – Giúp học sinh lớp 5 học tốt phân môn Tập làm văn”, tác giả là GV Đào Thị Bích Tuyền đăng trên Vietnam.net trình bày các phương pháp khi dạy từng tiết học trong phân môn TLV: tiết quan sát tìm ý - lập dàn ý chi tiết, tiết TLV miệng và tiết TLV trả bài. Ở từng tiết, tác giả nêu lên cách hướng dẫn, tổ chức HS tiếp thu kiến thức, thực hành viết văn và kèm theo các ví dụ về các bước dạy cụ thể ở một số đề văn. Dạy học phân môn TLV gồm nhiều nội dung, văn miêu tả là một trong những nội dung quan trọng và chiếm phần lớn tiết học trong phân phối chương trình. Bài viết “Sáng kiến kinh nghiệm – Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4” của GV Trần Thị Ngọc Uyên ở Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh đã nêu lên cách rèn các kĩ năng làm văn miêu tả cho HS như sau: rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, kĩ năng phát triển từ ngữ miêu tả, kĩ năng làm văn miệng, kĩ năng viết, kĩ năng nhận xét phát hiện lỗi sai và học tập những điều bổ ích trong mỗi bài viết, cách lập dàn ý chi tiết. Mặt khác, tác giả còn nêu cụ thể phương pháp thu thập các bài văn mẫu, văn hay và cách phân tích điểm hay, chọn lọc những từ hay, ý đẹp để làm phong phú thêm vốn từ cho HS khi làm văn. Trong bài viết “Sáng kiến kinh nghiệm – Hướng dẫn học sinh quan sát, tìm 6 ý để học tốt môn tập làm văn”, cô Ngô Thị Minh Cầm đánh giá vai trò của giờ quan sát, tìm ý khi làm một bài văn miêu tả; cách hướng dẫn và tổ chức cho HS quan sát, tìm ý; tiến hành thực nghiệm áp dụng phương pháp để tổ chức giờ quan sát cho HS. Còn “Sáng kiến kinh nghiệm – Một số trò chơi giúp các tiết dạy văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 4 đạt hiệu quả” của một GV trường Tiểu học Bùi Chát thuộc thành phố Hội An - Đà Nẵng đi sâu tìm hiểu mục đích và cách tổ chức một số trò chơi trong dạy học tiết văn miêu tả, vừa tạo cho HS sự thoải mái, hứng thú vừa nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức, nâng cao hiệu quả làm văn của HS. Chia sẻ những kinh nghiệm thực tế giảng dạy, giáo viên Trần Thị Mão với bài viết “Kinh nghiệm giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 4” trình bày những kinh nghiệm giảng dạy môn TLV lớp 4 ở 2 thể loại chính là văn kể chuyện và văn miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật). Theo từng thể loại, người viết nêu cụ thể các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cơ bản mà HS phải nắm và chia sẻ cách thức hướng dẫn HS của mình. Tiểu luận với đề tài: “Quy trình lập dàn ý miêu tả đạt hiệu quả cho học sinh lớp 5 Tiểu học”, người viết là Vũ Tuấn Trình gửi trên mục “Sáng kiến kinh nghiệm môn Tập làm văn 5”, thư viện violet có đề cập đến đặc điểm chương trình TLV mới 175 tuần dành cho lớp 5 Tiểu học, nêu lên quy trình lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả cảnh và trình bày giáo án đối với nội dung dạy “Luyện tập tả cảnh”. Đáng lưu ý là bài viết “Sáng kiến kinh nghiệm – Giúp học sinh học tốt môn Tập làm văn” từ nguồn Tailieuchuan.vn. Người viết nêu một trong những nguyên nhân dẫn đến kĩ năng làm văn của HS còn kém là việc chọn nguồn sách tham khảo không hợp lí và sử dụng không đúng cách, tác giả cho rằng: “Người viết sách chưa từng dạy Tiểu