Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao việt nam

  • Số trang: 228 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- ĐÀO THỊ DƢƠNG MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Hà Nội - 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- ĐÀO THỊ DƢƠNG MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO VIỆT NAM Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS Mai Ngọc Chừ Hà Nội- 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dựa trên sự góp ý của giáo viên hƣớng dẫn. Các số liệu, kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này là xác thực, chƣa từng đƣợc công bố ở bất kỳ công trình nào khác. Hà Nội, ngày 06 tháng 08 năm 2015 Tác giả luận văn Đào Thị Dƣơng LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của thầy cô cũng nhƣ bạn bè, ngƣời thân. Trƣớc tiên, em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS Mai Ngọc Chừ - ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn và chỉ bảo em hoàn thành tốt luận văn này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học – Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện học tập cho em trong suốt thời gian em học ở trƣờng. Nhân đây em cũng xin phép gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện tốt để em hoàn thành luận văn. Mặc dù đã rất cố gắng nhƣng luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận đƣợc sự góp ý của thầy cô và các bạn. Hà Nội, ngày 06/08/2015 Học viên Đào Thị Dƣơng BẢNG VIẾT TẮT TH : Tín hiệu THTM : Tín hiệu thẩm mĩ CBH : Cái biểu hiện CĐBH : Cái đƣợc biểu hiện MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................4 1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................4 2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................5 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................7 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................8 5. Phƣơng pháp nghiên cứu......................................................................................8 6. Ý nghĩa khoa học của đề tài .................................................................................8 7. Cấu trúc của luận văn ...........................................................................................9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...........................................................................10 1.1. Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ ...........................................10 1.1.1. Tín hiệu ...........................................................................................................10 1.1.2. Tín hiệu ngôn ngữ..........................................................................................12 1.1.3. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ ...........................................................................13 1.2. Một số đặc tính cơ bản của THTM ................................................................15 1.2.1. Tính nguồn gốc ..............................................................................................15 1.2.2. Tính cấp độ .....................................................................................................16 1.2.3. Tính hệ thống .................................................................................................17 1.2.4. Tính biểu hiện ................................................................................................19 1.2.5. Tính biểu trưng ..............................................................................................20 1.2.6. Tính trừu tượng và cụ thể ..............................................................................22 1.3. Quá trình để hiểu Tín hiệu thẩm mĩ ...............................................................24 1.3.1. Tín hiệu thẩm mĩ với các yếu tố giao tiếp .....................................................24 1.3.2. Lý thuyết chiếu vật .........................................................................................27 1.4. Vài nét về ca dao và ngôn ngữ ca dao ...........................................................28 Tiểu kết: ...................................................................................................................30 Chƣơng 2: KHẢO SÁT MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ ..................................31 TRONG CA DAO VIỆT NAM ..............................................................................31 2.1. Một số tín hiệu thuộc tự nhiên ........................................................................31 1 2.1.1. Tín hiệu mưa ..................................................................................................33 2.1.1.1. Các biến thể từ vựng của tín hiệu mưa trong ca dao ................................33 2.1.1.2. Các biến thể kết hợp của tín hiệu mưa trong ca dao .................................35 2.1.1.3. Các biến thể quan hệ của tín hiệu mưa trong ca dao................................38 2.1.2. Tín hiệu nắng .................................................................................................40 2.1.2.1. Các biến thể từ vựng của tín hiệu nắng trong ca dao ...............................40 2.1.2.2. Các biến thể kết hợp của tín hiệu nắng trong ca dao ................................42 2.1.2.3. Các biến thể quan hệ của tín hiệu nắng trong ca dao...............................44 2.1.3. Tín hiệu gió.....................................................................................................45 2.1.3.1. Các biến thể từ vựng của tín hiệu gió trong ca dao ..................................45 2.1.3.2. Các biến thể kết hợp của tín hiệu gió trong ca dao ...................................47 2.1.3.3. Các biến thể quan hệ của tín hiệu gió trong ca dao ..................................50 2.2. Một số tín hiệu là vật thể nhân tạo .................................................................52 2.2.1. Tín hiệu áo ......................................................................................................54 2.2.1.1. Các biến thể từ vựng của tín hiệu áo trong ca dao....................................54 2.2.1.2. Các biến thể kết hợp của tín hiệu áo trong ca dao ....................................56 2.2.1.3. Các biến thể quan hệ của tín hiệu áo trong ca dao ...................................58 2.2.2. Tín hiệu yếm ...................................................................................................60 2.2.1.1. Các biến thể từ vựng của tín hiệu yếm trong ca dao .................................60 2.2.1.2. Các biến thể kết hợp của tín hiệu yếm trong ca dao..................................62 2.2.1.2. Các biến thể quan hệ của tín hiệu yếm trong ca dao ................................64 Tiểu kết .....................................................................................................................65 Chƣơng3: GIÁ TRỊ BIỂU TRƢNG CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO VIỆT NAM ..............................................................................66 3.1. Tín hiệu thuộc tự nhiên....................................................................................66 3.1.1. Tín hiệu mưa ..................................................................................................66 3.1.1.1. Mưa – hiện thân của sự sống .....................................................................66 3.1.1.2. Mưa mang dáng hình lam lũ, chịu thương chịu khó của người lao động ........ 69 3.1.1.3. Mưa trong lòng người .................................................................................71 2 3.1.1.4. Mưa biểu trưng cho hình ảnh người phụ nữ ............................................73 3.1.1.5. Mưa và mô thức tình cảm ái ân .................................................................74 3.1.2. Tín hiệu nắng .................................................................................................77 3.1.2.1. Nắng mở ra một không gian tràn ngập ánh sáng trong ca dao ................77 3.1.2.2. Nắng biểu trưng cho nét tính cách của người lao động ...........................79 3.1.2.3. Nắng biểu trưng cho thời cuộc và các mối quan hệ xã hội ......................80 3.1.3. Tín hiệu gió.....................................................................................................82 3.1.3.1. Gió – không gian nên thơ, êm đềm và thanh thản ....................................82 3.1.3.2. Gió – không gian tình yêu lãng mạn ..........................................................84 3.1.3. Gió – không gian li biệt ..................................................................................87 3.1.3.4. Gió – sự thay lòng đổi dạ ............................................................................90 3.2. Tín hiệu là vật thể nhân tạo.............................................................................93 