Một số phương pháp giúp học sinh tự học môn ngữ văn lớp 11 có hiệu qủa

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Đã đăng 3359 tài liệu

Mô tả:

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 CÓ HIỆU QỦA I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình môn ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông, tuy đã được thay đổi nhiều lần nhưng bao giờ cũng dành trọng tâm cho việc học tác phẩm văn học. Dù có đổi mới như thế nào phần đọc văn bao giờ cũng chiếm vị trí quan trọng trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn. Những người có kinh nghiệm đều nhận thấy rằng Đọc – Hiểu tác phẩm văn học là một công việc khó khăn : phải huy động vốn kiến thức về nhiều mặt ( lịch sử xã hội, lịch sử văn học…). Nhưng Có kiến thức không chỉ là chưa đủ, còn phải có khả năng thẫm mĩ nữa, nghĩa là cần có sự nhạy bén về tình cảm, cảm xúc trước cái đẹp của văn chương, ngoài ra cần phải nắm được phương pháp phân tích tác phẩm văn học: tiếp cận tác phẩm như thế nào, các bước phân tích ra sao…và cần chú ý những điểm nào trong văn bản là cơ bản nhât. Từ cơ sở trên tôi xin đưa ra một số phương pháp sau đây để giải quyết tình trang này nhằm giúp học sinh có thể tự học tốt môn Ngữ Văn. 1. Lý do khách quan . Do môn Ngữ Văn có những đặc điểm như trên nên học sinh thường gặp những vấn đề khó khăn trong khi tiếp cận văn bản văn học và yêu cầu đặt ra là Giáo Viên phải hướng dẫn học sinh tự đọc Sách giáo khoa với phương pháp tiếp cận như thế nào để đọc tác phẩm văn học một cách dễ hiểu và nắm được nội dung cơ bản của tác phẩm văn học. Chính điều này giúp giáo viên có thể suy ngẩm và tìm ra một số phương pháp có thể giúp học sinh đọc tác phẩm văn học trong sách giáo khoa Ngữ Văn 11 một cách có hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn. 2. Lý do chủ quan Bản thân là một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường tôi nhận thấy rằng việc giúp học sinh sử dụng sách giáo khoa và có phương pháp giúp học sinh đọc tác phẩm văn học trong sách giáo khoa Ngữ Văn 11 có hiệu quả là một nhu cầu tất yếu dẫn đến việc nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời cũng là nâng cao năng lực học tập cho học sinh, nhất là học sinh ở cấp trung học phổ thông có năng lực đọc hiểu tác phẩm văn học và gợi được tình cảm yêu thích của học sinh đối với môn học Ngữ Văn nhiều hơn.Và chính những điều đã trình bày ở trên tôi xin đề xuất một số phương pháp giúp học sinh tự học và sử dụng sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 có hiệu quả trong việc học tập của học sinh. II.NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận. Do chất lượng môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông thường thấp. Và học sinh cho rằng môn Ngữ văn là một môn khó học, khó tiếp cận so với những môn học khác.Mặt khác ý thức học môn Ngữ Văn ở học sinh chưa cao, sự đam mê của học sinh đối với môn Văn còn quá ít, và không ít những 1 giáo viên chưa chú trọng đối với môn Văn, có tâm quyết đối với nghề, chỉ dạy qua loa, chiếu lệ làm cho học sinh chán học văn…. Còn học sinh thường đọc tác phẩm một cách qua loa, lung túng khi giáo viên yêu cầu tóm tắt tác phẩm văn học, hoặc chưa chú ý, chưa dành nhiều thời gian ở phần hướng dẫn học bài, đa phần khâu chuẩn bị bài của học sinh còn nhiều hạn chế mang tính chất đối phó với thầy cô. Vì vậy dẫn đến kết quả giáo viên lên lớp dạy chưa sâu, học sinh chưa hiểu thấu đáo được vấn đề, kéo