học nên sách vẫn chưa hợp lí. Không xuất phát từ trình độ thực tế của học sinh nên sách nào cũng có bài mẫu và đến lúc học sinh chỉ việc chép bài mẫu là đã vượt yêu cầu của thầy cô. Học sinh chép nhưng thực chất không hiểu mà chép một cách máy móc. Vì thế, ở một khía cạnh nào đó, sách không giúp sự phát triển mà còn kìm hãm, đè ép sự phát triển”. Và hiện nay, vấn đề HS sao chép văn mẫu khi làm văn đã và đang gây nên nhiều bình luận từ phía thầy cô - những người trực tiếp đứng lớp, các bậc phụ 7 huynh học sinh và toàn xã hội. Trong bài viết “Học sinh đang quá phụ thuộc vào văn mẫu” của tác giả Khôi Nguyên (Đồng Khởi – Biên Hòa – Đồng Nai) in trên Vietnamnet.vn nêu những tác động tiêu cực của sách văn mẫu: “Mỗi khi làm bài kiểm tra, thì đa số các em lại “copy” lại những gì đã học thuộc lòng từ bài văn mẫu – những câu từ mĩ miều và có vẻ hay ho nhưng vô hồn mà chính các em cũng không hiểu mình đang viết gì ?”. Tình trạng này cũng xảy ra với HS là người dân tộc thiểu số, bài viết: “Những lưu ý khi dạy học sinh dân tộc thiểu số học môn Tập làm văn” của tác giả Hoàng Minh Sơn đăng trên baodaklak.vn trình bày: “Một cố tật khá phổ biến ở học sinh nói chung, học sinh dân tộc ít người nói riêng khi làm bài tập làm văn là thường bắt chước các bài trong các tài liệu tham khảo gọi là văn mẫu, văn hay, văn chọn lọc…”, “Với học sinh người dân tộc thiểu số, việc bắt chước, sao chép các bài văn như vậy càng trở nên ngô nghê thậm chí phản cảm, không thể chấp nhận được”. Tình trạng trên đã làm nhiều người bức xúc nhất là các bậc phụ huynh, trong bài viết “Người lớn quá mất niềm tin vào văn trẻ” của tác giả Hương Giang trên Vietnamnet.vn có đoạn: “Sau gần một tháng đăng các bài văn tiểu học, VietNamNet đã ghi nhận được hơn 500 phản hồi của độc giả về các bài văn của học sinh. Đáng lưu ý, có tới hai phần ba lượng độc giả tỏ ra nghi ngờ về khả năng viết văn của các em, cho rằng có sự can thiệp của người lớn”. Nội dung mà độc giả phản ánh là các bài làm văn với giọng văn “quá già” so với lứa tuổi Tiểu học. Các bài TLV quá xuất sắc, bố cục rõ và gọn, câu văn cũng như từ ngữ chính xác và đó không còn là một bài tập làm văn nữa mà trở thành bài văn hay, văn mẫu có sự can thiệp của người lớn. Cũng theo hướng này, trong bài viết theo Đất Việt đăng trên Vietnamnet.vn: “Dạy văn hay ép học sinh học thuộc lòng” nêu lên vấn đề bức xúc: “Thay vì để viết ra những cảm xúc chân thực về thế giới xung quanh, nhiều thầy cô giảng dạy ở Tiểu học lại “ép” các em học thuộc lòng những bài văn mẫu và viết lại trong kì kiểm tra”. Người viết nêu lên hai trường hợp: cô H.G, giáo viên một trường Trung học sơ sở tại quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, ấm ức: “Con tôi đang học lớp 4, mỗi khi cô giáo của cháu ra đề tập làm văn về nhà, tôi đều hướng cho con viết ra những cảm nghĩ thật của cháu. Tuy nhiên, khi 8 đến trường cô giáo lại luôn đưa ra những câu văn khuôn mẫu và sáo rỗng để bắt cháu học thuộc”; Chị Thanh Loan ở quận 1, bộc bạch: “Con tôi năm nay học lớp 5, để chuẩn bị kì thi học kì 2, bé phải học thuộc lòng gần chục bài tập làm văn như tả kỉ niệm đáng nhớ, tường thuật buổi tham quan, tả về con vật mà em yêu thích….Khi tôi gợi ý thêm