3.2.1. Tín hiệu áo ......................................................................................................93 3.2.1.1. Áo và sự đồng nhất với chủ thể ..................................................................93 3.2.1.2. Áo biểu trưng cho tình cảm gia đình .........................................................97 3.2.1.3. Áo biểu trưng cho tình yêu lứa đôi.............................................................98 3.2.1.4. Áo biểu trưng cho quan niệm về cái đẹp ..................................................100 3.2.1.5. Áo thể hiện nhân sinh quan của người xưa ............................................102 3.2.2. Tín hiệu yếm ................................................................................................103 3.2.2.1. Yếm biểu trưng cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam..104 3.2.2.2. Yếm trở thành ngôn ngữ trao gửi tình yêu lứa đôi .................................107 3.2.2.3. Yếm biểu trưng cho tính dục ....................................................................110 Tiểu kết ...................................................................................................................114 KẾT LUẬN ............................................................................................................116 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................119 NGUỒN TƢ LIỆU ................................................................................................123 3 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Ca dao ra đời từ rất sớm và lƣu truyền cho đến ngày nay. Ca dao thấm vào tâm hồn mỗi chúng ta từ lúc lọt lòng qua lời ru của bà, câu hát của mẹ. Nhà thơ Nguyễn Duy đã giãi bày niềm xúc cảm chân thành của mình: “Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” Vòng tròn đời ngƣời khởi phát từ lời ca dao đƣợc mẹ ru bên cánh võng từ thuở ấu thơ, để rồi qua từng trƣờng đoạn bể dâu, ca dao lại là lời gợi nhắc con ngƣời trở về với cội nguồn, với những giá trị văn hóa – nhân bản của dân tộc mình. Bao đời nay, từ những câu ca dao đẹp nhƣ lòng mẹ, mỗi lớp hậu sinh vẫn tìm thấy mình trong tinh hoa ngàn đời của dân tộc tích tụ lại thành một dấu ấn riêng. Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, ca dao chính là một viên ngọc vô giá và đến nay vẫn là một mảnh đất màu mỡ cho những tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học trên cả lĩnh vực văn hóa, văn học và ngôn ngữ học. 2. Nói đến tín hiệu thẩm mĩ (THTM) là nói đến một vấn đề lí luận mang tính liên ngành. Đây là một thuật ngữ có thể dùng trong nhiều bộ môn nghệ thuật nhƣng có lẽ quen thuộc hơn cả là ngƣời ta thƣờng nói đến THTM nhƣ sự thể hiện của những tín hiệu (TH) ngôn ngữ đƣợc đặt trong mối quan hệ với tác phẩm văn chƣơng. Bản thân TH ngôn ngữ đã mang nghĩa biểu trƣng. Không dừng lại ở đó, một TH ngôn ngữ thông thƣờng khi đi vào thế giới thi ca thì đã đƣợc chuyển hóa thành TH nghệ thuật, THTM – ngôn ngữ hay TH văn chƣơng. THTM có nhiều đặc tính trong đó đáng chú ý nhất là tính biểu trƣng. Tính biểu trƣng đƣợc xét trong mối quan hệ hai mặt: cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt. Đó là mối quan hệ “có lí do” liên quan đến năng lực biểu trƣng hóa, đến khả năng của THTM vừa có tính chất biểu thị - nói lên một cái gì, vừa có tính chất hàm nghĩa - sự thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn. Ví dụ: Cây thuỳ dƣơng trong thơ dân gian Nga biểu trƣng cho tƣ tƣởng, tình cảm nam nữ; con cò biểu trƣng cho điều lành, đức thiếu thảo; hoa sen biểu trƣng cho lòng trong trắng… Biểu trƣng, một mặt có tính hình tƣợng cụ thể, cái biểu hiện nó là đối tƣợng nào đó đƣợc quy chiếu từ hiện thực. Mặt khác, là ý nghĩa xã hội nào đó đƣợc cả cộng đồng chấp nhận. 4 3. Vấn đề tiếp cận văn học dƣới ánh sáng của ngôn ngữ học đang trở thành mối quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Từ góc độ ngôn ngữ, ngƣời nghiên cứu sẽ có những phƣơng pháp hữu hiệu để biến những cảm nhận trực quan của ngƣời tiếp nhận văn học thành những phân tích khoa học khách quan và xác đáng. Ở Việt Nam những năm qua, nghiên cứu ngôn ngữ ca dao đã có nhiều thành tựu,đặc biệt là những công trình của các tác giả Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến… Trong tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay, cách tiếp cận nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ đƣợc coi nhƣ một trong những con đƣờng đến với