theo việc làm bài kiểm tra của học sinh chất lượng thấp, thường không đạt kết quả cao. Vì vậy đọc để hiểu văn bản văn học và tiếp cận sách giáo khoa như thế nào là hiệu quả, đó là điều học sinh cần quan tâm nhất. Yêu cầu đặt ra là giáo viên phải đưa ra phương pháp tiếp cận có hiệu quả giúp học sinh nắm được nội dung của bài trước khi lên lớp học. 2.Cơ sở thực tiễn. Qua nhiều năm dạy tôi nhận thấy rằng Học sinh còn chưa ý thức được Sách giáo khoa quan trọng như thế nào đối với việc tự học tong quá trình học tập của học sinh, Sách giáo khoa giúp học sinh có thể tiếp cận kiến thức trước khi đến lớp và giúp học sinh hiểu thấu đáo nội dung của văn bản sau khi nghe thầy cô giảng bài. Chẳng hạn phần tiểu dẫn và văn bản trong sách giáo khoa mà học sinh thường học trước đây. - Học sinh thường đọc Sách giáo khoa ở trên lớp khi giáo viên yêu cầu. - Giáo viên dặn về nhà đọc trước học sinh ít khi chuẩn bị. - Đến lớp giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt vài nét về tiểu dẫn học sinh không xác định được hoặc xác định chưa đủ ý … và khi tóm tắt văn bản thì học sinh tóm tắt còn lủng củng hoặc chưa đủ ý với lí do là chưa đọc hết tác phẩm. Mặt khác học sinh chưa chú trọng việc tìm hiểu văn bản một cách đúng đắn nhất. 3.Tầm quan trọng của đề tài. Kể từ năm học 2007 - 2008 học sinh lớp 11 THPT được học theo chương trình sách giáo khoa mới. Việc học Ngữ văn ngày nay không dừng lại ở việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức văn học một cách thụ động (đến lớp nghe giảng hay ghi chép hoăc về nhà đọc lại và làm bài tập thầy cô giao cho ) mà quan trọng hơn là phải biết tự lực, tự tìm tòi, nâng cao năng lực, sáng tạo trong học tập. Vì vậy sách giáo khoa là một công cụ giúp học sinh không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn là điều kiện tốt giúp các em tự học, tự bồi dưỡng, trau dồi, nâng cao kiến thức, trình độ hiểu biết cho năng lực của bản thân. Và một trong những năng lực cần có của học sinh là năng lực đọc- hiểu các loại văn bản được quy định trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, và học sinh cần có phương pháp tự học và sử dụng sách giáo khoa Ngữ văn như thế nào để đạt hiệu quả cao trong việc tiếp thu bài mới. 4.Một số phương pháp giúp học sinh tự học môn Ngữ văn lớp 11 có hiệu quả. 2 Để tự học và học tốt môn Ngữ văn một cách có hiệu quả HS cần tuân thủ các bước sau đây: - Bước 1: Hs học bài cũ và chuẩn bị bài mới cho tiết sau (Cụ thể là công việc soạn bài học mới là phải đọc bài và trả lời câu hỏi theo hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa). - Bước 2: Tiếp cận bài mới trên lớp học: phải chú ý nghe thầy cô giảng bài, tham gia xây dựng bài học, trên cơ sở đã chuẩn bị ở nhà, có sự so sánh, đối chiếu về kiến thức đã chuẩn bị, đồng thời khắc sâu ấn tượng về kiến thức đã học được trên lớp. - Bước 3: Tham gia củng cố lại kiến thức đã học và làm bài tập về nhà theo yêu cầu của giáo viên. Quá trình thực hiện cụ thể các bước trên bằng tinh thần tự học môn Ngữ văn trong sách giáo khoa lớp 11 như sau: A. BƯỚC 1: Học sinh phải học bài cũ ở tiết trước(đã được học rồi), và chuẩn bị bài mới như sau: - Học sinh phải học bài cũ theo yêu cầu của giáo viên giảng dạy... - Học sinh phải đọc và soạn bài mới : bám sát vào 3 phần: Tiểu dẫn, phần văn bản, và hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa. * Về Tiểu dẫn : Học sinh cần nắm được những ý chính như sau: -Về Tác giả: + Năm sinh - mất,quê quán, thời đại sống. + Thành phần xuất thân. + Sự nghiệp sáng tác. + Đóng góp. - Về tác phẩm: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, vị trí , nội dung tác phẩm… Lưu ý :Học sinh cần gạch chân sẵn trước ở nhà để giúp học sinh nắm bắt nhanh khi đến lớp học. * Phần Văn bản: - Về Thơ: + Đọc kĩ văn bản từ 1 đến 2 lần. + Xác định hình ảnh thơ, vần , nhịp, tiết tấu…của bài thơ. + Nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ. - Về Truyện phải nắm được: + Cốt truyện (tóm tắt cốt truyện) + Đặc điểm nhân vật. + Ngôn ngữ miêu tả. + Không gian, thời gian, điểm nhìn trần thuật. + Chân dung nhân vật trong sách giáo khoa (nếu có). +Đọc chú thích sách giáo khoa . Lưu ý: học sinh cần chuẩn bị kĩ để khi tiếp cận bài mới trên lớp học sinh có thể hiểu nhanh và dễ dàng khắc sâu kiến thức mới mà giáo viên truyền đạt. * Về hướng dẫn học bài: Học sinh phải nhận diện được 4 loại câu hỏi có sự phân hóa trình độ học sinh: giỏi, khá, Trung bình, yếu. 3 + Câu hỏi dành cho học sinh yếu là nhận biết được những chi tiết có trong văn bản của bài học. + Câu hỏi dành cho học sinh trung bình là nêu được ý nghĩa của những chi tiết vừa tìm được trong văn bản bài học. + Câu hỏi dành cho học sinh khá, giỏi là phát hiện những chi tiết đặc sắc giàu ý nghĩa, có giá trị sâu sắc.. Lưu ý: Học sinh trả lời câu hỏi sách giáo khoa đồng thời phải xác định nội dung chính của bài học là có mấy nội dung? Ví dụ : Đối với bài học: CÂU CÁ MÙA THU Nguyễn Khuyến. “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối buông cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. 1.Về Tiểu dẫn. a.Tác giả: - Nguyễn Khuyến ( 1835- 1909) quê ở Xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam… - Xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo. - Sự nghiệp: sáng tác với số lượng lớn cả gồm chữ hán và chữ Nôm, chủ yếu nỗi tiếng về thơ Nôm… - Đóng góp: mảng thơ Nôm viết về hình ảnh và làng quê Bắc Bộ, là cây bút trào phúng thâm thúy trong kho tàn văn học trung đại đương thời. b.Tác phẩm: - Vị trí : trích trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, viết về bức tranh thiên nhiên mùa thu ở làng quê Bắc Bộ… 2. Phần văn bản: a.Về thơ. Ví dụ bài thơ: CÂU CÁ MÙA THU- Nguyễn Khuyến - Hình ảnh thơ: cảnh thu ở đồng bằng Bắc Bộ thể hiện qua những từ ngữ: ao thu, nước thu, sóng thu, trời thu, lá thu.. - Nhịp thơ: 2/2/3 hoặc 4/3. - Nghệ thuật gieo vần “eo”… - Không gian thu ở Đồng Bằng Bắc Bộ… b. Về Truyện: CHÍ PHÈO- NAM CAO - Cốt truyện: viết về số phận người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng tám qua nhân vật Chí Phèo… - Đặc điểm ngoại hình nhân vật: đầu trọc lóc, răng cạo trắng hớn, mặt đen mà rất cơng cơng, mắt gườm gườm trông gớm chết… - Hành động, tính cách nhân vật: chửi, gạch mặt ăn vạ… - Ngôn ngữ miêu tả: lời lẽ tự nhiên, gần gũi trong cuộc sống hằng ngày… 4 - Không gian: Nông thôn Bắc Bộ Việt Nam trước cách mang tháng tám (làng Vũ Đại chính là làng Đại Hoàng..nơi mà Nam Cao đã từng sinh sống và chứng kiến hoàn cảnh sống của người nông dân trước cách mạng) - Điểm nhìn trần thuật, môi trường sống: cuộc sống của người Nông dân nói chung trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng tám. c. Hướng dẫn học bài: Với : CHÍ PHÈO- NAM CAO Có 6 câu hỏi trong sách giáo khoa Ngữ văn 11(tập 1) trang 155. Học sinh phải đọc và xác định được 4 loại câu hỏi trên dành cho 4 đối tượng và lần lượt trả lời nội dung của các câu hỏi? - Cách vào