vài chi tiết, con tôi nói cô giáo dặn chỉ học theo bài văn mẫu chứ không được ghi thêm ý khác”. Trên chuyên mục giáo dục, bài viết “Đỏ mắt tìm văn mẫu tốt cho con”, tác giả Nguyễn Hường phản ánh tình trạng hiện nay các bậc cha mẹ băn khoăn trong việc lựa chọn văn mẫu tốt cho con vì trên thị trường xuất hiện hàng loạt các loại sách văn mẫu từ nhiều nguồn khác nhau nhưng để tìm được sách tham khảo tốt thì rất khó. Trên vietbao.vn vào trang bạn đọc, cũng có bài viết: “Nguy hiểm văn mẫu”, tác giả Nguyễn Thanh Xuân nêu lên các mối nguy hiểm khi HS hiện nay sao chép văn mẫu để đối phó các kì thi, kiểm tra hay chọn các đầu sách tham khảo không tốt. Tuy tình trạng này đã xuất hiện và kéo dài từ nhiều năm và tạo nên nhiều bình luận nhưng hiện tại vẫn chưa có ai đi sâu nghiên cứu và tìm ra hướng giải quyết thiết thực. Vì lẻ đó, đề tài “Một vài biện pháp khắc phục tình trạng sao chép văn mẫu cho học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Ngô Quyền (TP. Cần Thơ)” được đặt ra là tương đối mới mẻ, mở ra nhiều hướng đi cho người nghiên cứu. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài, chúng tôi muốn hiểu rõ hơn về thực trạng viết văn của HS Tiểu học hiện nay và thấy được những nguyên nhân dẫn đến HS có thói quen chép văn mẫu khi làm bài trong các giờ kiểm tra hoặc thi cử. Từ đó, chúng tôi đề xuất một vài biện pháp khắc phục tình trạng sao chép văn mẫu cho HS, đặc biệt là HS lớp 4, 5 theo quan điểm của mình dựa trên thực tế nghiên cứu của bản thân và kinh nghiệm giảng dạy của các thầy cô đi trước. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu là thực trạng viết văn của HS lớp 4, 5 trường Tiểu học Ngô Quyền TP.Cần Thơ. 9 Phạm vi: theo giới hạn trong khuôn khổ luận văn này, người viết chỉ tìm hiểu vấn đề sao chép văn mẫu của HS lớp 4, 5 trường Tiểu học Ngô Quyền (Thành phố Cần Thơ) dựa vào quá trình khảo sát thực tế (phiếu khảo sát mà chúng tôi gửi cho HS lớp 4, 5 và khảo sát một vài bài viết văn của chính HS). 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp quan sát bằng cách dự giờ, lắng nghe, ghi chép biên bản các hoạt động dạy và học của GV, HS. Phương pháp điều tra thông qua việc khảo sát, đặt câu hỏi trên phiếu đánh giá gửi cho HS và điều tra trên bài làm văn của HS nhằm tìm hiểu thực trạng học văn của các em. Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê kết quả phiếu khảo sát về thực trạng viết văn của HS. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được thực hiện qua việc phân tích quá trình dạy học của GV và HS, tổng kết những kinh nghiệm học được. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: người viết thực hiện bằng cách tiến hành vận dụng những biện pháp đề ra vào thực tiễn để kiểm nghiệm kết quả. 6. Cấu trúc luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương: Chương I Khái quát chung về văn mẫu và chương trình Tập làm văn lớp 4, lớp 5 Chương II Khảo sát thực trạng viết của học sinh lớp 4, lớp 5 trường Tiểu học Ngô Quyền (TP. Cần Thơ) Chương III Thực nghiệm sư phạm 10 CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN MẪU VÀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN LỚP 4, LỚP 5 1. Văn mẫu và một số vấn đề về văn mẫu 1.1. Văn mẫu và