Một số nội dung trong xây dựng hình thức kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm bộ môn gdqp trong nhà trường thpt

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ TRƯỜNG THPT VĨNH ĐỊNH TỔ BỘ MÔN : THỂ DỤC - QUỐC PHÒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “ MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG XÂY DỰNG HÌNH THỨC KIỂM TRA BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM BỘ MÔN GDQP TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT ” Giáo viên : Lê Xuân Vũ Năm MỤC LỤC học : 2012 – 2013 Trang MỤC LỤC 1 A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 B. PHẦN NỘI DUNG 3 Phần I. Thực trạng vấn đề 3 Phần II. Một số quy tắc trong xây dựng các công cụ đánh giá (bài trắc nghiệm) áp dụng 3 cho môn GDQP A. Một số tiêu chuẩn viết câu hỏi trắc nghiệm 3 I. Các đặc tính quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm 3 II. Những đặc tính quan trọng của phần câu dẫn 3 III. Các đặc tính quan trọng đối với các câu lựa chọn 3 IV. Hai mươi quy tắc để viết các câu hỏi nhiều lựa chọn 4 V. Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 5 B. Những gợi ý khi viết các câu hỏi tự luận 9 Phần III: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra, đánh giá thành quả học tập 12 A. Các loại câu hỏi trắc nghiệm 11 I. Phân loại trắc nghiệm 11 II. So sánh trắc nghiệm tự luận hay luận đề và trắc nghiệm khách quan 12 B. Trắc nghiệm tự luận 14 I.Đặc tính của trắc nghiệm tự luận 14 II. Phương pháp soạn câu hỏi tự luận hay luận đề 17 III. Phương pháp chấm điểm loại câu tự luận 18 * TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 19 ü TRẮC NGHIỆM CÓ NHIỀU PHƯƠNG ÁN TRẢ LỜI CHO MỖI CÂU HỎI ( MCQ) 20 I.Ưu điểm của loại trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để lựa chọn 20 II. Hạn chế của loại câu hỏi có nhiều phương án trả lời để chọn MCQ 20 III. Các quy tắc khi soạn câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để chọn MCQ 21 ü 23 TRẮC NGHIỆM LOẠI "ĐÚNG - SAI” I- Đặc tính của trắc nghiệm đúng - sai 23 II- Quy tắc soạn câu hỏi loại "đúng - sai” 25 III- Phương pháp chấm điểm loại trắc nghiệm: đúng - sai 25 Phần III: Kết quả đạt được 26 C. PHẦN KẾT LUẬN 28 A. PHẦN MỞ ĐẦU Giáo dục quốc phòng (GDQP) cho học sinh là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng toàn dân. GDQP là môn học chính khóa nằm trong chương trình giảng dạy của các trường Trung học Phổ thông (THPT) nhằm rèn luyện hình thành nhân cách, góp phần nâng cao ý thức quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Nhận rõ vị trí, vai trò của nhiệm vụ trên, những năm qua, Ban Giám hiệu và Tổ Thể dục - GDQP luôn quan tâm chỉ đạo và tổ chức, triển khai thực hiện tốt công tác Giáo Dục Quốc Phòng cho học sinh. Trong những năm qua, Ban Giám Hiệu đã chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hướng dẫn các giáo viên chọn nhiều hình thức tổ chức giảng dạy, học tập môn học này. Các Giáo viên bộ môn phải thay đổi giáo án cho phù hợp với chương trình của Bộ giáo dục, 35 tiết mỗi năm học. Từ năm 2003 đến nay, HS được nâng cao hiểu biết về truyền thống vẻ vang của dân tộc, Quân đội Nhân dân Việt Nam và một số nội dung cơ bản về quốc phòng, rèn luyện tác phong, nếp sống tập thể có kỷ luật... Nội dung thực hành luyện tập theo đúng nội dung, thời gian quy định. Các giáo viên đều tích cực tham gia huấn luyện, học sinh hăng say luyện tập. Trong những năm gần đây khi nền kinh tế Việt Nam phát triển, kỹ thuật thông tin hiện đại, thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong trường học là vấn đề đang được các cấp lãnh đạo quan tâm và ủng hộ, hiện nay, số lượng giáo viên áp dụng công nghệ thông tin vào trong phương pháp giảng dạy rất đa dạng, sinh động, gây hứng thú cho học sinh nói chung, và đối với phương pháp giáo dục quốc phòng – an ninh nói riêng, chương trình môn giáo dục quốc phòng an ninh rất đa dạng: - Liên quan đến Lịch sử có bài : Việt Nam đánh giặc giữ nước, lịch sử và truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam . - Liên quan đến Địa lý như bài : Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia, thường thức phòng tránh một số loại bom đạn và thiên tai. - Liên quan đến Giáo Dục Công Dân có bài : Tác hại của Ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma túy. - Liên quan đến Sinh học có bài : Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường và Băng bó vết thương, kỹ thuật cấp cứu và chuyển thương. - Liên quan đến hướng nghiệp như bài: Hệ thống nhà trường quân đội, công an và chế độ tuyển sinh vào các trường quân sự, công an giúp các em học sinh định hướng được nghề nghiệp quân sự, công an… Đồng thời Ngành Giáo dục và Đào tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập, khắc phục thói quen học tập thụ động, lối truyền thụ kiến thức một chiều phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay. Tuy vậy, có thể nói trong một thời gian khá dài việc kiểm tra, đánh giá kết quả môn học GDQPAN còn có những hạn chế nhất định. Để phục vụ cho công tác thi, kiểm tra đánh giá một cách hoàn thiện và công bằng đồng thời tạo điều kiện cho cả giáo viên và học sinh nắm vững kiến thức đã học. Trong thời gian giảng dạy bộ môn cũng như tham khảo nhiều ý kiến đóng góp từ các thành viên trong Tổ bộ môn và các giáo viên giảng dạy bộ môn GDQP, tôi đưa ra một số phương pháp kiểm tra hình thức trắc nghiệm để đánh giá học sinh trong quá trình giảng dạy, rất mong các thầy cô đóng góp thêm ý kiến để hoàn thiện hơn nội dung này. B. PHẦN NỘI DUNG PHẦN I: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Qua thực tế ở trường cụ thể là những bài kiểm tra định kỳ, các bài thi ra đề, phần lớn học sinh không mấy hứng thú với những tiết kiểm tra; những bài kiểm tra làm các em ghò bó trong khuôn mẫu của những từ ngữ. Trên thực tế, với phần đông các em bộ môn GDQP chỉ được xem là môn không quan trọng; từ đó, các em thiếu hào hứng khi học chứ không chỉ là trong kiểm tra. Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ bằng nhiều cách để nâng cao chất lượng bộ môn ngày một cao hơn. PHẦN II: MỘT SỐ QUY TẮC TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ (BÀI TRĂC NGHIỆM) ÁP DỤNG CHO MÔN GDQP A. MỘT SỐ TIÊU CHUẨN VIẾT CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM I. Các đặc tính quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm 1- Sự phù hợp của điều được trắc nghiệm 2- Tính chính xác hoặc tính đúng đắn của kiến thức được trắc nghiệm 3- Tính công bằng đối với tập hợp học sinh được trắc nghiệm. Toàn bộ học sinh có cơ hội như nhau để tiếp cận với kiến thức được trắc nghiệm. 4- Tính nhạy cảm đối với các vấn đề dân tộc thiểu số (tránh các thuật ngữ có thể tỏ ra xúc phạm với bất cứ nhóm người nào) 5- Tính dễ hiểu cho những người đọc các câu hỏi trắc nghiệm ( tính rõ ràng, đơn giản của các từ vựng được sử dụng). 6- Sắp xếp các câu hỏi trắc nghiệm như thế nào để câu hỏi cuối cùng cũng ứng với mức điểm cao nhất. II. Những đặc tính quan trọng của phần câu dẫn 1- Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của vấn đề hoặc nhiệm vụ được trình bày 2- Tính ngắn gọn, xúc tích của câu dẫn ( bao hàm chỉ các thông tin cần thiết để trả lời câu hỏi và tránh hiện tượng "đánh lừa”. 3- Tính tập trung đối với các khẳng định dương tính (tránh các từ " ít nhất” " không” " ngoại trừ”.v.v...) III. Các đặc tính quan trọng đối với các câu lựa chọn 1- Tính chính xác của câu trả lời (chỉ có một câu trả lời chính xác – đúng). 2- Tính hấp dẫn của câu nhiễu (cần phải tỏ ra là có vẻ hợp lí đối với những người không am hiểu hoặc hiểu không đúng) 3- Tính tương tự trong cấu trúc trả lời ( cần phải để mỗi phần có độ dài, lượng từ ... tương tự như nhau). 4- Tránh được các từ đầu mối ( "luôn luôn” " không bao giờ” " chỉ có” " tất cả”.vv...) IV. Hai mươi quy tắc để viết các câu hỏi nhiều lựa chọn 1. Sự tinh thông nội dung môn học của giáo viên chính là giấy thông hành để viết câu hỏi trắc nghiệm. 2. Sử dụng thành thạo các biểu đồ, sơ đồ, bảng, đồ thị. 3. Xác lập mức và độ phức tạp đối với các học sinh và thời gian cần thiết. 4. Các từ ngữ sử dụng cần phải rõ ràng, ngắn gọn và chính xác. 5. Các vấn đề hoặc câu hỏi cần phải được trình bày rất rõ ràng trong phần câu dẫn của câu hỏi trắc nghiệm. 6. Hạn chế sử dụng các tập hợp từ cho phần câu dẫn như: " Điều gì trong các điều sau đây là yếu tố... yếu tố quan trọng nhất là... 7. Những từ sử dụng nếu lặp lại chung cho tất cả các câu lựa chọn nên chuyển sang phần câu dẫn. 8. Thông tin trong câu dẫn cần phải xác thực và các câu lựa chọn không được phủ nhận câu dẫn. 9. Các câu lựa chọn cần phải đồng nhất, song song và được sắp xếp một cách logic hoặc được đánh số thứ tự. 10. Tránh các đầu mối có nội dung xa lạ với câu trả lời. 11. Tránh các tình hướng lựa chọn 3 khả năng " tăng, giảm, giữ nguyên”. 12. Nhất thiết trong các lựa chọn phải có một câu trả lời đúng, rõ ràng. 13. Phần dẫn của câu hỏi trắc nghiêm có thể viết dưới dạng đưa ra nhiều yếu tố giúp cho học sinh lựa chọn câu trả lời. Các yếu tố đó được tổ hợp lại thành các câu lựa chọn sao cho chỉ có một câu lựa chọn ( câu trả lời) đúng. Ví dụ, người đưa ra các yếu tố trong câu dẫn như: I - Yếu tố x, II - Yếu tố y, III - Yếu tố z Và các lựa chọn đưa ra là: (A) chỉ có I đúng (B) chỉ có I và II đúng (C) chỉ có I và III đúng (D) chỉ có II và III đúng (E) cả ba I, II và III đều đúng. 14. Phải phân bố một cách ngẫu nhiên câu trả lời đúng. 15. Hiếm khi sử dụng: "Không có cái nào đúng trong số kể trên” và sử dụng " nó” là câu trả lời trong câu trắc nghiệm có " nó” xuất hiện. 16. Phải tính đến các đơn vị đánh số trong câu lựa chọn. 17. Các câu nhiễu cần phải có vẻ hợp lí, phù hợp với câu dẫn 18. Các câu hỏi trắc nghiệm, trong một tập hợp phụ thuộc vào thông tin giới thiệu (mở đầu) thì không phụ thuộc vào nhau. 19. Đôi khi có xu hướng câu hỏi trắc nghiệm được soạn theo kiểu có 5 lựa chọn, có quan hệ mật thiết với nhau dưới dạng các từ, câu, phương trình, đồ thị, sơ đồ được đưa ra ngay từ đầu và người ta dùng các lựa chọn đó cho một loạt các câu trắc nghiệm tiếp theo. (Một lựa chọn có thể được sử dụng làm một câu trả lời một lần hay nhiều lần hoặc chẳng được dùng làm câu trả lời lần nào trong một loạt các câu trắc nghiệm có liên quan đến nhau). 20. Các câu hỏi trắc nghiệm cần được phân bố sao cho có thể đo lường được năng lực nhận thức ở các thứ bậc khác nhau như: Bậc 1. Nhớ - nhắc lại các sự kiện, quan điểm, nguyên lí cơ bản Bậc 2. Hiểu - Truyền đạt, làm sáng tỏ, ngoại suy Bậc 3. Áp dụng - vào vấn đề mới Bậc 4. Phân tích - Cấu trúc cơ sở dữ liệu được phân tích Bậc 5. Tổng hợp - Tạo nên một chỉnh thể mới Bậc 6. Đánh giá - Khi phải sử dụng các tiêu chuẩn phụ thêm như tính kinh tế, tốc độ, độ chính xác, độ an toàn... để đánh giá mà quyết định lựa chọn cho chính xác một yêu cầu nào đó. V. Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 1. Câu hỏi trắc nghiệm a. Lựa chọn khái niệm hay ý tưởng quan trọng mà chỉ với học sinh cần phải biết hoặc hiểu. b. Thiết kế câu trắc nghiệm xoay quanh một ý tưởng hay một vấn đề trung tâm được trình bày rõ ràng trong câu dẫn. Toàn bộ các lựa chọn có quan hệ với câu dẫn được xây dựng trên cùng một phương thức. c. Phải bảo đảm chắc chắn để mỗi một câu hỏi trắc nghiệm chỉ có một câu trả lời đúng. d. Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng và tránh tối nghĩa. Không nên thiết kế câu trắc nghiệm như là một kiểu kiểm tra của khả năng đọc hiểu, trừ khi đây là mục đích câu hỏi. e. Khi nhiều câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên cùng một thông tin đưa ra ở câu trắc nghiệm đầu dưới dạng một đoạn văn, đồ thị hoặc biểu đồ thì cần phải chọn câu hỏi sao cho đảm bảo chắc chắn các câu trắc nghiệm có liên quan đến cùng một loại thông tin đưa ra sau đó thì câu này phải độc lập với câu kia. Câu trả lời đúng của người thi phải bắt nguồn từ thông tin chung đã cho chứ không phụ thuộc câu trả lời đúng của câu trắc nghiệm trước. Không được sử dụng các câu nhiễu trong một câu hỏi làm đầu mối cung cấp thông tin cho câu trả lời của câu trắc nghiệm khác. f. Phải có ý thức rõ ràng về mục đích của câu hỏi trắc nghiệm. Điều này có nghĩa là nếu như giáo viên có ý định trắc nghiệm năng lực nhận thức ở bậc nhớ thì không được "ngụy trang” câu hỏi trắc nghiệm dưới dạng một thể hiện khác đi. Hoặc nếu như giáo viên có ý định trắc nghiệm tư duy phê phán thì phải làm thế nào để câu hỏi không thể được trả lời khi chỉ đơn thuần dựa vào thông tin thực tế đã thu được. g. Nếu có ý định làm một câu hỏi trắc nghiệm khó phải chắc chắn rằng nó sẽ khó bởi vì nó đòi hỏi những lí luận sắc bén hoặc sự hiểu biết ở mức cao chứ không vì nó trắc nghiệm vấn đề bí mật hoặc chưa rõ ràng ở môn học. h. Không được sử dụng phủ định kép trong một câu hỏi trắc nghiệm. Nếu như giáo viên đề nghị học sinh trả lời bằng cách nhận ra một lựa chọn là không đúng, hoặc là không chính xác thì các lựa chọn phải được trình bày dưới dạng khẳng định dương tính. Có thể nêu ra một ví dụ về điều này là học sinh có thể bị lúng túng khi phải nhận ra một lựa chọn thuộc loại không đúng. 2. Phần câu dẫn của câu hỏi trắc nghiệm a. Bạn có thể xây dựng câu dẫn dưới dạng câu hỏi, dưới dạng câu chưa hoàn chỉnh mà nó sẽ được hoàn thành bằng liên kết với câu lựa chọn, hoặc dưới dạng một nội dung hoàn chỉnh của vấn đề cần được giải quyết. b. Xác định rõ ràng trong câu dẫn nhiệm vụ mà bạn xác định cho học sinh và bao hàm tất cả các thông tin cần thiết cho học sinh để hiểu được ý đồ của câu trắc nghiệm. (Các câu hỏi được xây dựng thành từng cụm một nên cần có sự chỉ dẫn, đặc biệt viết cho cuộc trắc nghiệm được phân thành nhóm và đòi hỏi các chỉ dẫn đặc thù và chúng được dùng cho các nhóm mà không cần nhắc lại mỗi lần). 3. Các lựa chọn cho câu hỏi trắc nghiệm (Câu trả lời đúng và các câu trả lời không chính xác, hoặc câu nhiễu) a. Các câu lựa chọn cũng quan trọng như nội dung của vấn đề được trình bày trong câu dẫn. Lựa chọn và tạo lập nội dung của vấn đề trong phần thân câu trắc nghiệm, sau đó tiến hành lựa chọn và tạo lập các câu nhiễu thật cẩn thận, thể hiện ở chỗ tính không đúng là tiêu chuẩn duy nhất. Các nguồn để tạo câu nhiễu tốt là: - Những quan điểm sai và những sai lầm thường gặp trong kỹ thuật. - Nội dung bản thân nó là đúng nhưng lại không thỏa mãn các yêu cầu của câu hỏi. - Nội dung hoặc là quá rộng hoặc là quá hẹp so với yêu cầu của câu hỏi. - Một nội dung không đúng của câu nhiễu được diễn đạt về từ ngữ cẩn thận tới mức nó có vẻ có lí đối với những người không am hiểu. b. Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm phụ thuộc nhiều vào các câu lựa chọn. Sự khác biệt giữa các câu lựa chọn đúng sai càng tinh tế bao nhiêu thì câu trắc nghiệm càng trở nên khó bấy nhiêu. c. Đặt câu đối với tất cả các câu lựa chọn như thế nào để chúng duy trì được mối quan hệ như nhau đối với ý tưởng của câu dẫn và diễn đạt các câu lựa chọn một cách rõ ràng và xúc tích. d. Đề phòng việc đưa ra các gợi ý vào câu trả lời đúng. Nếu như có sự tương tự giữa câu dẫn với câu trả lời đúng về một từ, câu hoặc cấu trúc ngữ pháp, và nếu như sự tương tự này là không có đối với các câu lựa chọn khác thì chỉ trên cơ sở này học sinh cũng đã đủ nhận ra câu trả lời nào là đúng. Đồng thời cũng tránh khuynh hướng sử dụng cách viết như sách trong các câu lựa chọn khác. e. Tránh mọi xu hướng làm cho câu trả lời đúng luôn dài hơn các câu nhiễu, khuynh hướng này thông thường là kết quả của việc lập câu trả lời đúng một cách hoàn chỉnh và hoàn toàn chính xác, đồng thời lập các câu nhiễu với nội dung đơn giản và không đủ chất lượng. Hãy viết các câu nhiễu với sự cẩn thận và độ chính xác như là đối với câu trả lời đúng, như vậy để tất cả các câu lựa chọn đề có ái lực như nhau đối với các học sinh chỉ hay trả lời phỏng đoán. f. Tránh các "sơ hở” trong các câu nhiễu, ví dụ "luôn luôn”, "chỉ”, "mọi”, "tất cả”, "không bao giờ”.v.v... Các câu trắc nghiệm cần kiểm tra một điều gì đó tinh tế