những cái hay, cái đẹp cũng nhƣ những giá trị đích thực, muôn đời của ca dao Việt Nam. Con cò, con bống, hạt mưa, làn gió, hoa sen, hoa nhài, ngọn đèn không tắt, chiếc áo rách, dải yếm đào, trầu cau, tấm gương mờ… là những THTM quen thuộc trong ca dao. Đó là những hình ảnh có khả năng biểu trƣng những ý nghĩa sâu xa, đƣợc dân gian chọn lọc trong sử dụng và thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét những đặc trƣng truyền thống của folklore. Với những lý do nhƣ trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam”. Lựa chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng góp phần xử lý một vấn đề thu hút đƣợc quan tâm từ cả hai phía nghiên cứu ngôn ngữ và văn học. Mặt khác, thông qua việc chọn lọc và phân tích một số THTM tiêu biểu, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra đúng những từ chìa khóa để đi vào giải mã thế giới nghệ thuật ca dao đồng thời góp phần làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc của ngôn ngữ ca dao Việt Nam. 2. Lịch sử vấn đề Khái niệm THTM ra đời gắn với khuynh hƣớng cấu trúc trong nghiên cứu mỹ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỷ XX, đƣợc đƣa vào nƣớc ta từ những năm 70 qua các bản dịch công trình của Iu. A. Philipiep, M. B. Khrapchenco, các nghiên cứu của Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Trần Đình Sử… Cho đến nay, vấn đề về THTM đang đƣợc quan tâm và việc tiếp cận tác phẩm văn học bằng cách nghiên cứu THTM trở nên phổ biến hơn. Các luận án, luận văn triển khai theo hƣớng ngôn ngữ học khi đi vào phân tích THTM trong tác phẩm văn học đã xuất hiện nhƣng không nhiều. Với luận án “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong ca 5 dao”(1995), tác giả Trƣơng Thị Nhàn đã vận dụng những phƣơng pháp và kiến thức ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu một phƣơng diện của văn học – phƣơng diện THTM, góp phần đƣa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học và xử lý THTM trong văn học; đồng thời, luận án cũng tiến hành nghiên cứu thi pháp ca dao cũng nhƣ đƣa ra cách tiếp cận mới đối với ca dao. Trong luận văn “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình Xuân Quỳnh” (1990), tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã ứng dụng phƣơng pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học vào việc phát hiện và khẳng định giá trị của một số THTM có tần số xuất hiện cao trong thơ tình Xuân Quỳnh, từ đó góp cơ sở cho việc tìm hiểu những đặc sắc và sáng tạo về nội dung cũng nhƣ nghệ thuật của phong cách thơ Xuân Quỳnh. Gần đây nhất là các luận văn sau đại học “Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu thuộc trường nghĩa tự nhiên trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trước Cách mạng tháng Tám” (2008) của Phùng Thị Cảnh Trang, luận văn “Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học” (2008) của Nguyễn Ngọc Bích… Các tác giả luận văn đã sử dụng phƣơng pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm sáng rõ giá trị của các THTM đƣợc khảo sát. Nhiều công trình đã vận dụng khái niệm “biểu trƣng”, “biểu tƣợng” để nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học, song thực chất đó cũng là nghiên cứu về THTM. Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án “Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt” (2002) đã tiến hành phân loại, miêu tả và tìm hiểu hệ thống biểu tƣợng nghệ thuật trong ca dao từ nhiều phƣơng diện nhƣ: nguồn gốc và con đƣờng hình thành biểu tƣợng, sự vận động của biểu tƣợng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc nhóm đơn vị ca dao. Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án “Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” (2005) đã phân loại và phân tích sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tƣợng trang phục trong các giai đoạn thơ ca khác nhau dƣới ánh sáng của lý thuyết về biểu tƣợng. Đó là những công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và đạt đƣợc nhiều thành tựu. Nhiều công trình nghiên cứu thơ ca dân gian cũng đã sử dụng các khái niệm THTM, biểu trƣng, biểu tƣợng. Vấn đề nghiên cứu biểu tƣợng trong ca dao và một số biểu tƣợng con cò, con bống… đã đƣợc nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan chú ý ngay từ khi ông công bố lần đầu tuyển tập “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của 6 mình. Sau đó, Cao Huy Đỉnh, Phan Đăng Nhật, Hà Công Tài, Trƣơng Thị Nhàn, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến… cũng