các dạng văn mẫu Văn mẫu là từ để chỉ những cách hành văn (cách đặt câu, dùng từ, cách trình bày, diễn đạt…trong viết văn) xét ở phương diện nào đó gọi là mẫu mực, là những bài văn mà dựa vào nó có thể tạo ra hàng loạt những bài văn khác tương tự cùng một kiểu. Các dạng văn mẫu gồm 4 dạng: - Dạng văn mẫu gồm những bài văn hay, những bài văn được điểm cao làm tại lớp của HS được tuyển chọn, những bài văn đạt giải của các em HS trên khắp mọi miền đất nước trong các kì thi HS giỏi cấp tỉnh thành và toàn quốc có ghi rõ họ tên, địa chỉ trường của người làm. Đối với dạng này, có một số loại sách như sau: 155 bài làm văn Tiếng Việt 4(5), NXB Đại học Sư phạm, tác giả Tạ Thanh Sơn; Những bài Tập làm văn chọn lọc 4(5), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Tạ Đức Hiền; 166 bài làm văn Tiếng Việt lớp 5, tác giả Trần Đức Niềm, Văn kể chuyện lớp 4(5), văn miêu tả 4(5), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Tạ Thanh Sơn, Những bài văn Tự sự, miêu tả lớp 5, NXB Đại học sư phạm, tác giả Đỗ Kim Thảo, Trần Huy Thông;… - Dạng văn mẫu gồm những đề văn và những bài làm mẫu với tác giả chính là nhóm biên soạn sách nhằm mục đích làm tài liệu cho HS tham khảo và bồi bưỡng văn như: Tuyển chọn 171 bài văn hay 4 (5) (Bồi dưỡng học sinh giỏi) hay 166 bài làm văn Tiếng Việt 4(5), NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; Bồi dưỡng văn năng khiếu 4(5), NXB Hải Phòng, tác giả Trần Đức Niềm; Tuyển chọn 153 bài văn hay 4(5), NXB Hải Phòng, tác giả Thạc sĩ Lê Xuân Anh; Những bài làm văn mẫu 4(5), NXB Văn hóa thông tin, tác giả Lê Phương Liên; 199 đề và đoạn văn hay 4(5), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả thạc sĩ Lê Anh Xuân; 162 bài văn chọn lọc, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Vũ Khắc Tuân; 162 bài văn Tiếng Việt 4(5), tác giả Trần Thảo Nguyên và còn nhiều loại sách khác. 11 - Dạng văn mẫu gồm những câu hỏi, bài tập gợi ý, dàn bài, những đề văn và những bài văn mẫu gắn liền với nội dung chương trình học nhằm hướng dẫn HS tự học như: 100 dàn bài chi tiết làm văn 4, NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; 169 bài tập làm văn chọn lọc 4(5), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Lê Phương Liên - Khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sài Gòn; Những bài văn mẫu 4(5), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Vũ Khắc Tuân; Luyện kĩ năng Tập làm văn lớp 4(5), NXB Giáo dục Việt Nam, tác giả Trần Mạnh Hưởng – Nguyễn Trí;… - Dạng văn mẫu là những sách giải bài tập trong SGK tiếng Việt 4, 5 theo chương trình sách mới như: Hướng dẫn giải vở bài tập Tiếng Việt 4 (5), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả Trần Đức Niềm; Để học tốt Tiếng việt 4(5), Giải vở bài tập tiếng Việt 4 (5), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; Tự học Tiếng Việt bậc Tiểu học; Những bài làm văn mẫu 4(5); Kiến thức và bài văn mẫu 4 (5), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, thạc sĩ Lê Anh Xuân; Bồi dưỡng Văn – Tiếng việt 4 (5), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Hồ Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Kim Dung;… Văn mẫu có rất nhiều loại và vô cùng đa dạng, là nguồn tài liệu