hơn chứ không phải chỉ là năng lực nhận biết ra những gì khác thường ở học sinh. g. Không được để lộ câu trả lời đúng do sử dụng tất cả các từ của câu nhiễu có ý nghĩa không thiện chí, điều này sẽ tương phản mạnh đối với các từ có ý nghĩa thiện chí trong câu trả lời đúng và ngược lại. 8. Không được nhắc lại trong mỗi câu lựa chọn thông tin mà có thể để ở trong câu dẫn. Trường hợp này dứt khoát phải đưa nội dung về câu dẫn. h. Nếu cần một sự đánh giá ở câu dẫn (thí dụ: "tốt nhất” hoặc "cực kỳ”) thì phải đảm bảo được rằng quả thật giáo viên đòi hỏi học sinh nhận ra cái "tốt nhất” hoặc "cực kỳ” của vài câu lựa chọn chứ không phải là phân biệt giữa cái chính xác và không chính xác. 4. Các vấn đề khác a. Đối với một bài trắc nghiệm điển hình thì cần có bộ câu hỏi được sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó đối với lớp mà cuộc trắc nghiệm được tiến hành (một câu trắc nghiệm dễ là câu mà có ít nhất 70% học sinh trả lời đúng, một câu khó là câu có dưới 30% học sinh trả lời đúng). Tuy nhiên, phần lớn các câu hỏi trắc nghiệm nằm trong phạm vi đúng thường là 30 - 70%. Điều quan trọng phải luôn phải nhớ rằng thời gian làm bài mới là một vấn đề khó khăn đối với học sinh hơn là giáo viên dự tính. b. Có sự linh hoạt trong sự lập ra các câu trắc nghiệm để đáp ứng các tiêu chí của bài trắc nghiệm. Điều cần thiết là có được các câu hỏi cho một chủ đề nào đó ở các mức độ khó khác nhau và kiểm tra được các năng lực. c. Khi duyệt các câu trắc nghiệm, hãy chỉ ra câu trả lời đúng hoặc ở mặt sau hoặc ở một tờ giấy riêng biệt. Cần phải đảm bảo rằng những người duyệt đề có thể trả lời đúng các câu hỏi một cách độc lập mà không chịu ảnh hưởng bởi câu trả lời của bạn được viết ngay dưới câu hỏi trắc nghiệm. B. NHỮNG GỢI Ý KHI VIẾT CÁC CÂU HỎI TỰ LUẬN 1. Câu hỏi cần phải rõ ràng: những hướng dẫn không được làm học sinh lúng túng với các vấn đề nêu ra. Chủ đề nhằm mục đích kiểm tra năng lực trả lời chứ không phải là khả năng đoán được những gì mà người lập trắc nghiệm dự định. Bên cạnh đó người học sinh chỉ có một lượng thời gian hạn chế, do đó thời gian cần phải dùng cho việc viết chứ không cần cho việc phân tích đề một cách không cần thiết. 2. Câu hỏi ngắn gọn vừa đủ để vấn đề được trình bày rõ ràng: sự diễn đạt lại đôi khi là cần thiết để tránh hiểu nhầm, vậy nên xem xét sự diễn đạt được sử dụng có cần đúng nguyên gốc hay không, bởi vì sự lặp lại thì không cần làm sáng tỏ thêm. 3. Cách hướng dẫn cần phải được xác định rõ ràng: học sinh cần phải biết điều gì được yêu cầu, ví dụ: thảo luận, trích dẫn, ví dụ cụ thể từ một luận thuyết, hoặc hướng sự chú ý đến sự chuẩn xác của một nội dung khái niệm hoặc hãy khẳng định là đã sử dụng các câu hoàn chỉnh. 4. Tránh các câu hỏi chỉ đòi hỏi câu trả lời "Có” hoặc "Không” 5. Học sinh trung bình phải có khả năng viết câu trả lời ở mức độ trung bình, còn người học sinh giỏi có khả năng thể hiện trí thông minh của mình. Một chủ đề tốt sẽ cho phép phân loại tất cả các học sinh theo năng lực của họ. 6. Từ vựng được sử dụng và những khái niệm được thể hiện trong chủ đề không được quá khó đối với người học sinh bình thường để có thể hiểu được nhanh chóng mà làm bài. Một chủ đề khó chỉ phân biệt được giữa những học sinh rất giỏi với số còn lại. Bên cạnh đó việc đọc hiểu khó khăn sẽ biến cuộc trắc nghiệm thành trắc nghiệm khả năng đọc. 7. Câu hỏi không được tạo ra cách viết một cách khuôn sáo trong các câu trả lời. Chủ đề sẽ bị nhàm chán do sử dụng quá mức các câu trả lời dài dòng, mặt khác một số câu hỏi tốt chính lại là các câu biến báo các khuôn sáo hay dùng. 8. Nếu là kiểm tra tự luận: Bản thân câu hỏi cần phải cung cấp một nguyên lý tổ chức để viết tự luận. Ví dụ: Hãy so sánh và đối chiếu.... Hãy mô tả ngắn gọn và sau đó phân tích.... Hãy thảo luận qua câu trả lời của anh (chị) cho câu hỏi này, trình bày nguyên nhân đưa ra câu trả lời của anh (chị) và đưa ra các ví dụ cụ thể để minh họa cho những nguyên nhân này... 9. Nếu là kiểm tra tự luận: Câu hỏi không được gợi ra những phản ứng làm ảnh hưởng đến sự phán đoán của người viết hoặc người đọc. Chính trị, chủng tộc và những chủ đề nhạy cảm khác cần tránh nhắc đến. Đồng thời, cũng nên tránh những chủ đề gây nên sự tối nghĩa; chủ đề dường như vô thưởng vô phạt. Nếu như một học sinh viết về một nhân vật chính trị không đúng (theo quan điểm của người đọc, người chấm), thì điểm số hoặc là quá cao vì người đọc đồng tình với chính kiến của học sinh, hoặc quá thấp vì người đọc không chấp nhận chính kiến này. Mặt khác, khi chấm bài tự luận thứ 5 cùng nội dung, chất lượng như nhau chắc chắn cũng sẽ không được điểm như là đối với bài đầu tiên. Những người chấm cũng là con người và họ đã trở nên nhàm chán. 10. Nếu là kiểm tra tự luận: Người viết câu hỏi nên viết luôn đáp án và xác định xem đề ra có thực sự đòi hỏi câu trả lời đó hay không. Người viết câu hỏi cũng nên cố gắng trả lời câu hỏi trong khoảng thời gian giới hạn cho phép, điều này giúp cho thấy được tính hợp lý của thời gian dành cho học sinh để viết câu trả lời. Câu hỏi cần phải được chỉnh lý nếu có những phát hiện ra những điều không hợp lý. PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HỌC TẬP A. CÁC LOẠI CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM I. Phân loại trắc nghiệm: Các bài kiểm tra