đã có các bài nghiên cứu về biểu tƣợng, biểu trƣng, THTM trong thơ ca dân gian ở những góc độ khác nhau. Hà Công Tài đi sâu khảo sát biểu tƣợng “trăng” trong ca dao. Nguyễn Xuân Kính chỉ ra đặc sắc riêng của một số biểu tƣợng ca dao trong tƣơng quan với văn học viết.Với “Lối đối đáp trong ca dao trữ tình”, tác giả Cao Huy Đỉnh đã đề cập đến các cặp tín hiệu nhƣ: “trúc – mai”, “mận – đào”, “thuyền – bến”… Từ đó, tác giả chỉ ra nét độc đáo, thú vị trong ca dao chính là ở lối đối đáp, trò chuyện giữa hai ngƣời… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm văn học nói chung và thơ ca dân gian nói riêng dƣới ánh sáng lý thuyết của ngôn ngữ học nhƣ: lý thuyết về tín hiệu, lý thuyết về hệ thống, lý thuyết về biểu tƣợng, trƣờng nghĩa… và đã có những đóng góp nhất định. Trong bối cảnh của sự gặp gỡ, giao thoa giữa hai ngành nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, chúng tôi lựa chọn một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ học liên quan đến văn học “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam”. Tiếp thu thành tựu của những công trình đã công bố, đồng thời để tránh trùng lặp với ngƣời đi trƣớc, luận văn tập trung vào một số THTM chƣa đƣợc khai thác hoặc mới chỉ đƣợc nói đến một cách sơ lƣợc. Đó là các tín hiệu: mưa, nắng, gió, áo, yếm. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn tiến hành nghiên cứu một số THTM tiêu biểu trong ca dao Việt Nam nhằm phát hiện những ý nghĩa biểu trƣng trong cách sử dụng THTM của thơ ca dân gian. Từ đó thấy đƣợc vai trò của những TH đó trong đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam. Đồng thời khẳng định những đóng góp của thơ ca dân gian trong việc lƣu giữ và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích trên, ngƣời viết đã đặt ra và thực hiện những nhiệmvụ chính dƣới đây: - Khảo sát một cách hệ thống về tần số xuất hiện của các TH thuộc tự nhiên(mưa, nắng, gió)và các TH là vật thể nhân tạo(áo, yếm). Các TH này liên kết 7 tạo thành bức tranh tự nhiên và con ngƣời hài hòa, phong phú, sinh động trong ca dao Việt Nam. - Khảo sát, phân tích về khả năng phân bố của các THTM dựa trên hai trục song hành: trục tuyến tính và trục liên tƣởng. - Phân tích, miêu tả giá trị biểu trƣng của một số THTM tiêu biểu đó trong ca dao Việt Nam. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là một sốTHTM tiêu biểu trong ca dao Việt Nam: mưa, nắng, gió, áo yếm. - Phạm vi nghiên cứu: Nguồn tƣ liệu mà chúng tôi chọn để khảo sát là tất cả các lời ca dao trong cuốn “Ca dao Việt Nam” – Vũ Dung, Vũ Thúy Anh sƣu tầm và biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003. Sở dĩ chúng tôi chọn nguồn tƣ liệu này bởi vì đây là một công trình tiêu biểu và đƣợc đánh giá cao. Đồng thời chúng tôi cũng thu thập thêm tƣ liệu từ một số tuyển tập ca dao khác. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ học là chủ yếu. Trên cơ sở những tƣ liệu đƣợc thu thập và xử lý, trên nền tảng những con số đƣợc thống kê và phân tích, chúng tôi đƣa ra những nhận xét mang tính khái quát về vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thao tác thống kê, phân loại để đƣợc tần số xuất hiện của các TH, sắp xếp chúng vào các nhóm TH có chung đặc điểm. Từ đó chúng tôi xác định cấp độ của đối tƣợng đang xem xét rồi đặt vào trong quan hệ dọc, quan hệ ngang để so sánh nhằm tìm ra những yếu tố đồng nhất và đối lập trong hệ thống. Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng phƣơng pháp phân tích ngữ cảnh kết hợp với các yếu tố giao tiếp để khai thác các tầng nghĩa biểu trƣng của TH. 6. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lí luận liên quan đến THTM. Đề tài cũng góp phần làm rõ những đặc trƣng nghệ thuật của ca dao Việt Nam. Về ý nghĩa thực tiễn, bằng việc làm sáng tỏ các THTM trong ca dao, luận văn sẽ góp phần vào việc giúp bạn đọc hiểu thêm cái hay, cái đẹp của ca dao Việt 8 Nam, giúp các thầy cô giáo trong việc phân tích sâu hơn những tác phẩm ca dao đƣợc giảng dạy trong nhà trƣờng. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam Chƣơng 3: Giá trị biểu trƣng của một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu trong ca dao Việt Nam 9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Cho đến nay các định nghĩa về THTMđã đƣợc tìm thấy rải rác trong những công trình của các tác giả nhƣ In. A. Philipiep, M. B. Khrapchenko, Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu… Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ lần lƣợt trình bày một cách vắn tắt những điểm chủ yếu trong quan niệm của các tác giả kể trên, để từ đó tự định cho mình một cách hiểu cụ thể, làm cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu THTM trong đề tài. Vì THTM, về bản chất cũng là một loại TH cho nên nghiên cứu một THTM phải đặt nó trong phạm trù chung của TH. Mặt khác, yêu cầu của việc nghiên cứu THTM trong tƣơng quan với hệ thống ngôn ngữ biểu hiện trong tác phẩm văn học đòi hỏi phải nhìn nhận THTM trong mối quan hệ với TH ngôn ngữ. Những vấn đề về THTM mà chúng tôi quan tâm liên quan đến cả những quan niệm về TH nói chung và TH ngôn ngữ nói riêng. 1.1. Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 1.1.1. Tín hiệu Có nhiều định nghĩa khác nhau về TH, liên quan đến những cách hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả. Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa TH của P. Guiraud: “Một tín hiệu… là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” [6, 51]. Còn A. Schaff lại định nghĩa THTM theo nghĩa hẹp:“Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [6, 51]. Định nghĩa của A. Schaff hẹp ở chỗ chỉ thừa nhận những sự vật hiện tƣợng là TH khi nó đƣợc sử dụng có ý thức trong phạm vi một hệ thống có tƣ cách nhƣ một ngôn ngữ để trao đổi tƣ tƣởng, tình cảm giữa ngƣời với ngƣời, còn những TH giao tiếp không ý thức của động vật không đƣợc thừa nhận là TH. Quan niệm của P. Guiraud về TH rộng hơn vì nó bao hàm cả những TH hẹp, những TH nhận biết đối với thế giới sinh vật, cả những TH giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật. Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra những hình ảnh đều đƣợc coi là TH, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Một đám mây với 10 khả năng gợi ra hình ảnh về cơn mƣa trong nhận thức của con ngƣời. Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề nghiệp, trạng thái tâm sinh lý… của ngƣời nói trong sự nhận thức của ngƣời nghe. Một câu hỏi nhƣng chính là một lời tỏ tình của ca dao: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng?”. Một con thuyền trong ý nghĩa của “ngƣời đi” mà ca dao vẫn thƣờng nhắc đến… Các nhà nghiên cứu lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin. Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa. Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đãchỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật, hiện tƣợng, hay thuộc tính vật chất trở thành TH: 1. Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện); 2. Phải có một nội dung ý nghĩa (cái đƣợc biểu hiện); 3. Phải đƣợc nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tƣợng của thông tin); 4. Phải nằm trong một hệ thống nhất định. Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện TH trong đề tài. Một TH là một yếu tố bao hàm hai mặt: “Cái biểu hiện” (CBH) và “cái đƣợc biểu hiện” (CĐBH), đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định đƣợc trong mối tƣơng quan với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia. Về phân loại TH, các tác giả cũng đƣa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào những tiêu chí khác nhau. Phân loại của C. Peirce phân biệt ba phạm trù chính của TH: hình hiệu, dấu hiệu, biểu trƣng. C. Morris đƣa thêm vào hệ thống phân loại những phạm trù: chỉ hiệu, định hiệu. Bảng phân loại của P. Guiraud có sự phân biệt TH tự nhiên với TH nhân tạo, TH biểu hiện và TH giao tiếp. Lấy bảng phân loại TH của P. Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đƣa ra nguyên tắc phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào chức năng xã hội có thể phân loại các TH thành TH giao tiếp và TH phi giao tiếp. Căn cứ vào đặc tính thể chất của cái biểu đạt có thể phân loại thành: TH thị giác, TH tính giác, TH xúc giác… Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành TH tự nhiên và TH nhân tạo. Căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt có thể quy TH thành ba loại: dấu hiệu, hình hiệu và ƣớc hiệu. Các phạm trù TH đƣợc kể ở đây tuy không đồng nhất trong quan niệm của mỗi tác giả và cũng không tƣơng đồng với nhau trên cùng một tiêu chí phân loại nhất định nhƣng có tác dụng cung cấp những khái niệm TH quan trọng trong việc nghiên cứu những đặc tính tín hiệu học khác nhau của các TH, làm cơ sở cho sự phân biệt TH đƣợc nghiên cứu trong đề tài. 11 Trong tất cả những phân loại kể trên, chúng tôi sử dụng bảng phân loại của Đỗ Hữu Châu mà ƣu điểm là bao quát đƣợc tất cả những phạm trù – loại khác nhau của TH, đồng thời chỉ ra đƣợc mối quan hệ loại hình giữa các TH trên các tiêu chí khác nhau nhƣ: chức năng xã hội của TH, đặc tính thể chất của CBH, nguồn gốc TH, tính chất mối quan hệ giữa hai mặt CBH và CĐBH, sự chuyển mã, đặc tính tổ chức của TH… 1.1.2. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ thƣờng đƣợc nói đến nhƣ một hệ thống TH đặc biệt. Cuốn giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” đã nhấn mạnh đến vấn đề chức năng và đặc tính đa chức năng của các TH ngôn ngữ so với các hệ thống TH nói chung và TH mang chức năng giao tiếp nói riêng. Ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để tƣ duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống con ngƣời, ngôn ngữ còn mang chức năng thi pháp… Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt giữa những chức năng khác nhau liên quan đến những nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng cú học. Từ những khía cạnh chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của chúng trên tất cả những đơn vị mang nghĩa (đơn vị hai mặt), từ từ đến cụm từ, đến câu, đoạn, văn bản. Một từ, ngữ, câu nói nào đó có thể vừa mang thông tin về sự vật, hiện tƣợng đƣợc nói tới, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phƣơng, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lý của ngƣời nói… Từ “nỏ” trong câu ca dao “Đã thương thì thương cho chắc, Nỏ bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn…” cho biết ngƣời nói là ngƣời xứ Nghệ. Câu hỏi “Mấy giờ rồi?” trong những hoàn cảnh nhất định, có thể cho biết thái độ khó chịu (mong khách ngồi lâu đứng dậy ra về) của ngƣời nói… Ở bất kỳ cấp độ nào, một TH ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (CBH) tƣơng ứng với một nội dung ngữ nghĩa (CĐBH) và ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị của TH ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định. Về các quan hệ hệ thống của TH ngôn ngữ,“Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của F. de Saussure đề cập đến hai loại quan hệ chung nhất: 1. Quan hệ đồng nhất – đối lập và quan hệ khác biệt; 2. Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến. Ngôn ngữ học hiện đại lƣu ý thêm các loại quan hệ: 3. Quan hệ tôn ti (giữa các cấp 12 độ của ngôn ngữ) và 4. Quan hệ hiện thực hóa (giữa bình diện trừu tƣợng và bình diện cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của TH)… Những nguyên tắc của đồng nhất và đối lập, của kết hợp và liên tƣởng, của trừu tƣợng và cụ thể… trong hệ thống TH ngôn ngữ cũng chính là những vấn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về TH ngôn ngữ trong quá trình hoạt động thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp, kể cả giao tiếp nghệ thuật (giao tiếp của văn học). 1.1.3. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ Bƣớc vào thế giới nghệ thuật, những TH thông thƣờng sẽ chuyển hóa thành THTM, mang những đặc thù nghệ thuật. Hiểu một cách chung nhất, THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phƣơng tiện biểu hiện của nghệ thuật. Nói đến phƣơng tiện biểu hiện nghệ thuật là nói đến hai mặt: thể chất và tinh thần. Mặt thể chất là những chất liệu (hình thức vật chất) đƣợc sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật, mỗi loại chất liệu sẽ có chỗ mạnh, chỗ yếu riêng làm nên đặc thù của ngành nghệ thuật đó: đƣờng nét, màu sắc trong hội họa, âm thanh có nhịp điệu trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học. Còn mặt tinh thần thì trừu tƣợng và phức tạp, bao hàm nhiều loại nội dung, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều tầng khái quát hóa, trừu tƣợng hóa mang tính thẩm mĩ. Đối với tác phẩm văn học, hình thức vật chất của THTM chính là ngôn ngữ. Cấu trúc đặc biệt của TH ngôn ngữ cho phép chứa đựng trong mỗi ngôn từ của tác phẩm văn học một phạm vi nào đó của đời sống hiện thực cùng những nét thuộc tính khách quan của đời sống hiện thực đƣợc phản ánh, làm thành ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ. Vì vậy, ngôn ngữ không chỉ là phƣơng tiện mà còn là chất liệu của văn học. Tuy nhiên, không thể đồng nhất ngôn ngữ với văn học, và không thể đồng nhất TH ngôn ngữ với THTM. THTM trong tác phẩm văn học bao giờ cũng có hình thức vật chất của nó, đó là hình thức ngôn ngữ. Các yếu tố của hiện thực đƣợc đƣa vào tác phẩm với vai trò THTM, bao giờ cũng phải đƣợc diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên. Nhƣng ngƣợc lại những tín hiệu của ngôn