tham khảo rất tốt cho người dạy và người học nếu biết sử dụng đúng cách. Văn mẫu giúp HS tự học, trau dồi vốn từ và kinh nghiệm sống, làm phong phú hơn cho bài văn của các em. Các em có thể đọc những bài văn mẫu và học tập cách viết, cách tả, cách kể, cách thể hiện cảm xúc của các bạn gần xa. Bên cạnh đó, văn mẫu còn giúp các bậc phụ huynh và giáo viên trong việc hướng dẫn HS làm bài tập hay chuẩn bị bài mới. Đối với những HS có năng khiếu văn, một số dạng văn mẫu cung cấp cho các em những kinh nghiệm thiết thực, bổ ích trong quá trình rèn luyện, nâng cao năng lực sản sinh ngôn ngữ. Đồng thời, chúng còn gợi ý cho HS suy nghĩ, lựa chọn những lời hay, ý đẹp và vận dụng một cách sáng tạo vào bài viết làm nên những bài văn hay, mẫu mực. Có một số loại sách văn mẫu được biên soạn kỹ càng. Đối với từng đối tượng, mỗi tác giả đều nêu lên cách sử dụng sao cho phù hợp và hiệu quả. Với 12 mỗi dạng bài học, đều có phân tích rõ đặc điểm và hướng dẫn cách tư duy, lập dàn bài. Các phương pháp miêu tả được chỉ rõ qua từng ví dụ là những bài học bổ ích để HS chủ động tư duy chứ không đơn thuần là bắt chước. 1.2. Sao chép văn mẫu và ảnh hưởng của văn mẫu đối với hoạt động làm văn của học sinh Tiểu học Theo khoản 10 điều 4 của luật Sở hữu trí tuệ nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử”. Sao chép văn mẫu là hình thức tạo ra những sản phẩm trong lĩnh vực văn học theo khuôn mẫu cách hành văn của người khác. Từ một tác phẩm riêng của một tác giả tiến hành sao chép bằng nhiều hình thức khác nhau để tạo ra hàng loạt các bản sao tương tự nhau. Ngày nay, hiện tượng sao chép văn hay còn gọi là “đạo văn” rất phổ biến nhất là trong lĩnh vực giáo dục. HS ở các cấp học từ bậc Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học Phổ thông đều có trường hợp sử dụng và sao chép văn của người khác khi làm bài, cụ thể ở 3 mức độ sau: - Sao chép nguyên văn, máy móc các bài văn mẫu của thầy cô, bạn bè hay trong sách văn mẫu. - Sao chép từng đoạn có thể từ nhiều loại sách văn mẫu rồi lắp ghép thành một bài văn. - Sao chép có chọn lọc ý hay, những hình ảnh, chi tiết đẹp, học hỏi những cái hay để thêm phần sáng tạo cho bài văn của mình. Văn mẫu ngày càng phổ biến và được sử dụng càng nhiều thì ảnh hưởng của chúng cũng ngày một lớn. Một khi văn mẫu được sử dụng theo chiều hướng tích cực thì vai trò để tham khảo và bồi dưỡng kĩ năng làm văn cho HS mới thực sự phát huy tác dụng. Thực chất, nhiều loại văn mẫu như con dao hai lưỡi. Việc tìm và chọn được những sách tham khảo tốt là rất khó và để sử dụng chúng có hiệu quả càng khó hơn. Nếu sử dụng văn mẫu không hợp lí sẽ gây ra những ảnh 13 hưởng tiêu cực đến chất lượng bài văn của HS, hạn chế khả năng tư duy, diễn đạt, biểu cảm và sản sinh ngôn ngữ của các em. * Ảnh hưởng tích cực: Không hề sai nếu cho rằng đọc sách văn mẫu sẽ góp phần giúp trẻ phát triển khả năng viết văn. Khi trẻ đọc được những bài văn hay, những bài văn đạt điểm cao, những bài văn đạt giải của chính các HS khác viết trong các kì thi, các em sẽ học hỏi được nhiều điều bổ ích, làm dồi dào thêm vốn từ và những hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, trau dồi thêm tình cảm, tăng cường khả năng cảm thụ văn