hay thi, học sinh phải viết khi làm bài được chia thành hai loại: Loại tự luận và loại trắc nghiệm khách quan. Cả hai loại đều được gọi là trắc nghiệm, chứ không chỉ là loại thứ hai như nhiều người vẫn lầm lẫn. Loại trắc nghiệm tự luận đòi hỏi học sinh viết câu trả lời, thường nhiều dòng, tương ứng với mỗi câu hỏi, hay mỗi phần câu hỏi. Chữ " khách quan” dùng để chỉ loại trắc nghiệm có phương pháp chấm điểm khá đều tay và đáng tin cậy khi có nhiều người chấm, nhờ ở "khóa” cho điểm đã chuẩn bị trước. Chỉ trong loại trắc nghiệm "điền vào chỗ trống” học sinh được tự do diễn đạt câu trả lời trong một giới hạn nào đó để chấp nhận đúng; còn trong loại trắc nghiệm khách quan khác, học sinh sẽ được điểm như nhau với bất kỳ người chấm là ai, ngoại trừ sai số do sự vô ý nhất thời của người chấm. Vậy nên loại trắc nghiệm này được gọi là khách quan, do tính chất hai hay nhiều người cùng chấm bài kiểm tra hay thi sẽ cho điểm như nhau hoặc khác nhau rất ít. Trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại: 1. Loại đúng sai. Trong loại này học sinh đọc những câu phát biểu và phán đoán xem nội dung hay hình thức của câu ấy đúng hay sai. Loại câu hỏi này phù hợp nhất cho việc khảo sát trí nhớ các sự kiện, hay nhận biết các sự kiện. 2. Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để chọn, MCQ. Loại này gồm một câu phát biểu căn bản, gọi là câu dẫn, hay câu hỏi, đi với nhiều câu trả lời để học sinh lựa chọn thi làm bài. Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống nhau, gồm một từ, một cụm từ, hay một câu hoàn chỉnh. Học sinh phải chọn một câu trả lời đúng hay hợp lý nhất. Đây là loại trắc nghiệm khách quan thông dụng nhất. Các câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí nhớ, mức hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn. 3. Loại ghép đôi (hay xứng hợp). Trong loại này, học sinh tìm cách ghép mỗi từ hay câu trả lời trong một cột với một từ hay câu xếp trong cột khác. Số câu hoặc từ trong cột thứ 1 có thể ít, bằng hay nhiều hơn các câu hoặc từ trong cột thứ 2. Các hỏi loại này mang nhiều tính chất của loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn, MCQ. 4. Loại điền vào ô trống hay cần câu trả lời ngắn. Trong loại này, học sinh viết câu trả lời khoảng 1 đến 8 hay 10 chữ, các câu trả lời thường thuộc loại đòi hỏi trí nhớ. Tuy nhiên, trong trường hợp môn Toán hay Khoa học Tự nhiên, câu trả lời có thể đòi hỏi óc suy luận hay sáng kiến. II. So sánh trắc nghiệm tự luận hay luận đề và trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng tùy theo mục tiêu cần kiểm tra, đánh giá, yêu cầu đề cập nhiều mục tiêu hay tiết mục nội dung. Khi được soạn kỹ, loại trắc nghiệm tự luận có thể tạo cho học sinh cơ hội để phân tích và tổng hợp dữ kiện theo lời lẽ riêng của mình dựa trên kinh nghiệm học tập hay kinh nghiệm ngoài đời. Trong loại trắc nghiệm này học sinh có thể thi thố khả năng giải quyết vấn đề hay khả năng suy luận trong việc: sắp xếp các dữ kiện hay sự kiện; so sánh các tính chất hay ý kiến; giải thích rõ ràng các định luật và quy tắc; ứng dụng các nguyên tắc vào những vấn đề riêng biệt cần giải quyết; suy diễn từ những sự kiện đã biết; giải thích hay thiết lập những mối tương quan khi có được một số yếu tố hay dữ kiện; phê bình các đoạn văn, tư tưởng, dựa trên các tiêu chuẩn đã cho; phác họa những đường lối mới để giải quyết những vấn đề cần thiết. Ngược lại, loại trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra đánh giá khả năng nhớ những sự kiện hay kiến thức hữu hiệu hơn loại tự luận. học sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng trong số nhiều câu trả lời cho sẵn hoặc phải biết thêm 1 từ, 1 câu, 1 đoạn ngắn để trả lời câu hỏi. Tuy nhiên với khả năng, kinh nghiệm dùng thẩm định các khả năng suy luận, giải quyết vấn đề ở những mức trí lực cao hơn. Trong khi loại trắc nghiệm tự luận thường cho phép khảo sát một số ít kiến thức trong thời gian hạn định, loại trắc nghiệm khách quan có thể giúp chúng ta khảo sát một số kiến thức rộng rãi, bao quát hơn. Sự khác biệt này do câu hỏi tự luận cần nhiều thời gian hơn để trả lời một câu hỏi, trong lúc câu hỏi loại trắc nghiệm khách quan có thể được trả lời nhanh hơn. học sinh nào có lời văn lưu loát sẽ có được lợi thế hơn khi viết phần trả lời tự luận, vì họ có thể nhấn mạnh các điểm họ biết và bỏ qua những điểm chưa chắc chắn. Nhờ vào các phần họ biết nhiều, học sinh có thể gây ấn tượng thuận lợi để che lấp một vài phần yếu kém khác trong bài thi. Điều này không thể xảy ra với trắc nghiệm khách quan. Học sinh nào thích được tự do diễn đạt tư tưởng sẽ thích câu hỏi tự luận hơn để có dịp trình bày ý tưởng một cách hữu hiệu. Trái lại, các học sinh thích thu thập nhiều dữ kiện và kiến thức sẽ lựa chọn một câu trả lời trong số những câu cho sẵn nên có khuynh hướng thích loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Mỗi giáo viên nên báo trước cho học sinh biết sẽ dùng câu hỏi nào để họ chuẩn bị một cách thích ứng. Việc chấm điểm loại trắc nghiệm khách quan sẽ nhanh hơn và chính xác hơn, do các câu trả lời đã được chọn sẵn khi ấn định khóa chấm điểm. Nhờ đó, với cùng một thời gian chấm bài như nhau, loại trắc nghiệm khách quan thường có độ tin cậy cao hơn loại luận đề. Loại trắc nghiệm tự luận đòi hỏi nhiều thời gian hơn