truyện của Nam Cao độc đáo như thế nào? Hãy nêu ý nghĩa tiếng chửi của nhân vật Chí Phèo trong đoạn văn mở đầuthiên truyện? - Việc gặp gở Thị Nở đã có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc đời Chí Phèo? Những gì đã diễn ra trong tâm hồn Chí Phèo sau cuộc gặp gỡ đó? - Phân tích diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi bị Thị nở từ chối chung sống. Vì sao Chí Phèo có hành động thật dữ dội, bất ngờ ( uống rượu xách dao đi giết Bá Kiến rồi tự sát ?) - Qua hình tượng nhân vật Chí Phèo, hãy làm rõ nghệ thuật điển hình hóa của Nam Cao (chú ý khắc họa tính cách và nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật.) - Ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn này có gì đặc sắc? - Tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Nam Cao qua truyện ngắn này? Lưu ý: Học sinh phải xác định được 3 câu hỏi đầu là câu hỏi dành cho đối tượng học sinh trung bình –yếu (chỉ cần đọc kĩ văn bản và dựa vào sách giáo khoa để tìm kiến thức trả lời câu hỏi), còn các câu hỏi còn lại dành cho học sinh Khá- giỏi( Câu hỏi đòi hỏi đối tượng phải có tư duy nhanh và nhạy bén với kiến thức…) - Học sinh phải xác định được nội dung chính cả bài học: cuộc sống người nông dân trước cách mạng và mối tình Chí Phèo với Thị Nở.. B. BƯỚC 2: Học sinh tiếp cận bài học mới trên lớp học. Học sinh đến lớp trên nền tảng kiến thức đã chuẩn bị trước ở nhà, đồng thời kết hợp với quá trình giảng bài của thầy cô, học sinh cần lưu ý như sau: 1.Phần tiểu dẫn cần lưu ý: Giáo viên thường cho học sinh lướt nhanh về phần tác giả và tác phẩm như sau: - Vế tác giả: +Quê quán, hoàn cảnh sống của tác giả. +Sự nghiệp sáng tác : (lưu ý nội dung sáng tác và phong cách nghệ thuật) +Đóng góp tiêu biểu và nổi bật. - Về tác phẩm : + Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. + Thời đại sống của tác giả có ảnh hưởng đến nội dung của tác phẩm. 5  lưu ý: học sinh cần chú ý lời giảng nhấn mạnh ý của giáo viên để tạo nền tảng lĩnh hội nội dung của tác phẩm. Ví dụ1: cách tóm tắt phần tiểu dẫn thông thường như sau: Với truyện ngắn “Chữ người tử tù”- Nguyễn Tuân - Tác giả Nguyễn Tuân với truyện ngắn “Chữ người tử tù” + Nguyễn Tuân (1910- 1987) quê ở Hà Nội, xuất thân trong một gia đình Hán học đã suy tàn. + Sự nghiệp: thành công tiêu biểu ở 2 thể loại : tùy bút và truyện ngắn, là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt nam thế kỉ xx - một cây bút tài hoa, uyên bác, phong cách độc đáo… Truyện ngắn : Tập truyện “Vang bóng một thời”. Tùy bút : Người lái đò sông đà. + Đóng góp: có nhiều đóng góp quan trong thúc đẩy thể loại tùy bút, bút kí phát triển…góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học nhân loại phát triển. - Tác phẩm : + Hoàn cảnh ra đời truyện ngắn “Chữ người tử tù”: in trong tạp chí Tao đàn, lúc đầu có tên là “dòng chữ cuối cùng”, sau đó được in lại trong tập “Vang bóng một thời” và đổi tên thành Chữ người tử tù. + Thời đại sống của tác phẩm: xã hội thực dân nửa phong kiến, hán học đã suy tàn nhường chỗ cho chữ quốc ngữ.  