chương, làm giàu cảm xúc cho HS. Về phần câu từ, trong sách văn mẫu thường khá trau chuốt bởi nếu không được viết từ những giáo sư giảng dạy có kinh nghiệm thì cũng được viết bởi những HS khá giỏi có năng khiếu văn. Vì thế, khi HS đọc nhiều sách, một phần nào đó những câu từ thường được sử dụng sẽ ăn sâu vào trong bộ óc .Từ đó, giúp các em diễn đạt một cách rành mạch hơn, logic và chính xác hơn. Các em vận dụng những điều hay đã học hỏi được một cách sáng tạo vào quá trình làm văn của mình. Rõ ràng, các em sao chép nhưng có chọn lọc và không gập khuôn sẽ tạo nên một sản phẩm hay và thực sự của mình. Đặc biệt, nếu HS chọn được những cuốn văn mẫu tốt còn giúp các em tự học văn một cách tốt hơn vì nhiều loại sách văn mẫu có nội dung hướng dẫn, những câu hỏi và gợi ý trả lời cho HS, những bài tập thực hành hay lập dàn bài nêu lên những ý chính giúp HS nắm chắc kiến thức cơ bản, nắm bắt ý chính, hiểu được nội dung chính cần nói kết hợp lúc làm bài phát triển, sáng tạo thêm vừa làm phong phú hơn cho bài văn vừa tránh được trường hợp làm lạc đề. * Ảnh hưởng tiêu cực Ngày nay, HS quá phụ thuộc vào những bài văn mẫu. Các em bị động trong chính bài làm, cách viết văn của mình. Có nhiều loại văn mẫu rập khuôn một cấu trúc biên soạn với vài lời nói đầu ngắn ngủi, tiếp đến là phần quan trọng nhất, chiếm phần lớn là đề bài và bài văn mẫu, rất ít dàn ý đi kèm hay hướng dẫn cụ thể với từng dạng bài và đề văn. Công cụ dàn ý và hướng dẫn nhận dạng các loại đề văn nếu có cũng không được tác giả đầu tư đúng mức và phần lớn mang 14 tính áp đặt. Thay vì gợi ý miêu tả các bộ phận của cây thì dàn ý lại như một món ăn dọn sẵn trong sách: “Tuyển tập những bài văn hay lớp 4”. Chính vì có những món ăn dọn sẵn quá thuận tiện đó đã gây nên nhiều khó khăn và làm mất đi tác dụng tham khảo của văn mẫu. Thực sự chỉ những HS có ý thức và học lực từ trung bình khá trở lên, các em mới biết chọn lọc những ý, chi tiết, hình ảnh hay, học hỏi những cái hay trong bài viết để tạo nên kiến thức cho mình. Còn lại, đối với nhiều HS có học lực yếu, trung bình, những sách tham khảo như vậy trở nên quá nặng. Vì thế, đối với những HS đó nếu không có sự chỉ dẫn tốt từ cha mẹ, thầy cô thì văn mẫu chẳng khác gì là phao cứu sinh, biến đổi hoàn toàn khái niệm “Tham khảo” thành “Sao chép”. Và từ lí do quá phụ thuộc dẫn đến HS ỷ lại, thui chột khả năng tự học, tự sáng tạo của các em và thực tế có những bài kiểm tra, bài thi phân môn TLV của đa số HS là nguyên văn của những bài văn mẫu của thầy cô, của bạn bè, những bài văn, những đoạn văn trong các sách: “Để học tốt Văn – Tiếng Việt”, “Học tốt Tập làm văn” hoặc “Các bài văn hay, các bài văn chọn lọc”,…Thậm chí có em học thuộc văn mẫu để chép nhưng không nhớ dẫn đến sao chép và lắp ghép một cách gượng gạo, gò ép, câu văn rời rạc, lủng củng, ý tứ không rõ ràng. Hiện nay có nhiều loại sách văn mẫu dành cho HS Tiểu học với những bài văn do người lớn viết nên nội dung cũng rất “người lớn” không phù hợp với kiến thức và khả năng của các em. Trong những sách văn mẫu đó, dàn ý sơ sài thậm chí không có mà phần lớn là những đề văn và những bài văn mẫu. Chúng chẳng khác gì một cuốn văn mẫu với 100% trong sách là đề và bài văn. Lời nói