để chấm bài, và điểm của cùng một bài thi do nhiều giám khảo khác nhau, chấm sẽ khác nhau; ngay cả một giám khảo chấm cùng một bài vào những lúc khác nhau sẽ có những đánh giá khác nhau. Tuy nhiên, độ tin cậy của loại trắc nghiệm tự luận có thể gia tăng nếu chúng ta soạn trước những điểm nào cần đề cập đến trong một câu trả lời đúng. Một bài trắc nghiệm loại tự luận dễ soạn hơn loại trắc nghiệm khách quan và chỉ cần ít câu hỏi. Tuy nhiên, nội dung mỗi câu hỏi nên được diễn tả một cách rõ ràng, chính xác để có thể so sánh các câu trả lời một cách dễ dàng hơn. Mỗi câu hỏi cần có nội dung tương đối tổng quát để những học sinh có sáng kiến có dịp tư duy và lí luận. Việc soạn các câu hỏi trắc nghiệm khách quan cũng đòi hỏi nhiều công phu để các từ dùng được chính xác cũng như độ khó của mỗi câu ở mức thích hợp, vừa phải. Với kinh nghiệm, thường ở một lớp 25 học sinh hay ít hơn nên dùng loại câu hỏi tự luận để có lợi thời giờ hơn; trong lúc một lớp đông hơn, việc dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan sẽ có lợi hơn. Câu hỏi tự luận hay câu hỏi trắc nghiệm khách quan có những điểm đáng chú ý sau đây: 1. Về khả năng cho được: - Loại tự luận: + Học sinh có thể tự diễn đạt tư tưởng, câu văn, kiến thức và kinh nghiệm học tập đã có. + Có thể đo lường khả năng suy luận, sắp xếp ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt. + Không đo lường kiến thức về sự kiện một cách hữu hiệu. - Loại trắc nghiệm khách quan: + Học sinh chọn một câu đúng nhất trong số các phương án trả lời cho sẵn hoặc viết thêm một từ đến một câu để trả lời. + Có thể đo được những khả năng suy luận như sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt. + Có thể kiểm tra và đánh giá kiến thức của học sinh về các sự kiện một cách hữu hiệu. 2. Lĩnh vực kiểm tra, đánh giá được: - Loại tự luận: + Có thể kiểm tra, đánh giá được một lĩnh vực nhỏ trong mỗi bài thi. Các câu trả lời thường dài, tốn thời giờ, nên trong khoảng thời gian hạn định một bài thi chỉ có thể gồm một ít câu hỏi. học sinh có thể tránh đề cập những điểm họ không biết rõ. - Loại trắc nghiệm khách quan: + Có thể bao gồm nhiều lĩnh vực rộng rãi trong mỗi bài thi. Với những câu hỏi bao quát khắp nội dung chương trình giảng dạy, độ tin cậy trắc nghiệm tăng lên. 3. Ảnh hưởng đối với học sinh: - Loại tự luận: khuyến khích học sinh sắp đặt và diễn đạt ý tưởng một cách hiệu quả. - Loại trắc nghiệm khách quan: khuyến khích học sinh tích nhiều kiến thức, khả năng. 4. Công việc soạn thảo đề thi: - Loại tự luận: Chỉ cần viết một ít câu hỏi cho mỗi bài kiểm tra hay bài thi. Đề bài phải rõ ràng, phải cho học sinh một ít tự do diễn đạt ý tưởng, nhưng phải có một giới hạn cho câu trả lời được chính xác. - Loại trắc nghiệm khách quan: Có thể viết nhiều câu hỏi cho mỗi bài thi. Tránh dùng những từ mơ hồ. Các câu trả lời để lựa chọn phải nhằm phần nào vào việc tìm hiểu những việc học sinh thường ngộ nhận. 5. Công việc chấm điểm: - Loại tự luận: việc chấm điểm thường mất nhiều thời giờ. Giáo viên có thể viết những lời nhận xét trên bài làm của học sinh. Câu trả lời có thể được điểm khác nhau khi có nhiều giám khảo khác nhau chấm. - Loại trắc nghiệm khách quan: công việc chấm điểm nhanh chóng. Các câu trả lời thường đọc chấm theo tiêu chuẩn đúng hay sai nên việc chấm điểm rất chính xác và thuần nhất. B. TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN I. Đặc tính của trắc nghiệm tự luận Loại câu hỏi tự luận hay luận đề gồm những câu hỏi có câu trả lời tự do hay tự do hạn chế. học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức nên phát huy được óc sáng kiến và suy luận. Loại này thường được dùng khi giáo viên muốn học sinh tập viết văn, phán đoán và sắp đặt ý tưởng. Nhưng khuyết điểm của loại này là khó chấm điểm, có độ tin cậy thấp nếu học sinh được tự do viết câu trả lời. Loại câu trắc nghiệm tự luận thứ hai giới hạn phần nào phạm vi và nội dung câu trả lời. Thường câu trả lời là một đoạn văn ngắn. Việc chấm điểm sẽ dễ dàng hơn, và độ tin cậy cao hơn loại câu hỏi tự luận cho học sinh nhiều tự do trả lời. Ví dụ 1: a. Thử nêu vài giả thuyết để giải thích tại sao dựng nước phải đi đôi với giữ nước, phát triển kinh tế phải kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh. Cho biết lí do tại sao anh ( hay chị) nêu các giả thuyết ấy. b. Bằng phương pháp suy luận, anh ( hay chị) hãy lựa chọn trong số các giả thuyết đã đề nghị xem giả thuyết nào giải thích mối quan hệ kết hợp đúng nhất. Trong ví dụ trên, học sinh phải lập nên các giả thuyết để giải thích tại sao dựng nước phải đi đôi với giữ nước, phát triển kinh tế phải kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh phải biện minh cho các giả thuyết, đề nghị phương pháp kiểm chứng, chọn lựa giả thuyết hay nhất, và cho biết lí do lựa chọn. Như vậy, lúc chấm bài, giáo viên biết được câu trả lời phải gồm những phần gì một cách rõ ràng hơn, và việc phán đoán để cho điểm cũng dễ dàng hơn. Tùy theo mục tiêu của mỗi chương trình hay môn học, và tùy theo mỗi trường hợp riêng biệt, trắc nghiệm loại tự luận hay trắc nghiệm loại khách quan sẽ được chọn lựa sau khi cân nhắc ưu khuyết điểm trong từng trường hợp. 1. Ưu điểm của loại câu hỏi tự luận hay luận đề Dựa trên ý kiến của những nhà soạn câu hỏi trắc nghiệm, loại câu hỏi tự luận có những