Học sinh cần lắng nghe các bạn tóm tắt và gạch chân trong sách giáo khoa để ghi nhớ và tạo cơ sở nắm bắt nội dung của tác phẩm. Qua đó học sinh khắc sâu kiến thức trong trí nhớ, đồng thời lắng nghe lời giảng mở rộng kiến thức của giáo viên để nâng cao kiến thức về bài học đó. 2. Phần văn bản: 2.1.Về thơ: Ví dụ 1: bài thơ: CÂU CÁ MÙA THU- Nguyễn Khuyến - Hình ảnh thơ: cảnh thu ở đồng bằng Bắc Bộ thể hiện qua những từ ngữ: ao thu, nước thu, sóng thu, trời thu, lá thu … - Nhịp thơ: 2/2/3 hoặc 4/3. - Nghệ thuật gieo vần “eo”… - Không gian thu ở Đồng Bằng Bắc Bộ… *lưu ý trên nền kiến thức học sinh đã chuẩn bị ở nhà, đến lớp giáo viên giúp học sinh có cái nhìn khái quát về bức tranh mùa thu ở Đồng bằng Bắc Bộ có những đặc điểm như sau: - Màu sắc: màu xanh: ao, sóng, tre, trời, bèo… - Chuyển động nhẹ nhàng: sóng gợn tí, mây lơ lững… 6 - Không gian :yên tĩnh vắng lặng… mùa thu đẹp nhưng đượm buồn. Với những đặc điểm như trên giúp học sinh khắc sâu ấn tượng hình ảnh mùa thu điển hình cho làng quê Bắc Bộ nói riêng Và mùa thu ở Việt Nam nói chung. 2.2. Đối với thể loại truyện ngắn: Giáo viên cho học sinh đọc một vài đoạn quan trọng của văn bản “Chữ người tử tù” và thực hiện được những bước sau: 1. Học sinh phải tóm tắt được: cốt truyện của tác phẩm truyện sau đó Giáo viên nhấn mạnh hình tượng nhân vật và tác dụng sử dụng bút pháp nghệ thuật của tác giả. + Nội dung chính của tập truyện Vang bóng một thời: Các nhân vật là những nhà nho tài hoa cuối mùa, tâm trạng chán nản gặp buổi giao thời Tây – Tàu nhố nhăng, họ không chịu sống a dua, theo thời mà có lối sống lây cái tôi tài hoa ngông nghênh của mình như một thái độ phản ánh đối với xã hội đương thời, trong đó có nhân vật Huấn cao trong truyện ngắn chữ người tử tù là một con người tài hoa có cái tâm trong sáng… + Tóm tắt truyên ngắn “Chữ người tử tù” hay những truyện ngắn khác cần phải lưu ý được những sự kiện, các nhân vật trong tác phẩm. Nhân vật Huấn Cao là người anh hùng tài hoa văn võ song toàn nhưng vì bất mản với triều đình nhà Nguyễn nên đã cầm đầu phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình bị thất bại và kết tội tử hình trong và ngày nữa, sau đó dời đến nhà lao Viên Quản Ngục nơi đây hai người đã gặp nhau và trở thành tri âm tri kỉ…Chính khoảnh khắc cuối cùng về đời người của Huân Cao đã khắc họa nên vẻ đẹp hình tượng của con người tài hoa mang vẻ đep toàn diện của người anh hùng, đồng thời qua nhân vật tác giả gửi gắm lòng yêu nước thầm kín của mình. 2. Nắm được đặc điểm của nhân vật ở các mặt, qua đó giáo viên dẫn dắt học sinh khái quát về hình tượng của mỗi nhân vật trong học sinh,. + Ngôn ngữ của các nhân vật trong tác phẩm truyện. + Hành động và thái độ của nhân vật. + Tính cách đặc điểm của từng nhân vật. + Mối quan hệ giữa các nhân vật trong môi trường sống… * Ví dụ 2: Về đặc điểm nhân vật Huấn Cao: + Lời nói đối với Viên quản ngục và Thầy thơ lại có cả ngôn ngữ đối thoại và độc thoại: Huấn Cao khinh bỉ viên quản ngục, suy nghĩ về thái độ của viên quản ngục đối với Huấn Cao… + Hành động trút bỏ gông xiềng, cho chữ Viên quản ngục… + Tính cách hiên ngang : xem thường cái chết… + Mối quan hệ giữa các nhân vật: Huấn Cao với Viên quản ngục và thầy thơ lại, Huấn Cao cảm động Viên quản ngục- Một người giàu nghĩa khí và thiên lương trong sáng… 7 Với những đặc điểm trên giáo viên dẫn dắt học sinh có cái nhìn khái quát về vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao vừa có tài vừa có tâm trong sáng, khí phách của người anh hùng. 3. Ngôn ngữ miêu tả: vừa trang trọng, vừa cổ kính, hiện đại..góp phần hình thành phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. 4. Không gian : xã hội Việt nam trước cách mạng tháng tám. 5. Điểm nhìn trần thuật : nghệ thuật cổ truyền văn hóa phương đông, nghệ thuật viết chữ thư pháp, số phận những nhà nho cuối mùa…qua đó tác giả ca ngợi vẻ đẹp về văn hóa cổ truyền của Việt Nam.  