đầu trong hầu hết những sách thuần văn mẫu như vậy đều rất tiết kiệm, chủ yếu là những lời quảng cáo hấp dẫn chứ không thông tin về cách bố cục cuốn sách hay hướng dẫn người sử dụng một cách hiệu quả nhất. Gần như không một cuốn sách nào dành vài dòng để nhận xét những cái hay cái dở của chính các bài văn trong sách, tất cả đều được coi như những bài văn mẫu mực và không cần bình luận. Đối với một bài văn do người lớn viết, từ nội dung đến hình thức đều dễ dàng nhận ra không phải cách viết văn của một HS Tiểu học. Những câu văn mĩ miều và có vẻ hay ho nhưng vô hồn mà chính các em cũng không hiểu mình đang viết 15 gì đến nội dung với những hình ảnh nghệ thuật, cảm xúc bay bổng mà học sinh chưa từng biết đến nó. Tất cả những hiện tượng trên chính là ảnh hưởng tiêu cực của “bài văn mẫu” hay chính là sự nhầm lẫn trong khái niệm “Tham khảo” và “Sao chép” mà không có sự uốn nắn kịp thời và đúng đắn của thầy cô. Như đã biết, văn học là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, ở đó ta có thể bắt gặp sự phong phú trong ngôn từ, sự tinh túy trong câu chữ và cả những phong cách, những tâm hồn khác nhau. Thế mà ngay từ bé các em đã có nguy cơ “đánh mất mình” khi chép văn mẫu. Và như vậy, ngay từ khi đặt bút viết, HS Tiểu học đã vô tình bị kìm kẹp trong khuôn mẫu cách hành văn, khiến hình thành trong tư duy của các em một cái “ngưỡng” vô hình và không bao giờ dám bứt phá để thỏa mãn sự sáng tạo của mình. Đây là một thực trạng đau lòng đang được các nhà nghiên cứu Giáo dục và xã hội quan tâm. 2. Khái quát về chương trình Tập làm văn lớp 4, lớp 5 2.1. Chương trình Tập làm văn lớp 4 2.1.1. Nội dung chương trình Chương trình TLV ở các lớp 2, 3 chủ yếu giúp HS thực hành rèn luyện các kĩ năng nói, viết, nghe nhằm phục vụ tích cực cho việc học tập, giao tiếp và ứng xử có văn hóa, đồng thời chuẩn bị cho yêu cầu học TLV ở giai đoạn sau (lớp 4, lớp 5), cụ thể: - Thực hành về một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày như: điền vào tờ giấy in sẵn, viết thư, làm đơn, tổ chức cuộc họp và phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tổ, lớp và trường, ghi chép sổ tay…. - Thực hành rèn kĩ năng diễn đạt (nói, viết), như: kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi. - Thực hành kĩ năng nghe: dựa vào câu hỏi gợi ý để kể lại được nội dung chính của mẩu chuyện đã nghe, nghe – hiểu được ý kiến của bạn và có thể nêu ý kiến bổ sung hay nhận xét. Theo quan điểm tích hợp, chương trình TLV lớp 4 tiếp tục rèn luyện cho HS cả 4 kĩ năng: nói, viết, nghe và đọc. Học sinh lớp 4 được dạy các kĩ năng kể 16 chuyện và miêu tả đồ vật, cây cối, con vật thông qua các bài thực hành, luyện tập và bước đầu hình thành những tri thức sơ giản về văn bản (kết cấu 3 phần: mở bài, phần chính, phần kết thúc của văn bản; đặc điểm, phương pháp làm bài theo thể loại,…) Bên cạnh đó, các em còn được rèn luyện kĩ năng thuyết trình, giới thiệu, trao đổi và nâng cao các kĩ năng khác đã được hình thành từ các lớp dưới như: viết thư, điền vào tờ giấy in sẵn,… Cấu trúc chương trình TLV lớp 4 cụ thể như sau: Số tiết dạy Thể loại văn bản Học kì I Học kì II Cả năm - Kể chuyện 19 - Miêu tả: 7 23 30 - Viết thư 3 1 3 - Trao đổi ý kiến 2 3 2 - Giới thiệu hoạt động 1 3 2 19 - Tóm tắt tin tức 3 - Điền vào tờ giấy in sẵn 3 Tổng số: 32 tiết 30 tiết 62 tiết Bảng 1: Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4 2.1.2. Các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cần đạt 2.1.2.1. Kiến thức Thông qua những giờ dạy kể chuyện, miêu tả và một số loại văn bản khác, HS lớp 4 được trang bị một số hiểu biết ban đầu về những đặc điểm chính của các loại văn bản ấy, cụ thể như sau: - Văn kể chuyện. + Thế nào là kể chuyện? + Nhân vật trong truyện. Kể lại hành động của nhân vật. Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện. Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật. + Cốt truyện. 17 + Đoạn văn trong bài văn kể chuyện. Mở bài, kết bài trong bài văn kể chuyện. - Văn miêu tả + Thế nào là văn miêu tả? + Quan sát để miêu tả cho sinh động. + Trình tự miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật). + Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật). - Các lọai văn bản khác + Viết thư (mục đích của viết thư; cấu tạo một lá thư). + Trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu hoạt động của địa phương, điền vào tờ giấy in sẵn (giấy tạm trú, tạm vắng; thư chuyển tiền; điện chuyển tiền; giấy đặt mua báo): thông qua các bài luyện tập, trang bị cho HS một số hiểu biết về các loại văn bản này. 2.1.2.2. Kĩ năng Các bài học rèn luyện cho HS những kĩ năng sản sinh ngôn bản cụ thể như sau: - Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp: + Nhận diện đặc điểm văn bản. + Phân tích đề bài, xác định yêu cầu. - Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp: + Xác định dàn ý của bài văn đã cho. + Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện. + Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả (tả đồ vật, cây cối, con vật). - Kĩ năng thực hiện hóa hoạt động giao tiếp: + Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn). + Liên kết các đoạn văn thành bài văn. Bước đầu viết được bài văn theo dàn ý đã lập có độ dài khoảng 150 – 200 chữ. + Viết được các văn bản thông thường như: thư, đơn, báo cáo tóm tắt, điện báo. 18 + Viết đơn tóm tắt đoạn tin, mẫu tin, câu chuyện đơn giản. - Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp: + Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt. + Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt. Điều cần lưu ý là: những nội dung kiến thức và kĩ năng làm văn dạy ở lớp 4 luôn quán triệt tinh thần tích cực hóa hoạt động học tập: HS được tiếp nhận kiến thức thông qua yêu cầu thực hành, luyện tập phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi chứ không phải qua những bài học lí thuyết nặng nề, khô khan. 2.2. Chương trình Tập làm văn lớp 5 2.2.1. Nội dung chương trình Theo quan điểm tích hợp, tiếp theo lớp 4, chương trình TLV lớp 5 tiếp tục rèn luyện cho HS cả 4 kĩ năng: nói, viết, nghe và đọc. Học sinh được học tiếp về kĩ năng miêu tả đã học ở lớp 4 và 2 kĩ năng mới (tả cảnh, tả người) với những yêu cầu cao hơn, được rèn luyện thêm về kĩ năng thực hành một số loại văn bản khác (báo cáo thống kê, đơn, biên bản…) đồng thời được dành thời gian thích đáng để ôn tập về các kĩ năng kể chuyện, miêu tả đã được học ở cả lớp 4 và lớp 5. 19
- Xem thêm -