ưu điểm sau: a. Có thể dùng để kiểm tra, đánh giá: + Khả năng sắp đặt hay phác họa + Khả năng thẩm định + Khả năng lựa chọn các ý tưởng quan trọng và tìm mối quan hệ giữa các ý tưởng ấy + Khả năng sáng tạo Loại câu hỏi luận có thể dùng kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những ý niệm, sở thích và tài diễn đạt tư tưởng. b. So với loại trắc nghiệm khách quan, loại câu hỏi tự luận dễ soạn hơn. Tuy nhiên, một câu hỏi tự luận rõ ràng, nhằm đo mục tiêu trí lực ở mức độ cao cũng đòi hỏi nhiều công phu và thời gian soạn thảo. c. Các câu hỏi tự luận có thể dùng để trắc nghiệm thái độ. Thái độ ở đây được định hướng như khuynh hướng của học sinh hành động theo một cách nào đó trong một trường hợp cụ thể. Như vậy, thái độ phản ánh tính chất của một người khi được tự do viết, học sinh có thể có thể cho biết họ đồng ý, phản đối hay không cần quan tâm đến một vấn đề, một ý tưởng, một nhóm người, hay một tổ chức trong xã hội. Ví dụ: Anh ( hay chị) hãy viết một bài khoảng 600 từ nói về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.. Câu hỏi này chẳng những đòi hỏi học sinh sắp đặt ý tưởng còn cho họ một dịp để trình bày về chủ nghĩa yêu nước, về lòng dũng cảm và lòng tự tôn dân tộc. d. Loại câu hỏi tự luận khuyến khích cho học sinh có thói quen tập suy diễn, tổng quát hóa, tìm mối tương quan giữa các sự kiện khi học bài hay soạn bài. Học sinh cũng tập làm dàn bài hay tóm lược bài học. Tuy nhiên, các thói quen này cũng có thể đạt được với loại trắc nghiệm khách quan nếu giáo viên biết đặt câu hỏi để đo lường những khả năng tư duy thuộc những mức trí lực cao. e. Loại trắc nghiệm tự luận khuyến khich sự phát huy óc sáng kiến. Khi học sinh tự mình sáng tạo, giải quyết vấn đề theo đường hướng mới, hoặc tự do sắp đặt ý tưởng, óc sáng kiến có cơ hội phát triển nhiều hơn khi chỉ chọn lựa những câu trả lời cho sẵn. f. Loại câu hỏi tự luận còn tạo cơ hội cho học sinh luyện tập kỹ năng viết. học sinh có dịp trao dồi lời văn, phương pháp chấm câu, sắp đặt ý tưởng để có thể diễn đạt tư tưởng một cách hữu hiệu hơn. 2. Hạn chế của loại câu tự luận - Độ tin cậy thấp. Độ tin cậy của một bài trắc nghiệm thấp khi số câu hỏi ít và việc chọn mẫu câu hỏi thiếu tính chất tiêu biểu. Do đó, trong cùng khoảng thời gian để kiểm tra, hay thi như nhau thì một bài trắc nghiệm tự luận có độ tin cậy thấp hơn một bài thi trắc nghiệm khách quan. Thêm vào đó tính chất chủ quan khi cho điểm, cũng như thời gian đòi hỏi khi chấm bài khiến độ tin cậy giảm. Giá trị làm bài của mỗi học sinh cũng chịu ảnh hưởng của các bài thi giám khảo vừa đọc trước đó ( quá hay hoặc quá dở), và tùy thuộc vào tâm trạng cùng sức khỏe của giám khảo khi chấm bài. Chúng ta sẽ bàn đến những kĩ thuật cho điểm để làm tăng độ tin cậy của bài kiểm tra hay bài thi loại tự luận trong phần sau. - Đo giá trị thấp. Một bài trắc nghiệm có giá trị nhiều hay ít tùy thuộc theo bài ấy đo được đúng những điều chúng ta muốn kiểm tra đánh giá hay không. Với loại câu hỏi tự luận, yếu tố làm giảm độ giá trị của bài trắc nghiệm nhiều nhất là tính chủ quan lúc chấm bài. Ví dụ: học sinh có thái độ đối với giáo viên như thế nào, chữ viết, lời văn hay dở cũng ảnh hưởng đến điểm của bài kiểm tra, bài thi của học sinh ấy. Điểm của bài kiển tra trắc nghiệm khách quan không bị những yếu tố này chi phối. Chúng ta có thể thử chấm một tập bài trong hai lần cách nhau chừng hai tháng, hoặc nhờ một số giáo viên chấm lại tập bài, nhưng điểm số mỗi lần chấm trên một tờ giấy riêng, chúng ta sẽ thấy yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến điểm số như thế nào. Do vậy, chúng ta cần nắm một số quy tắc căn bản để làm giảm bớt khuyết điểm của các câu hỏi loại tự luận. II. Phương pháp soạn câu hỏi tự luận hay luận đề 1. Trước khi bắt đầu viết câu hỏi phải định trước loại khả năng hay mức lực cần thẩm định.Nếu loại mục tiêu nhằm đến có thể đo được nhờ trắc nghiệm khách quan thì nên dùng trắc nghiệm khách quan để có độ giá trị và độ tin cậy cao hơn. Nên dùng câu hỏi tự luận để trắc nghiệm khả năng của học sinh áp dụng những điều đã học để giải quyết vấn đề mới, hay lập những hệ thức chưa trình bày trong lớp, hoặc khả năng viết văn, diễn đạt ý tưởng. 2. Nên báo cho học sinh biết trước loại câu hỏi nào sẽ được dùng. Học sinh sẽ học bài, ôn bài, hay soạn bài một cách thích ứng tùy theo loại câu hỏi sẽ dùng trắc nghiệm. 3. Nên định trước các mục tiêu và nội dung sẽ bao gồm trong bài kiểm tra, bài thi. học sinh cần biết trước bài kiểm tra, bài thi sẽ gồm những câu hỏi về bài giảng, sách giáo khoa, bài học thêm, bài thuyết trình, hay các bài thực hành trong phòng thí nghiệm. 4. Nên nhằm đến việc kiểm tra, đánh giá các mục tiêu quan trọng ở mức trí lực cao. Nên dùng các từ " so sánh” " liên quan” " cho biết lí do” " trình bày các lí lẽ ủng hộ hay chống lại” " cho một ví dụ mới về...” " giải thích tại sao” " làm thế nào” để học sinh lựa chọn, sắp đặt và áp dụng những điều đã học, hơn là đòi hỏi những điều vụn vặt chỉ cần tí nhớ. Không nên dùng các từ " người nào” " cái gì” "kể” " kê khai”. Các điều cần đến trí nhớ có thể kiểm tra, đánh giá hữu hiệu bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan. 5. Không nên nhầm lẫn một bài trắc nghiệm để kiểm tra, đánh giá khả năng viết văn với một bài để thẩm định các mục tiêu khác trong các môn khác. 6. Không nên dùng các từ " Anh ( chị) nghĩ gì " theo ý kiến của anh (chị)...” " anh (chị) biết gì về...”