ngữ tự nhiên, ngay cả khi đã đƣợc sử dụng vào tác phẩm văn học cũng chƣa hẳn đã là THTM. THTM phân biệt với các TH ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của nó không chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực mà phải 13 là một khái quát nghệ thuật về tƣ tƣởng, một ý nghĩa nào đó của tác giả văn học. Có thể hình dung THTM trong quan hệ với TH ngôn ngữ theo sơ đồ sau: Cbh THTM TH ngôn ngữ Cđbh Cbh Âm thanh Cđbh Ý nghĩa ngôn ngữ Ý nghĩa thẩm mĩ Từ sơ đồ trên, ta có thể hiểu cả hợp thể CBH và CĐBH của TH ngôn ngữ lại lại trở thành CBH cho một CĐBH mới là THTM trong tác phẩm văn học. Do vậy, trong văn học, không thể đánh đồng phƣơng tiện văn học – THTM với TH ngôn ngữ thông thƣờng đƣợc dùng làm chất liệu của tác phẩm văn học. Sự khác biệt có tính chất vƣợt cấp này là do vai trò quyết định của chủ thể sáng tạo khiến cho “giữa cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không qua được” [45; 9]. Trong TH ngôn ngữ tự nhiên, quan hệ giữa CBH và CĐBH có thể là võ đoán. Nhƣng trong THTM, nó luôn có lý do và là lý do liên hội. Tính chất liên hội của THTM trong văn học giúp cho hình tƣợng nghệ thuật luôn thoát khỏi những giới hạn ngữ nghĩa thuần ngôn ngữ, trở thành những yếu tố có sức khái quát lớn về mặt nội dung và tƣ tƣởng nghệ thuật. Thông thƣờng, cái đƣợc biểu hiện của một THTM càng có tính khái quát hơn so với nội dung khái niệm của ngôn ngữ, càng có giá trị hơn trong việc giúp ngƣời đọc tƣ duy rộng hơn, cao hơn những gì thuộc về thực tại. Có thể nói, hiện thực, để trở thành chất liệu hiện hình trong tác phẩm văn học, đã đi theo con đƣờng “ngôn ngữ hóa”, sử dụng những hình thức ngữ âm mang ý nghĩa biểu vật, biểu niệm, sử dụng những kết cấu ngữ pháp chứa đựng những yếu tố, sự kiện của cuộc sống… Nhƣng các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, muốn trở thành chất liệu thực thụ của văn học phải chịu một quá trình khái quát hóa nghệ thuật, biểu trƣng hóa nghệ thuật để đạt tới những ý nghĩa thẩm mĩ (hay còn gọi là ý nghĩa biểu trƣng hóa nghệ thuật). Từ sự phân tích ý nghĩa thực sự của phƣơng tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu đã có những kiến giải cụ thể hơn về THTM: THTM là phƣơng tiện sơ cấp của văn học. Ngôn ngữ (chất liệu) trong văn học chỉ là hình thức – cái biểu hiện của 14 THTM, là phƣơng tiện thứ cấp so với THTM. Đi tìm THTM vì vậy không thể chỉ căn cứ trên các hình thức ngôn ngữ thuần túy. Để trả lời câu hỏi đặt ra: thế nào là một THTM, tác giả chủ trƣơng căn cứ vào sự tƣơng ứng của THTM với các vật quy chiếu thuộc thế giới hiện thực: “THTM phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực: một con thuyền, một dòng sông, một nỗi buồn… nào đó chẳng hạn. THTM là cái được tác giả lựa chọn từ thế giới hiện thực mà xây dựng nên, sáng tạo ra”. Trên cơ sở những điều trình bày trên, chúng ta có thể hiểu THTM là TH thuộc hệ thống các phƣơng tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, những chi tiết, những sự vật, hiện tƣợng của đời sống đƣợc đƣa vào tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ. Nhƣ vậy, điều kiện để các yếu tố hiện thực trở thành THTM bao gồm: Thứ nhất, phải có cái biểu hiện là các hình thức vật chất (chất liệu) nghệ thuật. Thứ hai, THTM phải đảm bảo cái đƣợc biểu hiện mang một nội dung tinh thần (ý nghĩa thẩm mĩ) rộng hơn, cao hơn bản thân hiện thực đƣợc nói đến. Thứ ba, một yếu tố hiện thực trở nên mang tính thẩm mĩ là do vai trò của sự liên tƣởng trong tƣ duy của chủ thể tiếp nhận; những nội dung ý nghĩa thẩm mĩ có đƣợc tiếp nhận, đƣợc mở rộng hay không qua các thời đại, các cộng đồng, các cá nhân… phụ thuộc ở những điều kiện về lịch sử, xã hội, về tâm lý liên quan đến sự liên tƣởng của chủ thể tiếp nhận. Cuối cùng, một yếu tố hiện thực đƣợc coi là THTM chỉ khi nó thuộc về một hệ thống THTM nhất định, mỗi hệ thống có những đặc điểm cụ thể với những kiểu quan hệ đem lại giá trị riêng cho THTM trong mỗi lần xuất hiện. 1.2. Một số đặc tính cơ bản của THTM Để có một cái nhìn toàn diện hơn về THTM, cần tìm hiểu một số đặc tính thƣờng đƣợc nói tới của THTM. 1.2.1. Tính nguồn gốc Việc chỉ ra nguồn gốc của một THTM là việc bƣớc đầu xác định hai phƣơng diện rất quan trọng: phƣơng diện thể chất và phƣơng diện tinh thần của THTM. THTM có nguồn gốc trƣớc hết là từ thế giới hiện thực, bao gồm toàn bộ những chi tiết, những sự vật, hiện tƣợng của đời sống đƣợc đƣa vào tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ. 15
- Xem thêm -