Với 5 đăc điểm của tác phẩm truyện sẽ giúp ta có cái nhìn sâu sắc hơn về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm truyện, đồng thời khắc sâu trong trí nhớ của chúng ta lâu hơn về hình tượng của mỗi nhân vật và tài năng xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả trong mỗi tác phẩm. Ví dụ 3: Tác phẩm “Chí phèo” của Nam Cao. a.Về cốt truyện : Số phận người nông dân trước cách mạng tháng tám thông qua nhân vật Chí phèo cùng tên với tác phẩm. Chí phèo từ nhỏ là đứa con hoang, lớn lên vốn là người nông dân lương thiện làm canh điền cho Bá kiến vì ghen tuông nên Bá kiên đẩy Chí vào tù và 7,8 năm sau ra tù Chí trở thành con quỹ dữ của làng Vũ Đại. sau khi ra tù Chí phèo làm tay say cho Bá Kiến, trong cơn say Chí phèo đã găp Thị Nở, hai người đã ăn nằm với nhau và từ Thị đã đánh thức tình người trong Chí, Chí khao khát muốn trở về với con người lương thiện nhưng xã hội đã từ chối quyền làm người của Chí phèo, sau đó Chí phèo tìm đến Bá Kiến, giết Bá Kiến Và tự sát. Qua cốt truyện về cuộc đời nhân vật, thể hiện ngòi bút sắc sảo của Nam Cao có sức tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội phi nhân đạo đã bóp nghẹt sự sống của con người, đồng thời đòi quyền sống cho con người… b. Đặc điểm từng nhân vật : Nhân vật Chí phèo: - Ngoại hình: Đầu cạo trọc lóc, răng cạo trắng hớn, mặt đen mà rất cơng cơng, mắt gườm gườm trông gớm chết… - Lời nói : sử dụng cả ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại, độc thoại nhiều hơn sau khi Chí phèo gặp Thị Nở… - Hành động : gạch mặt ăn vạ… - Tính cách : hung hăng dữ tợn, khi hiền lành như trẻ con … - Mối quan hệ với môi trường sống: Chí phèo , thị Nở, Bá kiến, giữa giai cấp thống trị và bị trị… Với những đặc điểm như trên giúp ta có cái nhìn sâu sắc về hình tượng của nhân vật Chí phèo: từ người nông dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh hóa… c. Ngôn ngữ miêu tả : ngôn ngữ sống động,vừa điêu luyện gần gủi, tự nhiên với lời ăn tiếng nói hàng ngày… 8 d. Không gian, thời gian: nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng tám. đ. Điểm nhìn trần thuật: Làng Vũ Đại ngày ấy với số phận người nông dân trước cách mạng tháng tám. * Lưu ý: Khi dạy là đối tượng học sinh khá giỏi, Giáo viên luôn đặt ra câu hỏi có nhiều tình huống nhằm kích thích, khơi gợi năng lực học sinh lĩnh hội thấu đáo chiều sâu của tác phẩm, đồng thời học sinh có cơ hội nâng cao kiến thức và hiểu sâu sắc hơn về nội dung của bài học hơn.Qua đó học sinh khắc sâu ấn tượng về kiến thức đã được học. 3. Về hướng dẫn học bài: Học sinh đã chuẩn bị ở nhà và đến lớp học cần bám sát vào bài giảng của giáo viên, học sinh lắng nghe câu hỏi của giáo viên để cùng nhau xây dựng nội dung bài học, đồng thời giúp học sinh lĩnh hội thấu đáo nội dung bài học một cách sâu sắc hơn. C .BƯỚC 3: Tham gia củng cố bài học: Sau khi học xong bài học mới giáo viên dùng câu hỏi vấn đáp giúp học sinh có cái nhìn khái quát lại nội dung bài học và khắc sâu ấn tượng về nội dung trọng tâm của bài học để giúp học sinh nhớ lâu hơn. Ví dụ :Chí Phèo –Nam Cao Học xong bài học :học sinh cần nhìn lại kiến thức đã được học: - Những chặng đời của Chí Phèo: trước khi đi tù, và sau khi ra tù….từ đó có cái nhìn sâu sắc về cuộc sống của người nông dân trước cách mạng tháng tám, đồng thời tháy được sức tố cáo của Nam Cao đối với xã hội cũ. - Ngòi bút nhân đạo mới mẻ của Nam Cao qua cuộc gặp gỡ giữa Chí phèo và thị Nở… - Giá trị to lớn và tầm cở của tác phẩm: Chí Phèo là một kiệt tác qua ngòi bút của Nam Cao viết về đề tài người nông dân trước cách mang tháng tám… *Từ đó : giúp học sinh nhớ lại kiến thức đã được học ,đồng thời có cái nhìn sâu sắc hơn đối với bài học. III. Kết luận : * Thống kê kết quả giảng dạy học kỉ 1 năm học 2013-2014 như sau: Lớp Sĩ Giỏi khá TB Yếu số SL % SL % SL % SL % 11c4 40 1 2,5 9 22,5 22 55 8 20 * Thống kê kết quả giảng dạy học kì 2 năm học 2013-2014 như sau : Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % 11c4 40 3 7,5 14 35 21 52,5 2 5,0 So sánh kết quả giảng dạy trong hai năm học trên cho thấy kết quả giảng dạy ở học kì 2 của năm học 2013-2014 có sự tiến bộ về chất lượng rõ rệt, đặc biệt là tăng về số lượng học sinh khá giỏi, giảm tỉ lệ học sinh yếu kém so với năm học trước và chất lượng giờ dạy được nâng lên một cách có hiệu quả hơn, học sinh hứng thú học môn ngữ văn nhiều hơn. 9 Với hướng tiếp cận như trên Tôi tin tưởng rằng học sinh sẽ dần dần yêu thích học Môn ngữ văn nhiều hơn và chất lượng trong bài kiểm tra sẽ được nâng lên một cách rõ rệt trong năm học này.  Kiến nghị : Để đạt được kết quả như trên tôi mong rằng giữa học sinh và giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm luôn có sự phối hợp nhịp nhàng để tạo điều kiện cho giáo viên bộ môn giảng dạy tích cực và phát huy tính chủ động trong học tập của học sinh. Người thực hiện Võ Thị Thanh Thủy 10 BÁO CÁO TÓM TẮT (Đề nghị công nhận sáng kiến) I. Sơ lược lí lịch. - Họ và tên: Võ Thị Thanh Thủy. - Trình độ chuyên môn: đại học sư phạm Ngữ Văn. - Chức năng nhiệm vụ được giao: chủ nhiệm lớp 11c6 và giảng dạy lớp 11c4, 11c6. - Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, Trường THPT Võ Văn Kiệt. II. Nội dung. 1. Sự cần thiết thực hiện sáng kiến. Giáo viên cần có nhiều kinh nghiệm dạy học và phương pháp giảng dạy tốt nhằm giúp học sinh tiếp thu bài giảng nhanh, lĩnh hội thấu đáo nội dung bài học, nâng cao kết quả học tập. Vì vậy giáo viên luôn luôn tìm tòi và đổi mới phương pháp để giúp học sinh tiếp cận bài học tốt hơn. Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh biết cách tiếp cận từng thể loại tác phẩm văn học và yêu thích học môn ngữ văn nhiều hơn. 2. Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh tiếp cận các truyện ngắn sách giáo khoa ngữ văn lớp 11. 3. Nội dung: Trình bày một số phương pháp giúp học sinh tiếp cận các truyện ngắn sách giáo khoa 11 có hiệu quả. - Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học trước ở nhà. - Hướng tiếp cận truyện ngắn ở trên lớp học. 4. Phạm vi ứng dụng: Đối tượng gồm: Giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn và học sinh đang học trong nhà trường Trung Học Phổ Thông. 5. Thời điểm công nhận: tháng 2- 2014 được hội đồng bộ môn của trường xét duyệt. 6. Hiệu quả mang lại : So sánh kết quả giảng dạy trong hai năm học trên cho thấy kết quả giảng dạy của năm học 2013-2014 có sự tiến bộ về chất lượng rõ rệt, đặc biệt là tăng về số lượng học sinh khá giỏi, giảm tỉ lệ học sinh yếu kém so với năm học trước và hiệu quả giờ dạy được nâng lên một cách có hiệu quả hơn, học sinh hứng thú học môn ngữ văn nhiều hơn. 7.Những đơn vị, cá nhân nào đã ứng dụng sáng kiến này: Tôi và những giáo viên tổ Ngữ Văn trường THPT Võ Văn Kiệt. XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC ĐƠN VỊ Ngày 24 Tháng 2 Năm 2015 Người báo cáo Võ Thị Thanh Thủy 11 12
- Xem thêm -