để kiểm tra, đánh giá thành quả học tập của học sinh hay đánh giá khả năng lí luận của học sinh như thế nào. Trong trường hợp này, điểm của bài thi sẽ không căn cứ trên lập trường của học sinh mà chỉ tùy thuộc khả năng biện minh và chống đỡ cho lập trường của mình. 7. Mỗi học sinh phải làm một số câu hỏi giống nhau. Việc để học sinh chọn năm, sáu câu hỏi đã cho chẳng hạn sẽ gây khó khăn khi chúng ta cần so sánh khả năng các học sinh trong cùng một lớp hay cùng nhóm, cùng học một chương trình như nhau. 8. Các câu hỏi loại tự luận phải rõ ràng và phải giới hạn các điểm cần trình bày trong câu trả lời. Một câu hỏi quá tổng quát hay cần câu trả lời quá dài nên được phân chia thành nhiều câu hỏi ngắn. 9. Nên tăng số câu hỏi. Số câu hỏi của mỗi bài thi có thể tăng lên bằng cách giảm chiều dài của phần trả lời. Số câu hỏi nhiều hơn sẽ làm tăng độ tin cậy của bài trắc nghiệm. 10. Phải trù liệu cho học sinh có đủ thời giờ trả lời tất cả các câu hỏi. Một bài thi loại tự luận không phải là một bài thi tốc độ viết nhanh. học sinh phải có thời giờ tìm hiểu, suy nghĩ về câu hỏi và viết câu trả lời. Ngoại trừ các bài trắc nghiệm khả năng đọc hiểu, hay khả năng đọc nhanh, phải dành đủ thời gian cho học sinh trả lời tất cả các câu hỏi trong bài thi hay bài kiểm tra khác. 11. Các lời chỉ dẫn phương cách làm bài phải rõ ràng. Lời chỉ dẫn càng đơn giản càng tốt, giáo viên phải nhắc học sinh đọc kỹ trước khi làm bài. 12. Không nên dùng cả trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan trong cùng một bài kiểm tra hay bài thi khi thời gian làm bài có hạn. Việc dùng cả hai loại câu hỏi sẽ khiến học sinh không đủ thời gian trả lời, và việc ghép điểm của hai phần cũng rất khó khăn. Nên viết câu hỏi để đánh giá khả năng học sinh ở các mức trí lực khác nhau (biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, thẩm định). III. Phương pháp chấm điểm loại câu tự luận Để giảm bớt tính chủ quan và sai lệch trong khi chấm bài câu hỏi loại tự luận cần lưu ý: 1. Ấn định trước các yếu tố cần được kiểm tra, đánh giá. Giáo viên phải ấn định trước sẽ chấm bài theo cấu trúc tổng quát, toàn diện hay phân tích từng yếu tố. Phương pháp chấm bài dựa trên cấu trúc tổng quát, toàn diện hay phân tích từng yếu tố. Phương pháp chấm bài dựa trên cấu trúc tổng quát, toàn diện thường được áp dụng để đánh giá các bài biên khảo, niên luận, khóa luận hay luận văn tốt nghiệp... Trong phương pháp chấm bài theo lối phân tích, giám khảo sẽ chú ý riêng từng yếu tố như bố cục, lời văn, nội dung... Giám khảo sẽ phân loại các bài trên từng yếu tố theo phương pháp trình bày ở phần trên. Cho điểm trên một yếu tố xong, giám khảo sẽ xáo các bài lại và đánh giá mỗi bài theo yếu tố khác. Điểm cần lưu ý là nếu bài kiểm tra, hay bài thi có đích đánh giá sự hiểu biết, kiến thức về các sự kiện, hay khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp phán đoán, chúng ta đừng để các yếu tố như cách chấm câu, lỗi chính tả... ảnh hưởng hay che lấp các điều đang được khẳng định. 2. Đánh giá câu trả lời tương ứng với mỗi câu hỏi trên tất cả các bài làm trước khi chấm sang câu trả lời khác. Khi chỉ xét một câu hỏi mỗi lúc chúng ta sẽ cho điểm các bài làm theo một tiêu chuẩn đều tay hơn. Chúng ta sẽ có dịp so sánh câu trả lời của học sinh này với câu trả lời của học sinh khác trên cùng một vấn đề. Đồng thời, với mỗi học sinh, chúng ta tránh để giá trị của câu trả lời trước (quá hay hoặc quá kém) ảnh hưởng đến sự đánh giá câu trả lời sau. 3. Nên soạn trước câu trả lời mẫu, nêu rõ những điểm nào cần được trình bày và định trước số điểm cho mỗi yếu tố. Câu trả lời mẫu được dùng làm chuẩn để đánh giá các câu trả lời của học sinh, nhưng có thể được thay đổi ít nhiều sau khi đọc một số bài làm. 4. Cho học sinh biết trước điểm của mỗi câu hỏi. Sự phân biệt tầm quan trọng tương đối của mỗi câu hỏi thực ra không giúp ích gì nhiều cho học sinh. Tuy nhiên, các yếu tố có thể được xét đến khi phân chia cho mỗi câu làm: thời gian để trả lời, mức kiến thức hay khả năng cần vận dụng, tầm mức quan trọng của mỗi mục tiêu hay nội dung đề cập trong câu hỏi lại giúp học sinh có sự lựa chọn trả lời tốt nhất. 5. Tăng độ tin cậy của bài trắc nghiệm bằng cách để nhiều giám khảo chấm cùng một tập bài kiểm tra hay bài thi. Điều này có vẻ lý tưởng nhưng không thực tế. Tuy nhiên, trong các kì thi để có các quyết định quan trọng như tuyển sinh, thi tốt nghiệp, nhà trường phải chú ý đến các tích chất căn bản của phương pháp trắc nghiệm như độ tin cậy, sai số chuẩn. 6. Nên tránh đừng có dấu hiệu gì trên bài thi có thể giúp nhận biết học sinh. Chúng ta không nên thiên kiến về một học sinh ảnh hưởng đến điểm số của bài kiểm tra hay bài thi. Điều này khác với khi nhận xét, đánh giá một học sinh, chúng ta cần phải lưu ý đến thành quả đạt được hiện tại lẫn mức cố gắng và khả năng của học sinh ấy. 7. Tránh chấm bài quá hẹp hòi hoặc quá rộng rãi. Khi một giáo viên dự cảm thấy mình thường cho điểm quá hẹp hay quá rộng so với các bạn đồng nghiệp khác, giáo viên ấy nên đọc lại các sách căn bản nói về phương pháp kiểm tra, đánh giá trong giáo dục, cũng như xem xét động cơ đưa đến thói quen ấy.
- Xem thêm -